BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUY
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NHÓM NGÀNH CÔNG NGHIỆP,
GIAI ĐOẠN 2010-2016
Mã số đề tài:
TP HCM, THÁNG 4 NĂM 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NHÓM NGÀNH CÔNG NGHIỆP,
GIAI ĐOẠN 2010-2016
Mã số đề tài:
Chủ nhiệm đề tài: Đàm Thị Hồng Vân Khoa: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN Các thành viên: Đặng Quốc Huy, Nguyễn Diệp Nhi, Bùi Thị Ngọc Trinh
Người hướng dẫn: Th.S Trần Tuyết Thanh
TP HCM, THÁNG 4 NĂM 2018
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU Error! Bookmark not defined.
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
II MỤC TIÊU CỦA BÀI NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
V KẾT CẤU CỦA BÀI NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Error! Bookmark not defined.
1.1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI Error!
Bookmark not defined
1.2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở TRONG NƯỚC Error!
Bookmark not defined
Error! Bookmark not defined
1.4 BẢNG TÓM TẮT CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY Error!
Bookmark not defined
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Error! Bookmark not defined 2.1 LÝ THUYẾT ĐẠI DIỆN (LÝ THUYẾT ỦY NHIỆM) CỦA JENSEN
AND MECKLING Error! Bookmark not defined
2.2 LÝ THUYẾT VỀ CÔNG BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN Error!
Bookmark not defined
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Error! Bookmark not defined
3.1 Mô hình nghiên cứu Error! Bookmark not defined
a Giới thiệu mô hình Error! Bookmark not defined
b Mô hình nghiên cứu: Error! Bookmark not defined
c Kích thước mẫu Error! Bookmark not defined
Trang 43.2 Trình tự thực hiện: Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 4.1 Phạm vi mẫu Error! Bookmark not defined
4.2 Kết quả hồi quy cho nhóm doanh nghiệp quy mô lớn trung bình trong các
năm 2010 đến 2015 Error! Bookmark not defined 4.3 Đánh giá kết quả hồi quy qua các năm Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN Error! Bookmark not defined 5.1 Tóm tắt một số nghiên cứu trước đây Error! Bookmark not defined
5.2 Lý do nghiên cứu phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5.3 Tóm tắt nhận định về những kết quả nghiên cứu nhóm: Error! Bookmark
not defined
5.4 Hạn chế của đề tài Error! Bookmark not defined
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
1 Bảng 1.1: Bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây 12
3 Bảng 4.2: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp nhỏ
5 Bảng 4.4: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp lớn
hơn mức trung bình năm 2010
24
6 Bảng 4.5: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp lớn
hơn mức trung bình năm 2011
25
7 Bảng 4.6: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp lớn
hơn mức trung bình năm 2012
26
8 Bảng 4.7: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp lớn
hơn mức trung bình năm 2013
27
9 Bảng 4.8: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp lớn
hơn mức trung bình năm 2014
28
10 Bảng 4.9: Kết quả hồi quy của nhóm quy mô doanh nghiệp lớn
hơn mức trung bình năm 2015
28
Trang 6BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
Tên đề tài: Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam nhóm ngành công nghiệp, giai đoạn 2010-2016
Sinh viên thực hiện Khoa Lớp Năm
thứ
Số năm đào tạo
Bùi Thị Ngọc Trinh Kế toán – Kiểm toán DH15KT01 3 4
- Người hướng dẫn: Th.S Trần Tuyết Thanh
Trang 7thông tin tự nguyện, đây chính là một điểm mới và sáng tạo trong nghiên cứu của
nhóm
4 Kết quả nghiên cứu:
Kết quả là tỉ lệ sở hữu của cổ đông lớn và tỉ lệ sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài có mối quan hệ cùng chiều với mức độ công bố thông tin tự nguyện, còn biến quy mô doanh nghiệp và biến ROA có mối quan hệ ngược chiều
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Tạo bộ số liệu về số lượng thành viên hội đồng quản trị, quy mô doanh nghiệp,
tỉ lệ sở hữu của cổ đông lớn, tỉ lệ sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài, ROA, tỉ lệ nợ/ tổng tài sản
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp
chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Ngày tháng năm
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực
hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Sinh viên đã thu thập số liệu trên sàn chứng khoán TPHCM và Hà Nội của các công ty niêm yết thuộc nhóm ngành công nghiệp, giai đoạn 2010 – 2016
Số liệu thu thập phục vụ cho những nghiên cứu có liên quan
Đánh giá được mối quan hệ giữa các nhân tố trong mô hình nghiên cứu
Trang 9
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
Sinh ngày: 10 tháng 10 năm 1997
Nơi sinh: Tuy Hòa- Phú Yên
Lớp: DH15KT04 Khóa: 2015
Khoa: Kế toán- Kiểm toán
Địa chỉ liên hệ: 155/20/32 Nguyễn Thái Sơn, phường 4, quận Gò Vấp
Điện thoại: 0966088790 Email: damthihongvan790@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP:
* Năm thứ 1:
Ngành học: Kế toán Khoa: Kế toán- Kiểm toán
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích:
* Năm thứ 2:
Ngành học: Kế toán Khoa: Kế toán- Kiểm toán
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Trang 101
PHẦN MỞ ĐẦU
Trong thời đại công nghiệp phát triển như hiện nay, nhu cầu tìm hiểu và phát triển tư duy của con người lại được nâng tầm lên một bậc, việc khám phá và tìm tòi ra những điều mới mẻ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội là rất cấp thiết cho cuộc sống, vì vậy nghiên cứu khoa học ra đời Trong thị trường chứng khoán, thông tin
là yếu tố nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của nhà đầu tư Do vậy, công bố thông tin là trách nhiệm và cũng là nghĩa vụ rất quan trọng đối với các tổ chức khi tham gia thị trường, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng của hoạt động tài
chính, góp phần vào sự phát triển lành mạnh của Thị trường chứng khoán
Yêu cầu của các nhà đầu tư đối với việc công bố thông tin đang ngày càng cao, không chỉ ở việc công bố các thông tin cưỡng chế, mà còn cả việc công bố các thông tin tự nguyện Đối với nhà đầu tư vốn, những hiểu biết về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty thật sự quan trọng và là yếu tố quyết định của việc đầu tư Thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn quan trọng, để đạt được điều kiện tham gia thị trường vốn này, các công ty phải đạt được nhiều điều kiện khắt khe Trong đó, công bố thông tin là điều kiện bắt buộc tuân thủ các quy định về công bố thông tin đến
Ủy ban chứng khoán Nhà nước, các nhà đầu tư, cổ đông và các bên có liên quan khác Trong hoàn cảnh đó, để tạo điều kiện thúc đẩy công khai minh bạch thông tin nhằm tạo niềm tin với các nhà đầu tư, từ năm 2007 cơ quan Bộ tài chính đã ban hành các Thông tư hướng dẫn việc công bố thông tin: Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18/4/2007; Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15/1/2010 của Bộ Tài chính; Thông tư
số 52/2012/TT-BTC ngày 05/4/2012 của Bộ Tài chính; Thông tư số 155/2015/TT–BTC của Bộ tài chính ngày 06/10/2015 hướng dẫn việc công bố thông tin trên thị
trường chứng khoán có hiệu lực từ ngày 01/01/2016
Các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết đã được thực hiện nhiều bởi các tác giả ở nước ngoài lẫn trong nước Đối với nghiên cứu ở nước ngoài thì có các nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995), nghiên cứu của Chau và Gray (2002) cho thấy có kết quả khác biệt khi nghiên
Trang 112
cứu về công bố thông tin ở các nhóm ngành khác nhau Hay nghiên cứu của Barako và
cộng sự (2006) tìm thấy mối quan hệ giữa nhân tố Hội đồng quản trị và mức độ công
bố thông tin cũng như của Jensen (1993), Pichard-Stamford (1998), Chen và Jaggi (2000), Birnbaum (1984), còn nói về mối quan hệ của tỉ lệ thành viên độc lập không điều hành trong Hội Đồng quản trị thì có các nghiên cứu của Chen và Jaggi (2000), Haniffa và Cooke (2002), Kosnik (1990), Klein (1998), Goodstein, Guatam và Boeker (1994), Leftwich, Watts và Zimmerman (1981), hay nói về mối quan hệ của tỉ lệ sở
hữu của cổ đông nước ngoài thì có nghiên cứu của Fathi (2013) và một số tác giả khác
Tại Việt nam, có nghiên cứu của Ngô Thị Thanh Hòa (2012), của Tạ Quang Bình( 2012), Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) hay của Nguyễn Thị Hồng Em (2015) về công bố thông tin ở các công ty niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán, một số nghiên cứu sâu hơn về hoàn thiện việc công bố thông tin, chủ yếu ở các công ty phi tài chính, ngân hàng thương mại… Các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện có thể có ảnh hưởng khác nhau Từ đó, việc nhìn nhận về các giải pháp nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính
Tuy nhiên các nghiên cứu trước đó có phạm vi khảo sát tất cả các doanh nghiệp niêm yết của mọi ngành nghề trong thời gian khảo sát là một niên độ kế toán Nhóm nghiên cứu có mong muốn là chỉ tìm hiểu trong một nhóm ngành cụ thể và mong muốn tìm hiểu xem các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin của nhóm ngành này có thay đổi qua nhiều năm hay không Với mong muốn đó, nhóm nghiên cứu lựa
chọn đề tài: “ĐÁNH GIÁ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG
BỐ THÔNG TIN TỰ NGUYỆN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM NHÓM NGÀNH CÔNG NGHIỆP, GIAI
ĐOẠN 2010 - 2016”
Việc công bố thông tin theo quy định của Nhà nước nhằm công khai các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cổ đông Công ty cổ phần, đồng thời thực hiện nghĩa vụ báo cáo thông tin theo quy định của pháp luật về chứng khoán đối với các tổ chức niêm yết Hiện tại chưa có một chỉ số
Trang 123
nào để đo lường và đánh giá mức độ minh bạch ngân hàng cũng như tìm hiều về các yếu tố tác động lên mức độ công bố thông tin
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài:
- Tìm hiểu tổng quan về các đề tài nghiên cứu trước đây ở nước ngoài và trong nước
- Tổng hợp các cơ sở lý thuyết có liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phân tích số liệu sau khi chạy hồi quy mô hình
o Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin
o Đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin qua từng năm bằng nghiên cứu thực nghiệm tại thị trường chứng khoán Việt Nam, nhóm ngành Công nghiệp giai đoạn 2010 – 2016
III ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin thông qua các nghiên cứu trước đây ở nước ngoài và trong nước
Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các công ty niêm yết nhóm ngành công nghiệp trong giai đoạn 2010-2016 tại Sở
giao dịch chứng khoán Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
Đề tài sử dụng phương pháp định lượng để thống kê, tổng hợp và phân tích thông tin dựa trên cách thức mà các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước
đã thực hiện
Trang 134
Chương 1: Tổng quan về các nghiên cứu trước đây
Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Chương 3: Mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận
Trang 145
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Trên thế giới thị trường vốn có mặt từ rất sớm nên những nhu cầu về công bố thông tin của các báo tài chính là rất cần thiết Do đó cũng có nhiều những nghiên cứu
về công bố thông tin trên thế giới Điển hình như nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng của Meek và cộng sự (1995) “Factors influencing voluntary annual report disclosures by U.S., U.K and continental european multinational corporation”, được thực hiện ở những quốc gia phát triển và tham chiếu nhiều trong các nghiên cứu liên quan Meek và cộng sự (1995) nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ công
bố thông tin tự nguyện và xây dựng một danh mục công bố thông tin tự nguyện dựa vào các khảo sát ở Mỹ, Anh và một số nước Châu Âu Tác giả thảo luận, so sánh kết quả đạt được và kết quả cho thấy các nhân tố giải thích cho mức độ công bố thông tin
tự nguyện bao gồm 4 nhân tố: quy mô công ty, vùng địa lý, tình trạng niêm yết và loại ngành công nghiệp mà công ty hoạt động Meek và cộng sự (1995) áp dụng mô hình hồi quy đa biến, phân tích 6 nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
ở từng nhóm ngành
Bài nghiên cứu cho thấy tác giả đưa vào bốn ngành công nghiệp: ngành kim loại, vật liệu xây dựng; ngành kỹ thuật; ngành tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ; ngành dầu, hóa chất, khai thác mỏ Kết quả cho thấy đối với khu vực nước Mỹ thì 2 ngành là ngành kim loại, vật liệu xây dựng, xây dựng và ngành dầu, hóa chất, khai thác mỏ có mức công bố thông tin tự nguyện cao hơn 2 ngành còn lại Tuy nhiên đối với nước Anh thì ngành tiêu dùng, dịch vụ có mức độ công bố thông tin tự nguyện cao hơn nhiều so với 2 ngành còn lại Kết quả này chứng tỏ là mức độ công bố thông tin tự nguyện có sự khác nhau giữa các ngành nghề kinh doanh của các công ty
Một nghiên cứu về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu vốn và công bố thông tin tự nguyện tại các nước Châu Á của Chau và Gray (2002) “ Ownership structure and corporate voluntary disclosure in Hong Kong and Singapore” Việc xây dựng chỉ số công bố thông tin tự nguyện của tác giả đã dựa trên danh mục phát triển bởi Meek và cộng sự (1995) và đã bổ sung thêm 1 số khoản mục cho phù hợp để công cty có thể
Trang 156
công bố tình hình hoạt động của công ty cho các nhà đầu tư Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng và mô hình hồi quy nhằm kiểm định mối liên hệ cấu trúc vốn ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Mô hình biến độc lập gồm 6 biến: quy mô công ty; đòn bẩy nợ; số lượng thành viên kiểm toán; cấu trúc sở hữu; lợi nhuận; mức độ đa dạng của ngành nghề kinh doanh Tiến hành trên 60 công ty niêm yết ở Hồng Kông và 62 công ty niêm yết ở Singapore và thấy hiện tượng đa cộng tuyến tính không xảy ra trong mô hình hồi quy với yêu cầu VIF cần nhỏ hơn 10
Kết quả cho thấy cấu trúc sở hữu có yếu tố bên ngoài và quy mô đa dạng thì có ảnh hưởng tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, ngược lại công ty có yếu
tố sở hữu nội bộ và sở hữu gia đình làm giảm chỉ số công bố thông tin tự nguyện Ngoài ra, Chau và Gray (2002) còn đưa vào 4 ngành kinh doanh: thực phẩm và ăn uống; vận chuyển và giao thông vận tải; thiết bị điện tử và công nghệ; vật liệu xây dựng và xây dựng Tuy không xem xét sâu sự tác động của từng ngành nghề đối với mức độ công bố thông tin tự nguyện, nhưng kết quả thì tương tự với nghiên cứu của Meek và công sự (1995) là có sự tác động tác khác nhau giữa các nhành công nghiệp đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Trong nền kinh tế Việt Nam nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, nhu cầu thông tin tài chính càng ngày càng gia tăng nhằm phục vụ cho các quyết định đầu tư, giao dịch trên thị trường vốn Từ nhu cầu đó, những nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện luôn được các nhà đầu tư quan tâm Vì những thông tin bắt cuộc công bố trên Báo cáo tài chính chưa thực sự đáp ứng được hết nhu cầu quan tâm về tình hình hoạt động và phát triển của một doanh nghiệp, cũng như không đem lại đủ niềm tin cho các nhà đầu tư Tuy vậy, các nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện tại Việt Nam chưa thực sự nhiều, dưới đây là một số nghiên cứu liên quan
Tác giả Ngô Thị Thanh Hòa (2012) nghiên cứu về “Các Giải Pháp Nâng Cao
Sự Minh Bạch Thông Tin Tài Chính Của Các Công Ty Cổ Phần Niêm Yết Việt Nam Thông Qua Sự Tự Nguyện Công Bố Thông Tin Trên Bản Thuyết Minh Báo Cáo Tài Chính” Bài nghiên cứu dự trên thông tin báo cáo thuyết minh đã được kiểm toán của
Trang 167
100 công ty niêm yết trên cả hai sàn chứng khoán là Tp.Hồ Chí Minh và Hà Nội trong
2 năm 2010 và 2011 với vốn điều lệ từ 100 tỷ đồng trở lê Được tác giả sử dụng phương pháp định tính để làm các phân tính, thống kê, tổng hợp thông tin và phương pháp định lượng để thiết lập bảng câu hỏi cuối cùng phỏng vấn trực tiếp để đánh giá về
sự tự nguyện công bố thông tin Với phương pháp thống kê mô tả được sử dụng để phân tích cho dữ liệu thứ cấp là 91 đầu mục thông tin thống kê dựa trên Bảng Thuyết Minh từ đó kiểm nghiệm mức độ minh bạch và tự nguyện công bố thông tin của các công ty niêm yết Các kết quả khảo sát cho thấy tồn tại một số đầu mục thông tin được thuyết minh sơ sài và chưa rõ ràng ảnh hưởng đến sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết (các bên liên quan, nguyên tắc ghi nhận cổ tức, báo cáo theo bộ phận, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn và dài hạn, hàng tồn kho, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu, lương thù lao cho lãnh đạo chủ chốt, chi phí sản xuất kinh doanh theo yếu tố và chi phí lãi vay) Mức độ tự nguyện công bố thông tin thông qua bảng câu hỏi phỏng vấn của các công ty niêm yết được đánh giá ở mức độ kém, các công ty niêm yết còn chưa chủ động thuyết minh đầy đủ các thông tin theo yêu cầu dẫn đến làm giảm sự minh bạch thông tin Cuối cùng tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao sự minh bạch thông tin tài chính của các công ty cổ phần niêm yết Việt Nam thông qua sự tự nguyên công bố thông tin trên bản thuyết minh báo cáo tài chính
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu về “Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Mức Độ Công
Bố Thông Tin Tự Nguyện Của Các Công Ty Niêm Yết Trên Thị Trường Chứng KhoánViệt Nam – Nghiên Cứu Ở 3 Nhóm Ngành: Công Nghiệp, Xây Dựng và Tài Chính” của tác giả Nguyễn Thị Hồng Em (2015) thông qua 3 mục tiêu chính Nhận diện các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty để tiến hành áp dụng nghiên cứu thực nghiệm theo phương pháp đo lường biến độc lập Sau đó thực hiện và đánh giá kết quả của mô hình, phân tích so sánh với mô hình kiểm định tương tự và so sánh kết quả với một số nghiên cứu trước đây thông qua phương pháp định lượng và hồi quy bội Cuối cùng dựa vào kết quả có được nhận định vấn đề
ở đâu của mỗi ngành dựa trên môi trường thực tế để đưa ra kiến nghị cần thiết Bài nghiên cứu sử dụng mô hình bao gồm 8 biến độc lập (như quy mô công ty; đòn bẩy nợ; lợi nhuận; tỷ lệ sở hữu cổ đông lớn; tỷ lệ sở hữu của Nhà nước; tỷ lệ sở hữu nhà đầu tư nước ngoài; tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập; tách biệt vai trò chủ tịch hội đồng quản trị và giám đốc) và 1 biến phụ thuộc Mô hình biến phụ thuộc dựa trên
Trang 178
danh mục thông tin theo mô hình công bố tự nguyện của Meek (1995) và phát triển bởi Chau và Gray (2002) đối chiếu loại trừ các mục thông tin bắt buộc theo thông tư số 52/2012/TT-BTC Từ đó xác định được 67 mục công bố tự nguyện và tiến hành khảo sát trên 114 quan sát của ngành công nghiệp, 61 quan sát ngành xây dựng và ngành tài chính là 35 quan sát Công vụ hỗ trợ kiểm định là phần mềm hệ thống SPSS (Statistical Package for the Social Sciences) phiên bản 20
Kết quả của đề tài cho thấy mức độ công bố thông tin tự nguyện ở các ngành có
sự khác biệt Đối với nhóm ngành công nghiệp thì quy mô công ty và tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài có tác động cùng chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện Nhóm ngành xây dựng thì quy mô công ty có tác động cùng chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện còn ngành tài chính chỉ có tỷ lệ nợ phải trả/tổng tài sản ảnh hưởng cùng chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyên Sau cùng tác giả đưa
ra một số kiến nghị về đối tượng công bố thông tin, cơ quan Chính phủ ban hành văn bản pháp luật và các sở giao dịch chứng khoán
1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC ĐỘ CÔNG BỐ THÔNG TIN
a Số lượng thành viên Hội đồng quản trị
Nhân tố hội đồng quản trị được sử dụng nhiều trong các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin Nghiên cứu trước đây của Barako và cộng sự (2006) tìm thấy mối quan hệ giữa nhân tố Hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin
Có 2 quan điểm tồn tại liên quan đến mối quan hệ giữa nhân tố hội đồng quản trị và mức độ công bố thông tin Quan điểm thứ nhất cho rằng quy mô hội đồng quản trị nhỏ thì việc chia sẻ thông tin giữa các thành viên, việc xử lý thông tin sẽ dễ dàng và nhanh chóng hơn: Jensen (1993), Pichard-Stamford (1998),… Tuy nhiên, quan điểm thứ hai thì lại cho rằng quy mô hội đồng quản trị lớn hơn, có nền tảng kiến thức rộng hơn để thực hiện nhiệm vụ cố vấn, do đó có thể thực hiện vai trò giám sát, cố vấn tốt hơn, và công bố thông tin nhiều hơn: Chen và Jaggi (2000), Birnbaum (1984),…
Trang 189
b Tỷ lệ thành viên độc lập
Nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra tỷ lệ các thành viên không điều hành trong Hội đồng quản trị có ảnh hưởng tới mức độ công bố thông tin như nghiên cứu của Chen và Jaggi (2000), Haniffa và Cooke (2002), Kosnik (1990), Klein (1998), Goodstein, Guatam và Boeker (1994), Leftwich, Watts và Zimmerman (1981),…
Các thành viên độc lập được nhìn nhận như một công cụ để theo dõi hành vi quản lý (Rosenstein và Wyatt 1990), kết quả là công bố thông tin tự nguyện nhiều hơn
Cả Lefwich và các cộng sự (1981) và Fama và Jensen (1983) lập luận rằng tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị càng lớn thì việc giám sát theo chủ nghĩa cơ hội quản lý sẽ càng hiệu quả và các công ty có thể sẽ tiết lộ thông tin tự nguyện nhiều hơn Forker (1992) phát hiện ra rằng tỷ lệ thành viên độc lập càng cao trong hội đồng quản trị đã nâng cao chất lượng công bô thông tin tài chính và làm giảm lợi ích của việc giữ lại thông tin
Theo các nghiên cứu của Byrd và Hickman (1992), giá cổ phiếu có phản ứng tích cực với các sự kiện quan trọng khi có sự ghi nhận về sự chi phối của các thành viên không điều hành trong Hội đồng quản trị Theo đó, tỷ lệ thành viên không điều hành có thể cải thiện được xung đột giữa người ủy nhiệm và người được ủy nhiệm, và điều này được thực hiện bằng cách công bố thêm các thông tin tự nguyện trên báo cáo thường niên
Việc bố trí thành viên hội đồng quản trị độc lập là một thông lệ tốt trên thế giới Trong tiến trình hội nhập, Việt Nam cũng quy định về tỷ lệ thành viên hội đồng quản trị độc lập Theo Bộ Tài chính, đối với công ty đại chúng và công ty niêm yết thì hội đồng quản trị phải có ít nhất một phần ba là thành viên hội đồng quản trị độc lập và thành viên hội đồng quản trị không điều hành
c Tỷ lệ sở hữu của cổ đông lớn
Cổ đông lớn theo quy định hiện hành ở Việt Nam là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành Tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn cho thấy mức độ tập trung vốn của các cổ đông Thông tin của cổ đông lớn bắt buộc công bố trên báo cáo thường niên Theo nghiên cứu của Fathi
Trang 1910
(2013) thì tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn chiếm tỷ trọng càng cao thì mức độ công
bố thông tin tự nguyện càng thấp
d Tỷ lệ sở hữu của Nhà đầu tư nước ngoài
Nhiều nghiên cứu cho thấy ảnh hưởng của các công ty sở hữu bởi các cổ đông nước ngoài đến công bố thông tin tự nguyện như: DeAngelo (1981), Xiao và các cộng
sự (2004), Hossain và cộng sự (1994)
Các cổ đông nước ngoài có xu hướng giám sát chặt chẽ hơn, một phần qua các thông tin được công bố trên báo cáo hàng năm Các thông tin ngoài yêu cầu bắt buộc giúp họ hiểu rõ hơn, rút ngắn khoảng cách về mặt địa lý Sở hữu nước ngoài cũng giúp làm đa dạng sở hữu, sự mở rộng trong sở hữu công ty là một nhân tố tác động tích cực đến công bố thông tin tự nguyện trong kết quả nghiên cứu của Chau và Gray (2002) khi nghiên cứu về cấu trúc sở hữu và công bố thông tin tự nguyện Nghiên cứu của Meek (1995) cũng cho thấy tình trạng công ty niêm yết quốc tế ảnh hưởng tốt đến công bố thông tin tự nguyện do yêu cầu của người sở hữu
e Quy mô công ty
Nhiều nghiên cứu cho thấy quy mô công ty có tác động cùng chiều với mức độ công bố thông tin tự nguyện Theo lý thuyết ủy nhiệm, việc tách biệt vai trò người sở hữu và người trực tiếp quản lý sẽ dẫn đến một số loại chi phí, gọi là chi phí ủy nhiệm bao gồm chi phí giám sát, chi phí liên kết và chi phí khác (Jensen và Meckling, 1976) Người sở hữu muốn giảm các chi phi ủy nhiệm thì cần nhà quản lý công bố thông tin nhiều hơn, các công ty càng lớn thì thông tin càng nhiều và yêu cầu thông tin từ người
sở hữu cũng cao hơn Các công ty lớn thì thường phức tạp hơn và có quy mô sở hữu lớn nên có nhiều thông tin cần phải công bố Nghiên cứu này cũng phù hợp với nghiên cứu của Fathi (2013) tại Tunisian cũng có thấy ảnh hưởng cùng chiều của quy mô công ty và mức độ công bố thông tin tự nguyện Thông thường, quy mô công ty dược
đo lường bởi tổng tài sản Trong nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995), tác giả đo lường quy mô công ty bằng tổng doanh thu, bởi vì thực hiện nghiên cứu tại nhiều nước nên việc quy đổi tổng tài sản sẽ bị ảnh hưởng nhiều do liên quan đến nhiều khoản mục trong tài sản Trong đề tài, tác giả sử dụng tổng tài sản để đo lường quy mô công ty, điều này phù hợp vì có thể so sánh
Trang 20Các nghiên cứu cho thấy sự nghịch biến giữa tỷ số nợ và mức độ công bố thông tin tự nguyện như: Myers (1977), Bradbury (1992)
Nghiên cứu của Hossain (1995) nghiên cứu về công bố thông tin tự nguyện của các công ty tại New Zealand trong môi trường đang thu hút vốn đầu tư, đòn bẩy nợ có mức ảnh hưởng đáng kể đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
Tại Việt Nam cũng có các nghiên cứu mà cụ thể là nghiên cứu của Huỳnh Thị Vân (2013) cũng cho thấy đòn bẩy nợ tác động đồng biến với mức độ công bố thông tin
g Tỷ lệ lợi nhuận/Tổng tài sản (ROA)
Nghiên cứu của Meek và cộng sự (1995) không cho thấy ảnh hưởng của lợi nhuận (Lợi nhuận sau thuế/Doanh thu) đến công bố thông tin tự nguyện tại Anh, Mỹ
và một số nước Châu Âu
Tại Việt Nam, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Hảo (2014) cũng cho thấy không có mối liên hệ giữa lợi nhuận và công bố thông tin tự nguyện được khảo sát tại các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Các công ty có lợi nhuận thì thường công bố nhiều thông tin để tăng thu hút các nhà đầu tư bên ngoài Dựa trên lý thuyết ủy nhiệm, đạt được lợi nhuận thì người đầu tiên được nhắc đến là người quản lý, do đó khi lợi nhuận càng cao họ càng muốn công bố thông tin để người sở hữu tin tưởng, đầu tư vốn và cũng là cách để nhà quản lý nâng cao giá trị bản thân trên thị trường lao động
h Chủ tịch Hội đồng quản trị không phải là Giám Đốc/Tổng Giám Đốc
Trang 2112
Một vài nghiên cứu như của Fathi (2013), cho rằng việc chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc sẽ có tác động tiêu cực đến mức độ công bố thông tin Người nắm giữ cả hai vai trò sẽ có xu hướng giữ lại thông tin bất lợi mà không công bố ra bên ngoài Nghiên cứu khác của Forker (1992) khẳng định rằng một cá nhân kiêm nhiệm hai vai trò này đặt ra một mối đe dọa đối với việc giám sát chất lượng và gây giảm chất lượng thông tin công bố
Dựa theo lý thuyết ủy nhiệm, luôn có mâu thuẫn giữa người sở hữu và người điều hành Trong khi chủ tịch hội đồng quản trị đại diện cho người sở hữu, giám đốc điều hành đại diện cho người điều hành Do đó, việc tách biệt vai trò cho hai cá nhân
là thật sự cần thiết cho hoạt động kinh doanh Việc tạo một môi trường lành mạnh, thực thi kiểm soát đúng đắn sẽ giúp tăng tính minh bạch cho công bố thông tin Dù ở Việt Nam không có Luật quy định tách biệt hai vai trò, nhưng việc tách biệt hai vai trò này sẽ tạo ra một cơ chế rõ ràng hơn
Mối tương quan của của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin của các nghiên cứu trước đây được tóm tắt trong Bảng 1:
Bảng 1.1: Bảng tóm tắt kết quả nghiên cứu trước đây
Tên biến độc lập Tác giả
Mối tương quan
Số lượng thành viên Hội đồng
Trang 22Lang & Lundholm, 1993
McKinnon & Dalimunthe, 1993
Bradbury, 1992
Watt, 1977
Jensen & Meckling, 1976
Craswell & Taylor, 1992
Trang 2314
Chow & Wong-Boren, 1987
Hossain, Tan & Adams, 1994
Bradbury, 1992
(+)
(+)
(-)
Nguyễn Thị Thu Hảo, 2014
Trang 2415
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
JENSEN AND MECKLING
Lý thuyết đại diện ra đời vào đầu những năm 1970 khi các nhà kinh tế nghiên cứu việc phân chia rủi ro giữa người ủy quyền và người đại diện do họ có mục tiêu và
sự phân công lao động khác nhau
Lý thuyết đại diện được phát triển bởi Jensen và Meckling (1976) Khi các công
ty có xu hướng mở rộng quy mô, lĩnh vực kinh doanh Nhưng khi đó, kiến thức, kinh nghiệm của người ủy quyền sẽ trở nên hạn chế, không đủ khả năng quản lý công ty mà
họ có xu hướng giám sát, kiểm tra kết quả đạt được, từ đó xuất hiện nhu cầu thuê người quản lý (người đại diện) Và đó cũng là lý do mà Lý thuyết đại diện được quan tâm ngày càng nhiều Lý thuyết đại diện tập trung vào trả lời những câu hỏi sao đây: Làm thế nào để xây dựng một hệ thống động viên và theo dõi khiến người đại diện có thể ứng xử với mục tiêu tối đa hóa lợi ích của người ủy quyền? Làm thế nào để giảm chi phí người đại diện trong điều kiện thông tin bất cân xứng bằng những cơ chế thị trường?
Lý thuyết đại diện (lý thuyết ủy nhiệm – agency theory) được áp dụng vào các công ty phát triển về quy mô, khi mà người người sở hữu (người ủy nhiệm – principal) không còn trực tiếp điều hành, mà thay vào đó họ sẽ thuê các nhà quản lý (người được
ủy nhiệm – agency) Người sở hữu là người trực tiếp góp vốn vào công ty và chịu rủi
ro về phần vốn của mình bỏ ra nhưng lại không có quyền quyết định về hoạt động kinh doanh của công ty Còn các nhà quản lý chỉ là những người làm thuê nhưng lại là người có quyền quyết định về các vấn đề hoạt động kinh doanh của công ty Lý thuyết đại diện chỉ ra các vấn đề giúp đảm bảo lợi ích cho người sở hữu mặc dù có sự tách biệt giữa người sở hữu và nhà quản lý
Lý thuyết đại diện nêu ra sự khác nhau về mục tiêu của người sở hữu và nhà quản lý, cả hai bên luôn tìm mọi cách tối đa hóa lợi nhuận của mình Người sở hữu thì luôn quan tâm tới lợi nhuận cao, chia cổ tức nhiều và tăng giá trị của công ty Còn nhà quản lý thì quan tâm đến lợi ích của bản thân trong quá trình ra quyết định, luôn đặt lợi
Trang 2516
ích cá nhân trên cả lợi ích của công ty Người sở hữu thuê nhà quản lý để tăng lợi nhuận, tăng giá trị công ty nên đã đưa ra những mục tiêu cao về lợi nhuận hoạt động kinh doanh, gây áp lực nặng lên nhà quản lý, trong hợp đồng thuê quản lý thường là thuê trong một thời gian ngắn Điều đó đã làm cho nhà quản lý có thể chỉ chú ý đến mục tiêu ngắn hạn mà bỏ qua lợi ích trong dài hạn Từ sự phân chia, tách biệt rủi ro và mục tiêu giữa người sở hữu và nhà quản lý, chủ sỡ hữu sẽ phải phát sinh thêm một số khoản chi phí nhằm ràng buộc người quản lý phải tối đa hóa lợi ích của người sở hữu gọi chung là chi phí ủy nhiệm (như chi phí giám sát, chi phí liên kết, chi phí khác…)
Ngoài ra, người sở hữu luôn yêu cầu cao việc công bố thông tin về tình hình hoạt động để biết nhà quản lý đã sử dụng nguồn vốn của người sở hữu Do đó, để giảm bớt chi phí đại diện, cần tăng cường thêm thông tin qua lại giữa chủ sỡ hữu và nhà quản lý, hay nói cách khác giảm bớt tình trạng thông tin bất cân xứng giữa hai đối tượng (người ủy nhiệm và người đại diện)
- Khái niệm công bố thông tin tự nguyện
Trong thị trường chứng khoán đang phát triển ở Việt Nam, thông tin là yếu tố nhạy cảm, ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định của nhà đầu tư Do vậy, công bố thông tin là trách nhiệm và cũng là nghĩa vụ rất quan trọng đối với các tổ chức khi tham gia thị trường, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và công bằng của hoạt động tài chính, góp phần vào sự phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán Yêu cầu của các nhà đầu tư đối với việc các công ty công bố thông tin đang ngày càng cao và đa dạng, không chỉ ở việc công bố các thông tin bắt buộc, mà còn cả việc công bố các thông tin tự nguyện Những năm gần đây, vấn đề tự nguyện công bố thông tin được quan tâm nhiều hơn Khái niệm công bố thông tin đó là việc ngoài các thông tin bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp
- Vai trò của công bố thông tin tự nguyện
Trong môi trường cạnh tranh kinh doanh toàn cầu, càng tạo áp lực cho các công
ty mở rộng quy mô và phát triển thêm các ngành nghề, các nhà quản lý cần tối đa hóa
Trang 26- Công bố thông tin là một yếu tố rất quan trọng nhằm đảm bảo việc phân
bổ hiệu quả các nguồn lực trong xã hội và làm giảm bớt thông tin bất cân xứng giữa công ty và các bên liên quan của nó
- Dựa trên lý thuyết ủy nhiệm đã nêu ở trên, khi có sự tách biệt vai trò người sở hữu và người quản lý sẽ xuất hiện thông tin bất cân xứng, do cả 2 đều chú trọng đến việc tối đa hóa lợi ích của mình Những người người sở hữu đôi khi sẽ không nắm được thông tin đúng đắn, chính xác về tình hình công ty như người quản lý trực tiếp điều hành Do đó, khi công bố thông tin tự nguyện thì đó phải là các thông tin thật sự hữu ích: được chọn lọc, có mục đích hướng đến sự đánh giá, nhận định về tình hình hoạt động trong hiện tại và hướng phát triển của công ty trong tương lai Từ đó, tạo niềm tin với người sở hữu, nhà đầu tư cũng như các bên liên quan khác, thu hút vốn đầu tư
Trang 2718
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mô hình nghiên cứu
a Giới thiệu mô hình
Theo Nguyễn Chí Đức và Hoàng Trọng (2012), tự nguyện công bố thông tin là một khái niệm khá trừu tượng, đó là việc ngoài các thông tin cưỡng chế bắt buộc phải công bố theo quy định, thì người quản lý phải chủ động trong việc công bố rộng rãi các thông tin liên quan đến tình hình tài chính, các thông tin chiến lược cũng như các thông tin phi tài chính của doanh nghiệp Do đó, không có sự đồng nhất cho việc đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện của công ty Từ đó, có các mô hình đo lường khác nhau Vì thế, với các phương pháp khác nhau có thể kết quả là khác nhau
Một phương pháp thường được sử dụng đó là phương pháp theo dạng danh mục Và Meek (1995) là một tác giả xây dựng danh sách hạng mục đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện, thông tin công bố tự nguyện bao gồm 85 mục chia thành
3 loại thông tin: thông tin chiến lược, thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Theo Meek và cộng sự (1995) chỉ số công bố thông tin tự nguyện được tính bằng cách cộng vào và không có trọng số Việc đo lường công bố thông tin tự nguyện không có trọng số được tác giả lựa chọn với một số lí do như sau, đầu tiên là vì người xây dựng
và công bố các chỉ số sẽ không biết được người sử dụng sẽ quan tâm đến những thông tin nào, thứ hai, vì đây là những thông tin công bố tự nguyện nên mức độ quan tâm sẽ
là như nhau, và nếu xác định những thông tin tự nguyện có một mục nào đó là quan trọng các mục khác là ít quan trọng như vậy các công ty sẽ có cách tăng chỉ số để như nhau nên việc đo lường mức độ công bố thông tin tự nguyện không sử dụng trọng số là hợp lí
Chau và Gray (2002) có bổ sung và hoàn thiện hơn một số mục của danh mục thông tin công bố tự nguyện của Meek( 1995) Mô hình này phù hợp để áp dụng tại Việt Nam và mục tiêu nghiên cứu của đề tài, đo lường chỉ số công bố tự nguyện
Trang 2819
Mục tiêu chính của bài nghiên cứu này là để đánh giá mối tương quan giữa các biến với mức độ tiết lộ thông tin tự nguyện của các công ty được thể hiện trong báo cáo tài chính hằng năm của các công ty thuộc nhóm ngành công nghiệp ở Việt Nam
Và chúng tôi đã áp dụng mô hình nghiên cứu tương đồng với các tác giả trước Đó là
mô hình hồi quy đa biến dự đoán ảnh hưởng của các nhân tố đến mức độ công bố thông tin tự nguyện
b Mô hình nghiên cứu:
đầu tư nước ngoài
Tổng tỉ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài
X 5 Tổng tài sản Tổng tài sản trên Bảng cân đối kế toán