1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu quan điểm của người dân về hiện tượng ly hôn (trường hợp điển cứu tại tp hcm) nghiên cứu khoa học

167 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 167
Dung lượng 2,89 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • PHẦN I: MỞ ĐẦU (18)
    • I. DẪN NHẬP (19)
      • 1. Bối cảnh chọn đề tài (19)
      • 2. Lý do chọn đề tài (20)
        • 2.1. Điểm lại thư tịch (21)
        • 2.2. Ý nghĩa lý luận (36)
        • 2.3. Ý nghĩa thực tiễn (37)
      • 3. Mục tiêu nghiên cứu (37)
        • 3.1. Mục tiêu tổng quát (37)
        • 3.2. Mục tiêu cụ thể (37)
      • 4. Cơ sở lý luận (38)
        • 4.1. Những quan điểm về sự biến đổi xã hội (38)
        • 4.2. Giả thuyết nghiên cứu (41)
      • 5. Định nghĩa các khái niệm (41)
      • 6. Mô hình phân tích (44)
      • 7. Phương pháp nghiên cứu (45)
        • 7.1. Đối tượng nghiên cứu (45)
        • 7.2. Khách thể nghiên cứu (45)
        • 7.3. Địa bàn nghiên cứu (45)
        • 7.4. Phạm vi nghiên cứu (45)
        • 7.5. Mẫu nghiên cứu (45)
        • 7.6. Phương pháp chọn mẫu (46)
        • 7.7. Phương pháp thu thập dữ liệu (46)
        • 7.8. Phương pháp xử lý thông tin (47)
  • PHẦN II: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (48)
  • CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU (49)
    • I. Khái quát về địa bàn nghiên cứu (49)
      • 1. Vị trí địa lý (49)
      • 2. Đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội (49)
      • 3. Thực trạng tình hình ly hôn tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay (50)
    • II. Đặc điểm mẫu nghiên cứu (50)
      • 1. Giới tính (51)
      • 2. Ngành nghề (51)
      • 3. Độ tuổi (53)
      • 4. Nơi sinh sống (54)
      • 5. Tình trạng hôn nhân (55)
      • 6. Trình độ học vấn (56)
      • 7. Tôn giáo (57)
  • CHƯƠNG II: QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DÂN VỀ LY HÔN (58)
    • I. Sự đánh giá của người dânvề tỷ lệ ly hôn hiện nay (58)
      • 1. ỷ lệ (0)
      • 2. Sự chấp nhận của xã hội về tỷ lệ ly hôn hiện nay (63)
      • 3. Sự nhìn nhận thực tế về vấn đề ly hôn hiện nay (70)
        • 3.1. Giai đoạn dễ xảy ra ly hôn (70)
        • 3.2. Độ tuổi có tỷ lệ ly hôn cao hiện nay (71)
        • 3.3. Những nhóm ngành nghề dễ xảy ra ly hôn (73)
        • 3.4. Nhóm trình độ học vấn có tỷ lệ ly hôn cao hiện nay (74)
        • 3.5. Những lý do khiến ngày nay ly hôn trở nên dễ dàng hơn (75)
        • 3.6. Những tình huống mà vợ chồng nên ly hôn (76)
        • 3.7. Những nguyên nhân thường dẫn đến ly hôn theo đánh giá của người dân (80)
      • 4. Những đánh giá về sự tác động của ly hôn đối với xã hội (83)
        • 4.1. Tác động của ly hôn đối với xã hội (83)
        • 4.2. Sự nhìn nhận về tỷ lệ ly hôn đang gia tăng (86)
        • 4.3. Nhận định về sự giải phóng cho phụ nữ khỏi những áp bức trong cuộc sống hôn nhân (87)
  • CHƯƠNG III: (91)
    • I. Thái độ của người dân về những quan điểm trong các mối quan hệ hôn nhân gia đình (91)
      • 1. Mức độ đánh giá các quan điểm truyền thống (91)
      • 2. Mức độ đánh giá các quan điểm hiện đại (94)
      • 3. Mức độ đánh giá các quan điểm về sự nhìn nhận của xã hội về hiện tượng (95)
    • II. Yếu tố tác động đến sự đánh giá các quan điểm của người dân (97)
      • 1. Sự tác động của những yếu tố nội sinh đến cácquan điểm (97)
      • 2. Sự tác động của những yếu tố ngoại sinh đến các nhóm quan điểm (110)
        • 2.1. Yếu tố môi trường (110)
        • 2.2. Mức sống (113)
        • 2.3. Nhóm yếu tố người thân (113)
        • 2.4. Yếu tố phương tiện truyền thông đại chúng (115)
    • III. Sự khác biệt trong cách đánh giá về các quan điểm ly hôn (116)
      • 1. Phân tích mô hình nhân tố đối với nhóm quan điểm truyền thống (116)
      • 2. Phân tích mô hình nhân tố đối với nhóm quan điểm hiện đại (118)
      • 3. Phân tích mô hình nhân tố đối với nhóm quan điểm sự nhìn nhận của xã hội về hiện tượng ly hôn (120)
      • 4. Sự khác biệt trong cách đánh giá các nhân tố phân theo nhóm yếu tố nội sinh(yếu tố bên trong) (122)
      • 5. Sự khác biệt trong cách đánh giá các nhân tố phân theo nhóm yếu tố ngoại sinh(yếu tố bên ngoài) (124)
      • 6. Mối tương quan giữa các nhân tố với nhau (126)
    • IV. Dự đoán sự đánh giá các quan điểm xã hội (Mô hình hồi quy tuyến tính bội) (127)
      • 1. Dự đoán quan điểm “Chỉ có người chồng mới có quyền bỏ vợ” trong nhân tố “Tính gia trưởng của đàn ông truyền thống” (128)
      • 2. Dự đoán quan điểm “Đàn ông luôn là trụ cột của gia đình hiện đại” trong nhân tố “Định kiến xã hội” (133)
      • 3. Dự đoán quan điểm “Trách nhiệm chăm sóc con cái là của cả vợ và chồng” trong nhân tố “Sự bình đẳng giới trong quan hệ vợ chồng” (134)
  • PHẦN III: KẾT LUẬN (139)
    • I. KẾT LUẬN (139)
      • 1. Kiểm định giả thuyết (139)
      • 2. Kết luận (142)
      • 3. Kiến nghị (144)
      • 4. Hạn chế của đề tài (144)
      • 5. Hướng nghiên cứu tiếp theo (145)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (146)
  • PHỤ LỤC (149)
    • 1. Phiếu thăm dò ý kiến (149)
    • 2. Bản hướng dẫn phỏng vấn sâu (159)
    • 3. Các bảng đính kèm (160)
    • 4. Thông tin các đối tượng được phỏng vấn sâu (0)
    • 2. Liệt kê các biểu đồ Biểu đồ 1:Giới tính trong mẫu nghiên cứu (0)

Nội dung

Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài: Từ kết quả nghiên cứu của đề tài tìm hiểu quan điểm của người dân về hiện tượn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

Khái quát về địa bàn nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở miền Nam Việt Nam Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, phía Tây Bắc giáp Tây Ninh, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, phía Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu, phía Tây và Tây Nam giáp các tỉnh Long An và Tiền Giang.

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, với địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Diện tích thành phố là 2.095,06 km², gồm 19 quận và 5 huyện Theo kết quả điều tra dân số chính thức lúc 0 giờ ngày 1/4/2014, dân số TP.HCM đạt 7.955.000 người; tuy nhiên nếu tính cả những người cư trú chưa đăng ký, dân số thực tế của thành phố vượt trên 10 triệu người.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố đông dân nhất và là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục quan trọng của Việt Nam Thành phố giữ vai trò thiết yếu trong nền kinh tế nước ta, thúc đẩy tăng trưởng và đổi mới Với vị trí đắc địa ở khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng, kết nối liên vùng bằng đường bộ, đường thủy và đường hàng không, đồng thời là cửa ngõ quốc tế của khu vực.

2 Đặc điểm kinh tế - văn hóa – xã hội

Về quy mô dân số, Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn nhất Việt Nam hiện nay, với dân số vượt trên 10 triệu người Thành phố là nơi hội tụ các dòng chảy văn hóa đa dạng, gồm Việt – Hoa – Châu Âu, tạo nên một bức tranh văn hóa phong phú và đặc sắc Cách đây khoảng 300 năm, Bến Nghé – Sài Gòn xưa đã là nơi tiếp nhận các nguồn di dân từ nhiều miền đất nước, góp phần hình thành diện mạo thành phố ngày nay.

18 Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2014, Tổng Cục Thống kê Việt Nam

Trung, miền Bắc đến lập nghiệp, rồi các luồng di dân của người Hoa vào định cư ở Biên Hòa, Mỹ Tho cùng hội tụ với dân cư bản địa Sau đó, Sài Gòn là một trong những trung tâm của cả nước đón nhận những ảnh hưởng của văn hóa Pháp, Mỹ qua những thăng trầm lịch sử của đất nước

Thành phố Hồ Chí Minh từ lâu đã là một thành phố có ảnh hưởng lớn về văn hóa, tờ “Gia Định báo” là tờ báo bằng chữ quốc ngữ đầu tiên của cả nước được xuất bản tại mảnh đất Sài Gòn – Gia Định xưa Đồng thời cũng là thành phố lớn nhất Việt Nam và là trung tâm kinh tế - văn hóa - xã hội - giáo dục của cả nước

3 Thực trạng tình hình ly hôn tại thành phố Hồ Chí Minh hiện nay

Theo các số liệu thống kê gần đây, số lượng và tỷ lệ ly hôn tại nước ta đang có dấu hiệu tăng đáng kể Thống kê của ngành tòa án cho thấy, năm 2000 toàn quốc có 51.361 vụ ly hôn, và đến năm 2005 con số này đã tăng lên 65.929 vụ, cho thấy xu hướng gia tăng ly hôn trong giai đoạn này.

Trong năm 2010, con số ly hôn tại TP Hồ Chí Minh lên tới 126.325 vụ; theo số liệu của ngành tòa án, khoảng 40% các cuộc hôn nhân kết thúc bằng ly hôn, tăng gấp đôi so với năm 1998; Báo Giáo dục Online TP Hồ Chí Minh ngày 22/10/2012 cho biết kết quả thăm dò cho thấy trong tổng số vụ ly hôn có tới 20% là của các đôi vợ chồng trẻ dưới 35 tuổi; tại TP Hồ Chí Minh, riêng tòa án nhân dân quận Gò Vấp mỗi tháng xét xử đến 70–80 vụ ly hôn; theo thống kê năm 2010, số lượng vụ án ly hôn tại tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh là khoảng 18.000 vụ.

Hiện nay, tỷ lệ ly hôn ở thành phố Hồ Chí Minh đang có xu hướng gia tăng, cho thấy sự biến động của cấu trúc gia đình tại đô thị lớn Trước thực trạng này, người dân TP.HCM đang có những suy nghĩ về nguyên nhân và hệ quả của hiện tượng ly hôn Đề tài của chúng tôi nhằm tìm hiểu thực trạng và quan điểm của người dân về ly hôn cũng như các yếu tố tác động từ góc nhìn xã hội Chúng tôi sẽ phân tích ảnh hưởng của việc tăng tỷ lệ ly hôn lên đời sống gia đình, cộng đồng và các chuẩn mực xã hội từ góc nhìn của người dân thành phố Kết quả nghiên cứu mong muốn cung cấp dữ liệu và gợi ý cho chính sách, truyền thông và các biện pháp hỗ trợ gia đình tại TP.HCM.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu

19 http://phununews.vn, số ra ngày 18/03/2015

Biểu đồ 1: Giới tính trong mẫu nghiên cứu

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Theo kết quả khảo sát tháng 12 năm 2015 với 200 đơn vị mẫu được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi thu được 199 đơn vị mẫu trả lời về giới tính của mình Cụ thể, có 102 nam và 97 nữ, tương ứng với tỷ lệ 51,3% và 48,7%.

Bảng 1: Cơ cấu nghề nghiệp của mẫu khảo sát phân theo giới tính

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Nghề nghiệp Giới tính Tổng

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN GIỚI TÍNH

Theo kết quả khảo sát, chúng tôi đã tổng hợp được nhiều ngành nghề khác nhau và phân thành 8 nhóm chính Nhóm người làm nhân viên văn phòng chiếm tỷ lệ cao nhất với 22.6%, tiếp đến là nhóm làm kinh doanh buôn bán với 16.9%, tiếp đến là nhóm làm các nghề tự do với 15.9%, nhóm sinh viên 13.8%, nhóm công nhân viên chức 12.3%, nhóm công nhân 9.2%, nhóm giáo viên 5.6%, và nhóm nội trợ trong gia đình 3.6%.

Chúng tôi phân thành các nhóm nghề nghiệp dựa vào tính chất công việc và môi trường làm việc để phân tích các quan điểm xã hội một cách có hệ thống Nhóm 1 là những người làm văn phòng, làm việc tại các công ty tư nhân và các công ty nước ngoài nên dễ tiếp xúc với nhiều loại thông tin xã hội và văn hóa nước ngoài Nhóm 2 gồm những người làm kinh doanh buôn bán, làm việc nhiều ở ngoài đường, thường xuyên giao tiếp với nhiều thành phần xã hội khác nhau trong quá trình kinh doanh Nhóm 3 là các nghề tự do, công việc mang tính thời vụ và có thể dễ dàng thay đổi nếu họ muốn, như lái xe, bảo vệ, giúp việc, nấu ăn, thợ cắt tóc Nhóm 4 là sinh viên, nhóm tri thức trẻ vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường và phần lớn độc thân, nên chúng tôi muốn biết quan điểm của họ về hiện tượng ly hôn hiện nay Nhóm 5 gồm những người làm công nhân viên chức nhà nước, làm việc trong môi trường hành chính nhà nước và chúng tôi muốn xem sự khác biệt so với nhóm làm việc ở các công ty doanh nghiệp tư nhân và nước ngoài Nhóm 6 là nhóm những người làm công tác giảng dạy, truyền bá tri thức cho các thế hệ trẻ và có quan điểm riêng so với các nhóm khác Nhóm cuối cùng chiếm tỷ lệ rất nhỏ nhưng rất quan trọng, là những người nội trợ—phụ nữ không tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội—và được xem xét để phân tích trong bối cảnh hiện nay.

Những người lệ thuộc nhiều vào gia đình và vào người chồng do bản thân không phải là người tạo ra thu nhập sẽ phải đối mặt với tác động rất lớn khi ly hôn, bởi sự phụ thuộc tài chính ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của họ Chính vì vậy, chúng tôi muốn lắng nghe quan điểm của họ về vấn đề ly hôn để hiểu rõ những thách thức và nhu cầu hỗ trợ mà họ đang trải nghiệm.

Bảng 2: Cơ cấu nhóm tuổi của mẫu nghiên cứu phân theo giới tính

Tuổi trung bình (Mean): 35.29 Trung vị (Median): 31

(Mẫu nghiên cứu này được chia thành 3 nhóm tuổi)

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015 Độ tuổi tham gia đề tài khảo sát là từ 18 tuổi trở lên, và việc chọn mốc 18 tuổi được lý giải vì đây được xem là độ tuổi trưởng thành và là thời điểm đủ điều kiện để được công nhận là công dân.

Trong một khảo sát với 200 đơn vị mẫu, đối tượng tham gia có độ tuổi từ 18 đến 79 tuổi Từ đó, chúng tôi đã phân chia thành 3 nhóm tuổi nhằm phân tích các đặc điểm và xu hướng theo độ tuổi một cách chi tiết.

Nhóm thứ nhất có độ tuổi từ 18 đến 30 Nhóm này chiếm 49.2% Trong đó có 42.2% là nam giới và 56.7% là nữ giới

Nhóm thứ hai từ 31 đến 50 tuổi, nhóm này chiếm 36.7% Trong đó có 39.2% là nam giới và 34% là nữ giới

Nhóm thứ 3 là từ trên 50 tuổi trở lên Nhóm này chiếm 14.1% Trong đó có 18.6% là nam giới và 9.3% là nữ giới

Đề tài được phân chia thành ba nhóm tuổi dựa trên mức độ trưởng thành của từng độ tuổi Nhóm đầu tiên là thanh niên, còn rất trẻ và hầu như chưa có nhiều kinh nghiệm trong các quan hệ hôn nhân Nhóm thứ hai là trung niên, hầu hết đã trải qua cuộc sống hôn nhân nên phần nào hiểu được các giá trị của các mối quan hệ.

Trong nghiên cứu này, đề tài được phân thành ba nhóm để so sánh nhận thức về quan điểm hôn nhân và đặc biệt là hiện tượng ly hôn Nhóm thứ ba là nhóm cao niên, họ có nhiều kinh nghiệm và đã sống trong một xã hội còn lưu giữ nhiều giá trị truyền thống Họ trải qua thời kỳ chiến tranh và chịu sự chi phối của các quan niệm cổ xưa, khiến cách nhìn về hôn nhân và ly hôn có sự khác biệt so với các thế hệ trẻ Vì vậy, sự so sánh giữa ba nhóm giúp làm rõ những khác biệt trong nhận thức giữa các thế hệ về hôn nhân và ly hôn — một hiện tượng ngày càng phổ biến hiện nay nhưng từng bị xã hội xưa kiêng kỵ.

Trong mẫu nghiên cứu, độ tuổi trung bình (mean) là 35.29 tuổi Phân bố độ tuổi cho thấy 50% số người có độ tuổi từ 31 tuổi trở lên và 50% số người có độ tuổi từ 31 tuổi trở xuống Trong khi đó, tuổi 30 là giá trị mode (xuất hiện nhiều nhất) của mẫu, cho thấy nhóm tuổi trẻ hơn chiếm tần suất cao nhất.

Trong mẫu nghiên cứu gồm 195 người khai báo quê quán, 100 người là người thành phố Hồ Chí Minh (51.3%), trong khi 95 người đến từ các tỉnh thành khác nhưng hiện đang sinh sống và làm việc tại TP.HCM (48.7%) Với tỉ lệ này, mẫu nghiên cứu thể hiện sự cân đối giữa đối tượng bản địa và người dân nhập cư, chênh lệch chỉ 2.6% (xem bảng 38, phụ lục) Dựa trên kết quả phân chia này, đề tài sẽ phân tích và so sánh nhận thức về hiện tượng ly hôn giữa người bản địa và người dân nhập cư.

Bảng 3: Khu vực sống của đối tượng trong mẫu nghiên cứu

Nơi sống Tần số Tỷ lệ %

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Dữ liệu từ 188 người sống tại TP.HCM phân bổ theo ba khu vực dựa trên tiêu chí phát triển đô thị: khu vực trung tâm thành phố, khu vực ven đô và khu vực ngoại thành Kết quả cho thấy khu vực trung tâm chiếm 20,2% (38 người), khu vực ven đô chiếm 50,5% (95 người) và khu vực ngoại thành chiếm 29,3% (55 người) Nghiên cứu nhằm khám phá xem có sự khác biệt về quan điểm ly hôn giữa cư dân ở các khu vực này hay không, với mục tiêu hiểu rõ tác động của quy hoạch và phát triển đô thị đối với nhận thức xã hội về ly hôn ở TP.HCM.

Biểu đồ 2: Tình trạng hôn nhân của đối tượng trong mẫu nghiên cứu

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Tình trạng hôn nhân trong mẫu nghiên cứu cho thấy tới 52.3% người được khảo sát chưa từng lập gia đình, 40.2% đã lập gia đình và 7.5% thuộc các trường hợp khác như góa, ly hôn và tái hôn Với phân bổ này, mẫu nghiên cứu thể hiện sự đa dạng về tình trạng hôn nhân, từ những người chưa lập gia đình cho đến những người đã lập gia đình, đảm bảo đại diện cho nhiều nhóm nhân khẩu khác nhau.

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TÌNH TRẠNG HÔN NHÂN

Chưa lập gia đình Đã lập gia đình Các trường hợp Khác

49 người đã ly hôn cũng như đã từng tái hôn Điều này làm cho đối tượng nghiên cứu trở nên vô cùng phong phú

Tuy nhiên, một điểm hạn chế là tỷ lệ phần trăm giữa các trạng thái hôn nhân chưa được cân đối hoàn toàn, dẫn đến việc phân tích mất đi phần nào tính khách quan và ý nghĩa thống kê vì mức chênh lệch giữa các nhóm tương đối lớn.

Biểu đồ 3: Trình độ học vấn của đối tượng trong mẫu nghiên cứu

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Trong mẫu nghiên cứu này, nhóm có trình độ Cao đẳng - Đại học và sau Đại học chiếm tỷ lệ cao nhất với 64.6%, tiếp đến nhóm trình độ Trung học phổ thông và Trung cấp (trung cấp chuyên nghiệp và trung cấp nghề) với 22.7%, trong khi nhóm có trình độ Trung học cơ sở trở xuống chiếm 12.6% Những kết quả này cho thấy sự khác biệt về nhận thức và quan điểm giữa các nhóm học vấn đối với hiện tượng ly hôn Trình độ học vấn được xem là một yếu tố phản ánh phần nào nhận thức của con người về xã hội và các vấn đề liên quan.

THCS trở xuống THPT - Trung cấp CĐ - ĐH - sau ĐH

64.6 BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TRÌNH ĐỘ HỌC VẤN

Biểu đồ 4: Thành phần tôn giáo trong mẫu nghiên cứu

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Với 60.1% số người trong mẫu nghiên cứu có tôn giáo Trong đó 39.4 % là theo đạo Phật, 17.2% theo đạo Công giáo và 3.5 % theo các đạo khác (Bà La Môn, Lương giáo, đạo Tin Lành…) Và39.9% số người trong mẫu nghiên cứukhông có theo tôn giáo Những kết quả này sẽ chứng minh cho việc tôn giáo có ảnh hưởng đến các quan điểm về hiện tượng ly hôn trong xã hội hay không

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN CƠ CẤU TÔN GIÁO

Có tôn giáoKhông có tôn giáo

QUAN ĐIỂM CỦA NGƯỜI DÂN VỀ LY HÔN

Sự đánh giá của người dânvề tỷ lệ ly hôn hiện nay

Với việc thực hiện đề tài “Tìm hiểu quan điểm của người dân thành phố Hồ

Khảo sát về hiện tượng ly hôn ở TP Hồ Chí Minh được tiến hành trên 200 đơn vị mẫu tại các quận huyện nhằm đo lường thái độ và quan điểm của người dân Kết quả cho thấy ý kiến đánh giá về tỷ lệ ly hôn hiện nay dao động ở mức cao với 43.9% số người được hỏi cho là nhiều và 33.8% cho là rất nhiều Trong khi đó, 17.2% cho rằng tỷ lệ ly hôn ở mức bình thường, 1% cho rằng ở mức ít và 1% ở mức rất ít Bên cạnh đó, 3% số người được hỏi cho biết họ không biết hoặc không có ý kiến về việc đánh giá tỷ lệ ly hôn hiện nay.

Những kết quả đề tài cho thấy đa số người dân nhận định tỷ lệ ly hôn hiện nay ở mức cao, với 43.9% cho mức nhiều và 33.8% cho mức rất nhiều, chiếm gần 77.7% tổng số người được hỏi và cho thấy một con số không hề nhỏ Theo lời nhận xét của chị T (36 tuổi, nghề nghiệp tự do, hiện đang sống tại quận Bình Tân) thì “xu hướng bây giờ là ly hôn rất là nhiều”, trong khi chị L (làm trợ lý giám đốc, sống tại quận Nhất) cũng cho rằng “vấn đề ly hôn hiện nay rất là nhiều và phổ biến”, cho thấy đây là điều đáng báo động và là sự lo ngại của xã hội khi mức độ ly hôn được nhận thức là rất nhiều và phổ biến Một trong các nguyên nhân được nêu là xã hội ngày càng tha hóa, kết quả của quá trình xã hội hóa với sự thay đổi lối sống theo khuynh hướng phóng thoáng và tự do “thích thì đến, không thích thì đi”, cùng với sự du nhập của văn hóa phương Tây; đồng thời quá trình xã hội hóa cũng làm thay đổi tư duy và nhận thức của con người, nâng cao trình độ dân trí và sự bình đẳng giới.

Ngoài sự đánh giá chung của người dân đối với kết quả này, đề tài còn tiến hành so sánh giữa nam và nữ, cũng như giữa các nhóm tuổi với nhau để xem có sự khác biệt nào trong cách đánh giá tỷ lệ ly hôn; những phân tích này được thể hiện rõ ở bảng (4) dưới đây.

Bảng 4: Mức độ đánh giá tỷ lệ ly hôn hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh phân theo giới tính và nhóm tuổi

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Kết quả thống kê và kiểm định sau khảo sát cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nam và nữ trong việc đánh giá mức độ ly hôn hiện nay tại TP Hồ Chí Minh, với P = 0,472 > 0,05.

Các tỷ lệ phần trăm được thống kê cho thấy cả nam và nữ đều đánh giá mức độ ly hôn hiện nay ở mức cao, với mức cao nhất là 42.2% ở nam và 45.3% ở nữ; mức cao thứ hai lần lượt là 32.4% ở nam và 35.8% ở nữ Kết quả kiểm định Chi-Square cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa giới về nhận định tỷ lệ ly hôn trong xã hội hiện nay Như vậy, nam và nữ không có sự khác biệt trong việc đánh giá tỷ lệ ly hôn tại TP.HCM Nguyên nhân là cả hai giới đều sinh sống tại thành phố Hồ Chí Minh và ở cùng bối cảnh thời gian hiện tại, nên quan điểm về tỷ lệ ly hôn tại TP.HCM trở nên tương đồng.

Giới tính Tổng Nhóm tuổi Tổng

53 chung về tình hình xã hội, mà cụ thể ở đây là hiện tượng ly hôn là như nhau

Kết quả phân tích theo nhóm tuổi cho thấy sự khác biệt tương đối lớn về mức đánh giá tỷ lệ ly hôn Nhóm tuổi 18–30 có 51,0% đánh giá ở mức cao nhất về tỷ lệ ly hôn, trong khi nhóm 31–50 có 47,3% đánh giá ở mức cao nhất và nhóm trên 50 tuổi đạt 50,0% ở mức cao nhất.

Trong khảo sát, nhóm tuổi từ 18 đến 30 ghi nhận tỷ lệ ly hôn ở mức ít (2.1%) và mức rất ít (2.1%) Ngược lại, hai nhóm tuổi từ 31 đến 50 và trên 50 không có người đánh giá ở các mức này, cho thấy sự khác biệt về nhận thức hoặc đánh giá tỷ lệ ly hôn giữa các nhóm tuổi.

Đối với ý kiến cho rằng tỷ lệ ly hôn ở mức rất cao, nhóm tuổi 18-30 có 18,8%, nhóm 31-50 tuổi là 47,3% và chênh lệch 28,5 điểm phần trăm so với nhóm 18-30, cho thấy một sự khác biệt tương đối lớn giữa các nhóm tuổi về nhận định mức độ ly hôn; với cùng ý kiến này, nhóm trên 50 tuổi có tỷ lệ cao nhất (50%), chênh lệch 31,2 điểm phần trăm so với nhóm 18-30 Kết quả này cho thấy tuổi càng cao thì mức độ đánh giá về tỷ lệ ly hôn hiện nay càng lớn Nguyên nhân một phần là người cao tuổi vẫn sống gần thời phong kiến, khi ly hôn bị coi là điều cấm kỵ và đáng xấu hổ nên tỷ lệ ly hôn ngày xưa rất thấp, trong khi xã hội ngày nay coi ly hôn là chuyện bình thường và dễ dàng hơn nhiều Do đó, việc đánh giá tỷ lệ ly hôn ở mức rất cao ở ý kiến của người lớn tuổi là điều dễ hiểu, vì họ đã trải qua nhiều thời kỳ biến đổi của đất nước và cảm nhận sự thay đổi này rõ hơn so với các thế hệ trẻ sinh ra trong thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa và hiện đại hóa.

Kết quả kiểm định Chi-Square cho việc phân tích theo nhóm tuổi cho thấy χ² = 31.060, df = 10, P = 0.001 (< 0.05) Sự khác biệt về mức độ đánh giá tỷ lệ ly hôn giữa các nhóm tuổi là có ý nghĩa thống kê, tức là có sự khác biệt đáng kể trong cách đánh giá tỷ lệ ly hôn ở từng nhóm tuổi.

54 ly hôn giữa các nhóm tuổi với nhau

Nghiên cứu đã phân tích, so sánh và kiểm định mức độ đánh giá tỷ lệ ly hôn theo các yếu tố: tôn giáo, trình độ học vấn và tình trạng hôn nhân Kết quả cho thấy các yếu tố này không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê: tôn giáo (χ2(5)=8.529; P=0.129), trình độ học vấn (χ2(15)=14.781; P=0.467) và tình trạng hôn nhân (χ2(10)=17.965; P=0.056) Do đó, tôn giáo, học vấn và tình trạng hôn nhân không ảnh hưởng đến sự đánh giá về các tỷ lệ ly hôn hiện nay.

Phần trước đã đánh giá tỷ lệ ly hôn tại TP Hồ Chí Minh; ở phần này, bài viết trình bày mức độ nhận định về tình trạng ly hôn ở Việt Nam hiện nay so với quá khứ và được minh họa bằng biểu đồ (5) sau, giúp người đọc hình dung xu hướng biến động và sự khác biệt giữa hai thời kỳ trên phạm vi toàn quốc.

Biểu đồ 5: Tình trạng ly hôn của Việt Nam hiện nay so với trước đây

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Theo kết quả khảo sát ý kiến người dân về tình trạng ly hôn ở Việt Nam so với trước đây, hầu như đại đa số cho rằng tỷ lệ ly hôn hiện nay cao hơn trước đây, với 89% đánh giá như vậy Trong khi đó, 6,5% cho rằng tỷ lệ ly hôn ở Việt Nam không đổi so với trước đây và 1% cho rằng thấp hơn Ngoài ra, 3,5% số người được hỏi cho biết họ không biết hoặc không có ý kiến về sự đánh giá này.

Nhiều hơn Cũng vậy Ít hơn Không biết/ không ý kiến

BIỂU ĐỒ THỂ HIỆN TÌNH TRẠNG LY HÔN CỦA VIỆT

NAM HIỆN NAY SO VỚI TRƯỚC ĐÂY

55 Điều này cho thấy trong xã hội ngày xưa vấn đề ly hôn là rất hiếm

Kết quả này cho thấy nghiên cứu đã kiểm định bằng Chi-Square với các yếu tố: giới tính, tôn giáo, nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, vùng miền, nghề nghiệp và trình độ học vấn Tuy nhiên, tất cả các biến này đều không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê liên quan đến tình trạng ly hôn ở Việt Nam so với trước đây Như vậy, mức độ tương đồng giữa các yếu tố trên được đánh giá là giống nhau ở thời điểm hiện tại so với giai đoạn trước.

Như vậy, với tỷ lệ đánh giá mức độ ly hôn hiện nay rất cao, 89% số ý kiến cho rằng nhiều hơn so với trước đây Vậy đâu là những lý do đãlàm hạn chế được tỷ lệ ly hôn của ngày xưa? Qua kết quả thu thập ý kiến, đề tài cũng đã tổng hợp được những lý do sau đây:

Biểu đồ 6: Những nguyên nhân làm hạn chế tỷ lệ ly hôn ngày xưa

Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 12 năm 2015

Qua quá trình thu thập ý kiến người dân, đề tài đã tổng hợp được 9 ý kiến được nhiều người lựa chọn trả lời nhất Đứng đầu là lý do họ phải sống vì con cái, chiếm 52,2% số người trả lời, cho thấy trong xã hội ngày xưa nhiều người đã cam chịu, nhẫn nhịn để lo cho tương lai của con cái Ví dụ, chị L (sống tại quận nhất, 31 tuổi) tâm sự: “Ngày xưa người ta sống thì ”.

Họ phải sống vì con cái

Do Sợ mang tiếng cho gia đình, …

Do các định kiến xã hội Phụ nữ bị lệ thuộc vào người …

Do phong tục tập quán Phụ nữ bị coi là thiếu đức hạnh

Bị xã hội kinh miệt

BIỂU ĐỒ THỂ Ý KIẾN VỀ NHỮNG NGUYÊN NHÂN

LÀM CHO TỶ LỆ LY HÔN NGÀY XƢA THẤP

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mai Huy Bích, Xã hội học gia đình, Nxb khoa học xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
2. Phạm Tất Dong, Lê Ngọc Hùng (đồng chủ biên), Xã hội học, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
3. Nguyễn Minh Hòa, Xã hội học: những vấn đề cơ bản, Nxb Giáo dục Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học: những vấn đề cơ bản
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
4. Nguyên Xuân Nghĩa, Xã hội học, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
5. Lê Ngọc Hùng, Lịch sử &amp; lý thuyết xã hội học, Nxb khoa học xã hội Hà Nội, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử & lý thuyết xã hội học
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội Hà Nội
6. Nguyễn Xuân Nghĩa, Phương pháp &amp; kỹ thuật trong nghiên cứu xã hội,Nxb Phương Đông,2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp & kỹ thuật trong nghiên cứu xã hội
Nhà XB: Nxb Phương Đông
7. Nguyễn Xuân Nghĩa, Xã hội học, Nxb Đại học Quốc Gia TP.HCM, 2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia TP.HCM
8. Nguyễn Thu Nguyệt, Đặng Thành Công(đồng chủ biên), Vấn đề hôn nhân – gia đình và trẻ em, Nxb khoa học xã hội Hà Nội, 2007, tr 46–54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hôn nhân – gia đình và trẻ em
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội Hà Nội
9. Nguyễn Thị Oanh, Gia đình nhìn từ góc độ xã hội học, Khoa Phụ nữ học, ĐH Mở bán công TP.HCM, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình nhìn từ góc độ xã hội học
10. Lâm Thị Ánh Quyên, Tin học ứng dụng trong khoa học xã hội, Đại học Mở TP.HCM, 2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin học ứng dụng trong khoa học xã hội
11. GS.TS Lê Thị Quý, Xã hội học gia đình, Nxb Chính trị hành chính Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học gia đình
Nhà XB: Nxb Chính trị hành chính Hà Nội
12. GS.Lê Thi, Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay, Nxb khoa học xã hội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tương đồng và khác biệt trong quan niệm về hôn nhân gia đình giữa các thế hệ người Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
13. GS.Lê Thi, cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình, gia đình Việt Nam hiện nay, Nxb khoa học xã hội, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: cuộc sống và biến động của hôn nhân gia đình, gia đình Việt Nam hiện nay
Nhà XB: Nxb khoa học xã hội
14. Lê Minh Tiến, Cẩm nang xây dựng dự án nghiên cứu trong khoa học xã hội (Bản dịch), Nxb Tri Thức, 2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang xây dựng dự án nghiên cứu trong khoa học xã hội
Nhà XB: Nxb Tri Thức
15. Lê Minh Tiến, Phương pháp thống kê trong nghiên cứu xã hội, Nxb trẻ, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp thống kê trong nghiên cứu xã hội
Nhà XB: Nxb trẻ
16. Từ điển xã hội học Oxford, Nxb ĐHQG Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học Oxford
Nhà XB: Nxb ĐHQG Hà Nội
17. Nguyễn Khắc Viện, Từ điển xã hội học, Nxb Thế giới, 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Nhà XB: Nxb Thế giới
18. Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Thống kê ứng dụng trong kinh tế - xã hội, Nxb Lao động xã hội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thống kê ứng dụng trong kinh tế - xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động xã hội
19. Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 1, Nxb Hồng Đức, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
20. Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc, Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 2, Nxb Hồng Đức, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: Nxb Hồng Đức

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w