1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi tự tử nơi thanh thiếu niên tại thành phố hồ chí minh – một nghiên cứu xã hội học nghiên cứu khoa học

97 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 3,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I. DẪN NHẬP (14)
    • 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (14)
    • 2. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI (20)
    • 3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (21)
    • 4. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI (21)
      • 4.1. Ý nghĩa lý luận (21)
      • 4.2. Ý nghĩa thực tiễn (21)
    • 5. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU (22)
      • 5.1. Mục tiêu tổng quát (22)
      • 5.2. Mục tiêu cụ thể (22)
    • 6. ĐỊA BÀN VÀ MẪU NGHIÊN CỨU (23)
    • 7. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU (23)
      • 7.1. Đối tượng nghiên cứu (23)
      • 7.2. Khách thể nghiên cứu (23)
    • 8. PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT NGHIÊN CỨU (24)
      • 8.1. Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu (24)
      • 8.2. Phương pháp thu thập dữ liệu (25)
      • 8.3. Phương pháp xử lý thông tin (26)
      • 8.4. Đạo đức trong nghiên cứu (26)
    • 9. CƠ SỞ LÝ LUẬN (26)
      • 9.1. Một số lý thuyết áp dụng (26)
      • 9.2. Định nghĩa các khái niệm (30)
      • 9.3. Các giả thuyết và khung phân tích (34)
    • 10. NHỮNG GIỚI HẠN TRONG NGHIÊN CỨU (35)
  • PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (37)
  • CHƯƠNG II. TÓM TẮT NỘI DUNGCÁC CUỘC PHỎNG VẤN VÀ CHÂN (37)
    • 2.1. TÓM TẮT NỘI DUNG, DIỄN TIẾN CÁC CUỘC PHỎNG VẤN (37)
    • 2.2. CHÂN DUNG VÀ TIỀM NĂNG CỦA NHÓM ĐỐI TƯỢNG (47)
  • CHƯƠNG III. TIẾN TRÌNH NẢY SINH Ý ĐỊNH TỰ TỬ VÀ THỰC HIỆN HÀNH VI (50)
    • 3.1. GIAI ĐOẠN NHẬN SỰ GIÁO DỤC TỪ GIA ĐÌNH (50)
    • 3.2. GIAI ĐOẠN GẶP ÁP LỰC – KHÓ KHĂN (57)
    • 3.3. GIAI ĐOẠN XUẤT HIỆN Ý ĐỊNH TỰ TỬ (63)
    • 3.4. GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN HÀNH VI (65)
  • CHƯƠNG IV. SAU KHI THỰC HIỆN HÀNH VI TỰ TỬ (74)
    • 4.1. NHỮNG CẢM NHẬN SAU KHI TỰ TỬ (74)
    • 4.2. QUAN NIỆM VỀ CÁI CHẾT (79)
  • CHƯƠNG V. CUỘC SỐNG HIỆN TẠI VÀ NHỮNG ĐÁNH GIÁ NHÌN NHẬN LẠI QUÁ KHỨ (81)
    • 5.1. ĐÁNH GIÁ VỀ HÀNH VI TỰ TỬ TRƯỚC ĐÂY (81)
    • 5.2. ÁP LỰC HIỆN TẠI VÀ PHƯƠNG THỨC GIẢI QUYẾT (82)
    • 5.3. NHỮNG LỜI NHẮN NHỦ, CHIA SẺ (84)
  • PHẦN III: KẾT LUẬN (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (92)

Nội dung

Ngoài ra, bài nghiên cứu này có thể làm tiền đề để cho những bài nghiên cứu tiếp theo phát triển thêm hoặc tìm ra những khía cạnh mới để hiện tượng tự tử của thanh thiếu niên được tổng q

DẪN NHẬP

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tự tử là một vấn đề đã được nghiên cứu từ rất lâu dưới nhiều góc độ khác nhau như sinh học, y học, tâm lý học và xã hội học; theo Tổ chức Y tế Thế giới, tự tử là một hành động cố ý chấm dứt cuộc sống của chính mình, và hành vi tự tử (suicidal behavior) là các hành động tự gây thương tích có thể dẫn đến tử vong cho bản thân, ví dụ như uống thuốc quá liều hoặc lái xe đâm vào vách đá; tự tử xảy ra vì nhiều lý do, bao gồm trầm cảm, xấu hổ, uất ức, thiếu thốn tiền bạc hoặc đau khổ vì hoàn cảnh không như ý (abc.net.au, 16/9/2008); sau đây là một vài cuộc nghiên cứu, thống kê liên quan đến vấn đề tự tử.

Trong Le Suicide (1897), Emile Durkheim, trong thời gian giảng dạy tại Đại học Bordeaux, trình bày một công trình lớn về xã hội và khẳng định tự tử là một hiện tượng xã hội: dù là hành vi cá nhân nhưng bị chi phối bởi mức độ đoàn kết và hội nhập xã hội, cùng với sự tương tác giữa cá nhân và tập thể Nguyên nhân căn bản đến từ các điều kiện xã hội và kinh tế - xã hội, mối liên hệ với cộng đồng, nghề nghiệp, tôn giáo và giới tính Ông cho thấy sự khác biệt về tỷ lệ tự tử tùy theo tôn giáo (Công giáo có tỷ lệ thấp hơn Tin lành), tình trạng hôn nhân (kết hôn ít tự tử hơn độc thân) và giới tính (nữ giới tự tử ít hơn nam giới) Durkheim định nghĩa tự tử là cái chết phát sinh từ hậu quả tích cực hoặc tiêu cực của hành động cá nhân chống lại chính bản thân và biết trước hậu quả đó Ông phân loại tự tử thành bốn loại: tự tử vị kỉ, tự tử vị tha, tự tử phi chuẩn và tự tử định mệnh; tự tử vị kỉ xảy ra khi cá nhân thiếu sự đoàn kết xã hội và bị bỏ rơi, sống chỉ vì lợi ích của bản thân và của chủ nghĩa cá nhân.

Theo giảng viên hướng dẫn ThS Lê Minh Tiến, tự tử vị tha là hiện tượng xã hội diễn ra khi một cá nhân hòa nhập vào nhóm ở mức độ rất cao đến mức quên đi bản thân và sẵn sàng hy sinh tính mạng vì lợi ích của tập thể Tự tử vị tha có thể diễn ra dưới hình thức bắt buộc trong những hoàn cảnh đặc thù mà cá nhân cảm thấy không thể làm khác được, ví dụ do quy định hoặc quy ước riêng của nhóm mà người đó tham gia.

Durkheim nhấn mạnh tự tử phi chuẩn là hình thức xảy ra khi cá nhân ở trạng thái nhiễu loạn, hỗn độn và mất phương hướng do các quy tắc xã hội cũ bị phá vỡ trong khi các quy tắc xã hội mới chưa hình thành; ngược lại, tự tử định mệnh là hình thức xảy ra khi xã hội có sự điều tiết mạnh mẽ các chuẩn mực và truyền thống lên hành vi cá nhân, khiến người ta tự tử vì số phận được định sẵn, như các tập tục trong xã hội Ấn Độ cổ truyền (ví dụ người vợ tự thiêu khi chồng chết để thể hiện sự chung thủy); Durkheim không đề cập nhiều đến dạng tự tử này vì ông phân loại dựa trên nguyên nhân xã hội và dữ liệu thống kê để làm nổi bật vấn đề, cho thấy một cái nhìn tổng quan về tỷ lệ tự tử nhưng chưa phân tích sâu quá trình dẫn đến hành vi và những yếu tố nội tại ảnh hưởng đến hành động của chủ thể.

Trong công trình nghiên cứu mang tự đề “Nhận xét một số nhân tố nguy cơ tự sát ở thanh thiếu niên” do Lã Thị Bưởi và Cao Văn Tuân, thuộc Bộ môn Tâm thần học - Trường Đại học Y Hà Nội thực hiện, các tác giả đã đánh giá các yếu tố tâm thần, tâm lý và sức khỏe liên quan đến hành vi tự sát ở thanh thiếu niên Nghiên cứu làm nổi bật vai trò của nhiều yếu tố nguy cơ, từ rối loạn tâm thần và căng thẳng tâm lý đến mức độ tự tin, khả năng quản lý cảm xúc và tình trạng sức khỏe tổng thể, nhằm nhận diện và dự báo nguy cơ tự sát ở lứa tuổi vị thành niên Công trình được đăng trên Tạp chí Y học, tập 38, số 5.

Trong nghiên cứu năm 2005, nhóm tác giả đã áp dụng nhiều phương pháp, gồm một số phương pháp y khoa và phương pháp mô tả cắt ngang, sau đó so sánh với nhóm chứng bằng các phương pháp định lượng Tuy nhiên thiết kế này không thể diễn đạt hết các suy nghĩ và biến động tâm lý của đối tượng tham gia, hay những biến đổi nội tâm mà họ trải qua Do nghiên cứu được thực hiện bởi một trung tâm y tế, nên phần lớn chú trọng vào các vấn đề tâm lý, tâm thần và sức khỏe như các yếu tố dẫn đến hành vi tự sát, bỏ qua các yếu tố xã hội có thể ảnh hưởng đến nguy cơ này.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến cho biết ba điểm quan trọng của nghiên cứu là ở nhóm thanh niên vừa trải qua cơn nguy hiểm vẫn chưa thể bình tĩnh, khiến kết quả ban đầu chưa khả quan; so sánh với nhóm đã trải qua thời niên thiếu từ lâu, thời gian theo dõi dài cho thấy những ảnh hưởng tới cuộc sống sau khi thực hiện hành vi tự sát cần được đánh giá kỹ lưỡng.

Và kết quả cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng nhân tố tâm thần, tâm lý, sức khỏe là những yếu tố chủ yếu trong toan tự sát

Cuộc khảo sát về tình hình bệnh nhân có hành vi tự tử điều trị tại Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương trong năm 2007–2008 do bác sĩ chuyên khoa I Phạm Anh thực hiện nhằm đánh giá đặc điểm dịch tễ học, nguyên nhân gây hành vi tự tử và kết quả điều trị tại khu vực cấp cứu Nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng quan về mức độ nghiêm trọng của vấn đề, mô tả đặc điểm bệnh nhân và phân tích các yếu tố liên quan trong quá trình chăm sóc Các kết quả có thể hỗ trợ cải thiện quy trình cấp cứu, tăng cường can thiệp tâm lý và xây dựng kế hoạch phòng ngừa tự tử tại cơ sở y tế.

Nghiên cứu tại Bệnh viện Trưng Vương cho thấy các yếu tố thúc đẩy tự tử, các phương thức tự tử thường gặp và tình hình sơ cứu, từ đó đề xuất biện pháp ngăn ngừa và phòng ngừa tự tử, đồng thời lên kế hoạch cải thiện trang thiết bị y tế và phối hợp với các trung tâm y tế tuyến trước để nâng cao hiệu quả điều trị Kết quả cho thấy người tự tử chiếm tỷ lệ đáng kể trong số bệnh nhân nhập viện cấp cứu, gây hao tổn về kinh tế xã hội Khảo sát cho thấy những điểm nổi bật: tỷ lệ tự tử ở nữ cao hơn nam; độ tuổi phổ biến dưới 35 tuổi; mâu thuẫn chủ yếu là giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, và tình yêu nam nữ Hầu hết bệnh nhân nhận biết hành động của mình là sai và hối hận sau khi tự tử Loại chất bệnh nhân dùng tự tử nhiều nhất là thuốc bảo vệ thực vật, với nguy cơ tử vong cao Thời điểm xảy ra hành vi tự tử thường vào ban đêm Những kết quả này nhấn mạnh nhu cầu tăng cường các biện pháp phòng ngừa, chăm sóc tâm lý và sơ cứu, cũng như tăng cường kết nối với các cơ sở y tế tuyến trước để giảm gánh nặng cho gia đình và xã hội.

Trong nghiên cứu mang tiêu đề “Một số yếu tố tác động tới hành vi tự tử của thanh thiếu niên hiện nay”, được đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Con người số 4(31) năm 2007, các tác giả đã phân tích các yếu tố nguy cơ và yếu tố bảo vệ liên quan đến hành vi tự tử ở thanh thiếu niên, nhằm cung cấp bằng chứng khoa học cho các chương trình phòng ngừa và can thiệp.

Được thực hiện bởi ThS Vũ Thị Thanh - Viện Nghiên Cứu Con Người và ThS Nguyễn Trung Hiếu - Viện Nghiên Cứu Thanh Niên, nghiên cứu nêu ra bốn yếu tố tác động đến hành vi tự tử của thanh thiếu niên, trong đó tác động từ phía gia đình được nhấn mạnh bởi vai trò của gia đình là môi trường mà thanh thiếu niên gia nhập và hình thành nền tảng phát triển tâm lý Điều này cho thấy sự hỗ trợ từ gia đình có thể ảnh hưởng đến nguy cơ và phòng ngừa hành vi tự tử ở thanh thiếu niên.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 4 nhiều nhất Tuy nhiên có nhiều cha mẹ hiện nay tạo ra những áp lực về tâm lý cho con cái khi họ quá kỳ vọng hoặc đòi hỏi cao đối với các con Cho nên kỹ năng chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với thanh thiếu niên cần quan tâm nhiều hơn; 2_Tác động từ phía nhà trường: Nhà trường không đơn thuần là môi trường giáo dục văn hóa, tri thức mà đó là nơi hòa nhập, vui chơi, học hỏi các kỹ năng sống của thanh thiếu niên Nhưng hiện nay yếu tố tác động từ phía nhà trường tới hành vi tự tử của thanh thiếu niên xuất phát một phần từ những áp lực trong học tập, thi cử Hệ thống giáo dục tập trung nhiều vào giảng dạy kiến thức văn hóa mà chưa quan tâm đầy đủ tới sự phát triển tâm lý, tình cảm, tinh thần của thanh thiếu niên Để thanh thiếu niên nhận thức tốt về cuộc sống nhà trường cần kết hợp các hoạt động tập thể, vui chơi lành mạnh, và giáo dục những giá trị, lý tưởng sống, biết yêu thương, trân trọng cuộc sống 3_Tác động từ phía môi trường kinh tế - văn hóa - xã hội: Ở đây tác giả nhấn mạnh đến sự ảnh hưởng của những câu chuyện, hình ảnh mang tính bạo lực, những câu chuyện, phim ảnh có nội dung về những cuộc tình ủy mị, sướt mướt, đau khổ, thậm chí là bế tắc cũng tác động không nhỏ đến hiện tượng tự tử ở thanh thiếu niên Trước tình trạng tự tử ở thanh thiếu niên gia tăng, việc lành mạnh hóa môi trường xã hội, ngăn chặn các tệ nạn xã hội, hạn chế phim ảnh, trò chơi bạo lực là điều cần thiết Đồng thời mở rộng các dịch vụ tư vấn, chăm sóc sức khỏe tâm lý, tinh thần cho lứa tuổi vị thành niên; 4_Tác động từ yếu tố tâm lý lứa tuổi: Thanh thiếu niên là lứa tuổi còn thiếu kinh nghiệm, kỹ năng sống nên dễ chịu sự tác động và tổn thương trước những biến đổi trong cuộc sống Vì thế họ thường gặp khó khăn, thậm chí là bế tắc khi đứng trước những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống Kết luận của bài nghiên cứu là khi xem xét một số yếu tố ảnh hường tới hành vi tự tử ở thanh thiếu niên, chúng ta khó có thể quy trách nhiệm và nguyên nhân của hiện tượng này cho riêng gia đình, hoặc nhà trường, hoặc xã hội, hoặc phía bản thân thanh thiếu niên Cần nhìn nhận một cách khách quan, nguyên nhân dẫn tới tự tử là kết quả tác động của nhiều yếu tố, từ môi trường văn hóa xã hội đến vai trò của chủ thể giáo dục Thông qua bài nghiên cứu này giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát các nguyên nhân tác động đến hành vi tự tử nơi thanh thiếu niên như gia đình, nhà

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 5 trường, xã hội, bạn bè, tâm lý tuy nhiên bài nghiên cứu chỉ mới dừng lại ở các yếu tố xuất phát từ môi trường bên ngoài và tâm lý tác động vào chủ thể Tác giả vẫn chưa đi sâu tìm hiểu và phân tích các yếu tố bên trong của chủ thê (nhu cầu, động cơ, suy nghĩ) Đó cũng làm một trong những yếu tố quan trọng và mang tính quyết định đến lựa chọn thực hiện hành vi tự tử của thanh thiếu niên hiện nay

Đề tài "Hiện tượng tự tử nơi thanh thiếu niên ở Việt Nam hiện nay qua góc nhìn của báo chí" (2008) do Đỗ Văn Quân, Viện Xã hội học, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh thực hiện đã phân tích các đặc điểm xã hội của nhóm thanh thiếu niên tự tử và lý do khiến họ tìm đến cái chết Bài nghiên cứu dựa vào tư liệu thứ cấp như các bài báo, tọa đàm và trả lời phỏng vấn về hiện tượng tự tử của thanh thiếu niên trong ba năm liên tục được đề cập trong bài, nhằm làm rõ cách báo chí phản ánh và đánh giá hiện tượng này và các yếu tố xã hội liên quan.

Trong giai đoạn 2006–2008, kết quả bài viết cho thấy thanh niên tự tử ngày càng trẻ hóa, với tỉ lệ tự tử thành công ở nam giới cao hơn nữ giới; người độc thân có nguy cơ tử vong cao hơn người có gia đình; tỉ lệ tự tử trung bình trong dân số nói chung thấp hơn nhiều so với nhóm người gặp khó khăn tâm lý hoặc mắc bệnh tâm thần Tự tử ở thanh thiếu niên được xem là một hành vi lệch chuẩn mang lại hậu quả nghiêm trọng trong quá trình tương tác và đối phó với các xung đột xã hội Bài viết cũng nhấn mạnh trách nhiệm của truyền thông đại chúng như các bài hát, phim ảnh, báo chí, mạng điện tử trong việc đưa tin và định hướng công chúng Có thể các kênh truyền thông chỉ đưa tin đúng sự thật mà thiếu các định hướng, khiến hành vi tự tử trở thành một "mốt" và tác động tới nhận thức của thanh thiếu niên; thậm chí một số diễn đàn trực tuyến còn hướng dẫn tự tử Những nhận định và lý giải trên phần lớn mang tính cá nhân và dựa trên số liệu từ một số cơ quan nên chưa được thảo luận kỹ càng dưới góc độ khoa học xã hội Đến nay Việt Nam vẫn chưa có một cuộc nghiên cứu khoa học thực sự về hiện tượng tự tử ở thanh thiếu niên; dường như chúng ta chỉ mới bắt đầu nhìn nhận mức độ nghiêm trọng của vấn đề.

LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Xã hội ngày càng hiện đại càng đối mặt với nhiều vấn đề phát sinh mới, trong đó hiện tượng tự tử là một vấn đề đáng quan tâm Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), thế giới mỗi năm có khoảng một triệu người chết vì tự tử, trung bình mỗi phút có hai người chết vì tự tử Dự báo của WHO cho thấy đến năm 2020 tự tử sẽ là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở các nước phát triển và là một trong những nguyên nhân hàng đầu ở các nước đang phát triển Tại Việt Nam, trong những năm gần đây, hiện tượng tự tử ngày càng gia tăng, đặc biệt ở lứa tuổi thanh thiếu niên, thu hút sự chú ý của báo chí, truyền thông và toàn xã hội Tỷ lệ thanh thiếu niên từng nghĩ đến chuyện tự tử và từng tìm cách kết thúc cuộc sống đã tăng lên đáng kể.

Theo cuộc điều tra quốc gia về vị thành niên và thanh niên lần thứ hai, được công bố ngày 01-06-2010, từ năm 2005 cho thấy hiện tượng tự tử ở thanh thiếu niên và học sinh Việt Nam đang diễn biến phức tạp Trong ba tháng đầu năm 2012, theo thống kê từ một số trang web, cả nước ghi nhận khoảng 10 vụ học sinh tự tử, đi kèm với nhiều số liệu khác phản ánh thực trạng đáng lo ngại Những thống kê này gióng lên hồi chuông báo động về nạn tự tử thanh thiếu niên ở Việt Nam và nhấn mạnh nhu cầu can thiệp sớm từ gia đình, nhà trường và hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần.

Mặc dù hiện tượng tự tử ở thanh thiếu niên vẫn chưa nhận được sự quan tâm đầy đủ, thực tế cho thấy chưa có thống kê hay nghiên cứu cụ thể nào về vấn đề này Chúng ta chỉ biết đến một số vụ việc điển hình qua các phương tiện truyền thông, song đó chỉ là phần nổi của sự thật và còn rất nhiều trường hợp chưa được công chúng biết đến Vấn đề này đòi hỏi sự quan tâm thỏa đáng từ gia đình và toàn xã hội Quan trọng hơn, cần tăng cường hiểu biết về nguyên nhân, yếu tố rủi ro và các biện pháp phòng ngừa cùng hỗ trợ nhằm giảm thiểu tác động và cải thiện khả năng can thiệp.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến nhấn mạnh sự cấp thiết của một nghiên cứu xã hội học về hành vi tự tử ở thanh thiếu niên tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm sáng tỏ các suy nghĩ và áp lực mà đối tượng trẻ đang phải đối mặt, từ đó đề xuất những giải pháp ngăn ngừa và giảm thiểu tình trạng này Hiện tại Việt Nam vẫn thiếu các nghiên cứu sâu về tâm lý và hoàn cảnh của thanh thiếu niên liên quan tới tự tử, dẫn tới hậu quả cá nhân, mất mát cho gia đình và tổn thất cho xã hội rất lớn Nhóm tác giả mong muốn góp một cái nhìn mới và các can thiệp thực tiễn để giúp đối tượng vượt qua khó khăn, từ đó hình thành đề tài: "Hành vi tự tử nơi thanh thiếu niên tại Thành phố Hồ Chí Minh — Một nghiên cứu xã hội học".

CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

 Điều gì đã khiến một số thanh thiếu niên chọn thực hiện hành vi tự tử?

 Quá trình dẫn đến hành vi tự tử diễn ra như thế nào?

 Cá nhân đó bị tác động gì về mặt tâm lý, lối sống, quan niệm sau khi thực hiện hành vi tự tử?

 Suy nghĩ của cá nhân sau khi trải qua quá trình đó như thế nào?

Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

4.1 Ý nghĩa lý luận Đề tài sử dụng lý thuyết hành động xã hội của M.Weber để làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu

Thông qua lý thuyết hành động xã hội, bài viết này nhằm giải thích luận điểm rằng nếu chỉ phân tích các đặc điểm quan sát được từ bên ngoài thì hành động xã hội sẽ không có đầy đủ ý nghĩa xã hội Vì vậy, chúng tôi vận dụng lý thuyết hành động xã hội để đi sâu khám phá những nguyên nhân hình thành hành động của con người Để hiểu rõ vấn đề, trước hết cần đặt mình vào hoàn cảnh của đối tượng, từ đó cảm nhận, đánh giá và nhận thức động cơ hành vi từ bên trong.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 9

Đề tài này nhằm làm rõ các yếu tố tác động khiến thanh thiếu niên có xu hướng tự tử, từ đó giúp phụ huynh hiểu rõ hơn tâm tư tình cảm của con cái, tăng nhận thức và có thể chia sẻ tâm tư nguyện vọng nhằm ngăn ngừa các trường hợp đáng tiếc; đồng thời góp phần kêu gọi sự quan tâm của xã hội đối với hành vi tự tử ở thanh thiếu niên hiện nay Bài nghiên cứu cũng tạo tiền đề cho các nghiên cứu tiếp theo, mở rộng phạm vi và khám phá các khía cạnh mới của hiện tượng này để tổng quát hóa và lan tỏa thông tin, từ đó góp phần ngăn ngừa tỷ lệ tự tử ở lứa tuổi thanh thiếu niên trong tương lai.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Khảo sát và phân tích sâu sắc suy nghĩ, quan điểm của thanh thiếu niên trước và sau hành vi tự tử giúp nhận diện những trải nghiệm và nguyên nhân gây ra hành vi này Nghiên cứu làm rõ các yếu tố tác động như môi trường gia đình, áp lực học tập, trạng thái tâm lý và các yếu tố xã hội khác, từ đó có cái nhìn toàn diện về nguyên nhân dẫn đến tự tử ở thanh thiếu niên Thông tin thu được góp phần vào công tác phòng ngừa và giảm thiểu tỉ lệ tự tử đang gia tăng ở nước ta Bên cạnh đó, bài viết nhấn mạnh việc hỗ trợ những thanh thiếu niên đã thực hiện hành vi nhưng chưa thành công hoặc đã vượt qua quá trình này để họ quay trở lại với cuộc sống và phục hồi tinh thần Kết quả nhằm xây dựng các chiến lược can thiệp sớm, tăng cường hỗ trợ tâm lý, giáo dục kỹ năng sống và tạo mạng lưới quan tâm liên kết giữa gia đình, nhà trường và cộng đồng để bảo vệ sức khỏe tâm thần của thanh thiếu niên.

 Tìm hiểu tiến trình nảy sinh ý định tự tử nơi thanh thiếu niên

 Làm sáng tỏ những yếu tố nào đã khiến một số thanh thiếu niên chọn thực hiện hành vi tự tử

 Quá trình dẫn đến hành vi tự tử nơi thanh thiếu niên

 Tìm hiểu những tác động gì về mặt tâm lý, lối sống, quan niệm sau khi thực hiện hành vi tự tử nơi cá nhân

 Suy nghĩ của cá nhân sau khi trải qua quá trình đó như thế nào

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 10

ĐỊA BÀN VÀ MẪU NGHIÊN CỨU

Đề tài được nhóm nghiên cứu thực hiện tại TP.HCM, thành phố đông dân nhất nước, dựa trên báo cáo mới nhất của Tổng cục Thống kê công bố vào sáng 17/12/2014 tại hội nghị kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa kỳ: TP.HCM có dân số 7,955 triệu người và con số này được dự báo sẽ tăng lên mỗi năm do lượng lao động nhập cư ngày càng nhiều, với dự báo trên 10 triệu người vào năm 2020 Thành phố đóng vai trò đầu tàu về phát triển kinh tế, là trung tâm văn hóa và giáo dục, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng đất nước theo hướng hiện đại hóa và công nghiệp hóa Bên cạnh sự phát triển vượt trội về kinh tế, TP.HCM còn đối mặt với các vấn đề xã hội như tệ nạn xã hội và thất nghiệp; gần đây các kênh truyền thông đưa tin ngày càng nhiều về tỉ lệ người tự tử tại TP.HCM có xu hướng tăng, trở thành một trong những nguyên nhân gây tử vong sau tai nạn giao thông và chết vì bệnh Đặc biệt, đối tượng tự tử ở lứa tuổi thanh thiếu niên ngày càng nhiều, chiếm tỉ lệ cao hơn so với các nhóm tuổi khác, khiến vấn đề này trở thành mối quan tâm của gia đình, nhà trường và xã hội. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU

7.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi tự tử nơi thanh thiếu niên tại Thành phố

Hồ Chí Minh hiện nay

Thanh thiếu niên có ý tưởng và hành vi tự tử từ 15 – 24 tuổi đang sống tại TP.HCM

Lý do chọn thanh thiếu niên làm đối tượng nghiên cứu là vì giai đoạn này họ không phải là trẻ em và cũng chưa đạt đến mức trưởng thành, khiến cuộc sống trở nên phức tạp khi họ tìm kiếm bản sắc riêng, đối mặt với các tương tác xã hội và phải xử lý các vấn đề đạo đức Lứa tuổi này dễ bị ảnh hưởng từ các tác nhân bên ngoài như áp lực từ bạn bè, môi trường học đường và sự tác động của công nghệ, từ đó nổi bật nhu cầu hiểu rõ quá trình phát triển, hành vi và các thách thức tâm lý liên quan đến thanh niên.

Theo học thuyết phát triển tâm lý xã hội của Erik Erikson, giai đoạn thanh thiếu niên bắt đầu bước vào cuộc sống mới và đối mặt với nhiều áp lực từ công việc, tình yêu đôi lứa, học hành, gia đình và xã hội, dễ dẫn tới căng thẳng và khủng hoảng tâm lý Xét ở góc độ quan hệ xã hội, đây là thời kỳ mà vai trò của người lớn có thể bị nhìn nhận thấp đi, trong khi thanh thiếu niên tự nâng vị thế và giành nhiều quyền quyết định hơn, thậm chí quyết định cả mạng sống của mình Như vậy, khoảng cách giữa thanh thiếu niên và người lớn có xu hướng tăng lên so với trước, khiến sự gần gũi và tương tác giữa các thế hệ trở nên ít mật thiết hơn.

PHƯƠNG PHÁP VÀ KĨ THUẬT NGHIÊN CỨU

8.1 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu

Khác với mục tiêu của nghiên cứu định lượng nhằm khái quát hóa kết quả cho một tổng thể lớn, nghiên cứu định tính tập trung vào tìm kiếm dữ kiện phong phú bằng cách chú trọng thông tin bề sâu thay vì bề rộng, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc hơn Việc chọn mẫu trong nghiên cứu định tính không dựa trên ngẫu nhiên hay các nguyên tắc cứng nhắc mà mang tính hệ thống và linh động, giúp tiếp cận sâu các hiện tượng Có nhiều cách chọn mẫu khác nhau như: chọn mẫu theo các cực (trường hợp lệch chuẩn giữa các cực đối nghịch nhau), chọn mẫu theo cường độ, chọn mẫu đồng nhất, chọn mẫu không đồng nhất, mẫu các trường hợp điển hình, mẫu tích lũy, mẫu cơ hội và mẫu các trường hợp quan trọng Dựa vào câu hỏi nghiên cứu, mục tiêu đề tài và nhóm thực hiện, đồng thời cân nhắc các hạn chế như thời gian tiến hành ngắn và kinh phí hạn chế, nhóm quyết định sử dụng phương pháp chọn mẫu tích lũy.

Mẫu tích lũy là kỹ thuật lấy mẫu nhằm xác định các trường hợp liên quan bằng cách nhờ người tham gia hoặc các đối tượng liên quan chỉ ra những cá nhân hoặc nhóm có liên quan đến nội dung nghiên cứu và có thể giới thiệu những người khác cùng đặc điểm Phương pháp này dựa vào mạng lưới liên hệ của đối tượng và nhấn mạnh vào kinh nghiệm cũng như cái nhìn sâu sắc của họ về vấn đề đang được nghiên cứu Nhờ đó, mẫu được mở rộng dần thông qua các mối liên hệ liên kết, phù hợp cho những nhóm khó tiếp cận hoặc khi dữ liệu ban đầu còn hạn chế.

Khả năng đưa vào mẫu có mục tiêu thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên giúp rút ngắn thời gian tìm kiếm và tăng cơ hội phỏng vấn sâu Phỏng vấn những người quen mang lại niềm tin, sự cởi mở và thông tin có tính chính xác cao, góp phần nội dung thông tin có chiều sâu và phù hợp với mục tiêu nghiên cứu Ngược lại, với những người lạ khi đề tài liên quan đến việc tự tử, nhóm nghiên cứu gặp khó khăn trong tiếp cận và phỏng vấn họ thường chia sẻ chi tiết ít hơn, thể hiện ít cảm xúc chân thật, làm giảm ý nghĩa và độ sâu của dữ liệu.

Quá trình tìm kiếm đối tượng phỏng vấn được nhóm nghiên cứu thực hiện theo trình tự: trước hết nhóm tận dụng các mối quan hệ sẵn có từ bạn đại học, bạn cấp hai, cấp ba, bạn làm thêm và người quen Kết quả, 6 người đã từng có hành vi tự tử đồng ý tham gia phỏng vấn Sau đó, 6 người này giới thiệu thêm 7 người khác cũng đã từng có hành vi tự tử mà họ quen biết; tuy nhiên trong quá trình liên hệ có 3 người bận việc phải về quê, có người ngại chia sẻ và không muốn nhớ lại quá khứ, nên nhóm chỉ phỏng vấn thêm được 4 người Tổng cộng sau nhiều lần liên hệ nhóm đã phỏng vấn sâu được 10 người.

8.2 Phương pháp thu thập dữ liệu Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp định tính, nhằm tìm hiểu đầy đủ hơn về hoàn cảnh cụ thể của mỗi đối tượng, các mối quan hệ gia đình, bạn bè, nhà trường và quan trọng nhất là đi sâu vào phân tích những suy nghĩ bên trong tác động đến hành vi tự tử của đối tượng

Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng phỏng vấn sâu làm phương pháp thu thập thông tin chủ yếu, được thực hiện theo phương pháp bán cấu trúc dựa trên bảng câu hỏi gợi ý Các câu hỏi sẽ linh hoạt thay đổi tùy theo nội dung câu chuyện và cảm xúc của đối tượng trong quá trình phỏng vấn Phỏng vấn sâu nhằm cố gắng khám phá những điều còn ẩn chứa bên dưới bề mặt hiện tượng, đồng thời làm rõ diễn biến bên trong cá nhân bao gồm cả quá trình trước và sau khi đã tự tử.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến cho thấy cuộc sống của các đối tượng tham gia phỏng vấn có thể đổi thay thế nào khi thông tin từ phỏng vấn sâu mang lại sự sâu sắc và mới mẻ hơn Để các người được phỏng vấn có thể nói một cách thoải mái, nhóm nghiên cứu cam kết bảo mật thông tin cá nhân và dữ liệu liên quan Do đó, khi trích dẫn những câu nói của người được phỏng vấn, nhóm nghiên cứu sẽ không gắn tên thật mà thay bằng ký hiệu hoặc chữ viết tắt, nhằm đảm bảo tính ẩn danh và bảo vệ sự riêng tư.

8.3 Phương pháp xử lý thông tin

Trong bài nghiên cứu chúng tôi xử lý thông tin chủ yếu bằng phương pháp: xử lí thông tin theo nội dung cuộc phỏng vấn

Cụ thể, các cuộc phỏng vấn sẽ được ghi âm và ghi lại thành văn bản, sau đó nhóm nghiên cứu tháo băng ghi âm và phân loại thông tin theo từng phần nội dung Các câu trả lời giữa các đối tượng có sự tương đồng được nhận diện và từ đó nhóm nghiên cứu chọn lọc những thông tin phù hợp để phân tích.

8.4 Đạo đức trong nghiên cứu

Trong quá trình thu thập thông tin chúng tôi sẽ:

 Giữ tính vô danh của người được nghiên cứu

 Tránh hỏi những câu hỏi nhạy cảm đến đối tượng

 Không ép buộc nếu đối tượng không muốn trả lời

 Giữ đúng ý của người trả lời

 Ghi chú thích rõ ràng nguồn gốc, xuất xứ của tài liệu khi đưa vào bài nghiên cứu.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

9.1 Một số lý thuyết áp dụng

9.1.1 Lý thuyết “hành động xã hội” Max Weber

Theo M Weber định nghĩa Xã hội học là khoa học giải nghĩa hành động xã hội và tiến tới một cách giải thích nhân quả về đường lối và hệ quả của hành động xã hội Nếu nghiên cứu hành động xã hội chỉ dựa trên các đặc điểm quan sát được từ bên ngoài thì không đủ, thậm chí không có ý nghĩa xã hội Do đó, để hiểu rõ xã hội, cần kết hợp phân tích động cơ và hậu quả của hành động xã hội trong bối cảnh xã hội rộng lớn hơn.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến nhấn mạnh nhu cầu thấu hiểu hiện tượng xã hội từ quan điểm của những người trong cuộc Ông cho rằng chúng ta cần vượt ra ngoài phạm vi quan sát để đi sâu lý giải động cơ, quan niệm và thái độ của các cá nhân, và làm sáng tỏ xem những chuẩn mực văn hóa, hệ giá trị cùng những hiểu biết cá nhân đã ảnh hưởng như thế nào đến hành động của họ Do đó, việc quan tâm nghiên cứu đời sống của các cá nhân và cách họ nhận thức, ứng xử trong môi trường xã hội cụ thể chính là chìa khóa để hiểu mối liên hệ giữa nhận thức và hành vi.

Mỗi con người chúng ta thể hiện những hành động khác nhau nhằm thực hiện động cơ và mục đích riêng của mình; hành động do cá nhân hay nhóm thực hiện, nhưng luôn chịu ảnh hưởng của bối cảnh xã hội Tùy thuộc vào mục đích và động cơ, chúng ta có nhiều loại hành động như hành động xã hội, hành động cá nhân và hành động tập thể Hành động xã hội là sự trao đổi trực tiếp giữa các cá nhân và các khuôn mẫu quan hệ đã được cấu trúc hóa trên các nhóm, tổ chức và thiết chế xã hội; nó là hành động mà người thực hiện gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan, có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác trong đường lối và quá trình của nó Một hành động mà cá nhân không nghĩ tới hay thiếu ý thức có thể không được xem là hành động xã hội Người ta không chỉ hành động vì lợi ích mà còn vì ý nghĩa mà họ cho là có giá trị, vì vậy Weber đưa ra một hệ thống mẫu gồm bốn kiểu hành động.

Hành động duy lý là quá trình ra quyết định có sự cân nhắc và tính toán, trong đó mục tiêu được xác định rõ ràng và tiêu chí đánh giá được đưa ra trước khi chọn công cụ hay phương tiện phù hợp Người hành động duy lý sẽ xem xét kỹ các lựa chọn, phân tích chi phí và lợi ích, đánh giá khả năng thực thi và kết quả mong đợi để chọn công cụ, phương tiện và cách tiếp cận tối ưu nhất Nhờ vậy, mỗi hành động được hướng tới tối ưu hóa hiệu quả và đạt được mục tiêu với nguồn lực được sử dụng hợp lý, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể.

Thứ hai, hành động duy lý giá trị là hành động được thực hiện vì bản thân hành động ấy, tức là mục đích tự thân của hành động Tuy nhiên, loại hành động này có thể nhắm tới những mục tiêu phi lý, nhưng quá trình thực hiện lại dựa trên các công cụ và phương tiện duy lý.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 15

Thứ ba, hành động duy lý – truyền thống là loại hành động tuân thủ các thói quen, nghi lễ và phong tục tập quán đã được truyền lại từ đời này sang đời khác Đây là cách thức hành xử dựa trên giá trị và chuẩn mực lâu đời, giúp duy trì sự ổn định xã hội và sự gắn kết của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Thứ tư, hành động duy cảm là những hành động xuất phát từ trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm của con người mà thiếu sự cân nhắc, xem xét mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động Tuy nhiên, không phải mọi hành động theo cảm xúc đều là hành động duy cảm; chỉ những hành động mà cảm xúc đó liên quan đến người khác và ảnh hưởng đến họ mới được xem là duy cảm.

Dựa vào lý thuyết hành động xã hội của Max Weber, hành vi tự tử của thanh thiếu niên tại TP.HCM có thể được xem như một hành động xã hội có mục đích; trước khi quyết định thực hiện hành động, các em đã trải qua quá trình suy nghĩ có ý thức và xác định mục tiêu cho hành động, đồng thời hành động này phải tính đến sự tồn tại và phản ứng của những người xung quanh Đây không phải là hành động vô thức hay do bệnh tâm thần, tâm lý, hay do rượu chè, mà ngược lại, các thanh thiếu niên tự tử theo hướng hành động xã hội đều có mục đích rõ ràng trong lựa chọn của mình.

9.1.2 Quan điểm “xã hội học thấu hiểu” Max Weber

Theo quan niệm xã hội học thấu hiểu của Max Weber, mọi hành động xã hội đều bắt nguồn từ các động cơ thúc đẩy nằm sẵn trong ký ức của chủ thể; do đó, để nghiên cứu một hành động xã hội, người làm nghiên cứu phải xác định và phân tích những động cơ này Nhiệm vụ của nhà xã hội học là mô tả, lý giải và thấu hiểu thực tại khách quan được chủ quan hóa, bằng cách đặt mình vào hoàn cảnh của từng đối tượng và đi sâu vào thế giới nội tâm của họ Con người không chỉ hành động như phản xạ mà còn bị chi phối bởi thế giới nội tâm gồm tình cảm và tư duy; khác với động vật, con người sống với ba chiều thời gian—quá khứ, hiện tại và tương lai—và có tri thức, cảm xúc, biết suy nghĩ, dự tính Vì vậy, hành động của họ mang tính ý thức, có căn cứ phản tư và luôn hướng tới những mục tiêu xác định Nói cách khác, hành động xã hội được giải thích qua ý định và nhận thức của chủ thể, trong bối cảnh các động cơ và mục tiêu mà họ hướng tới.

Theo quan niệm GVHD do ThS Lê Minh Tiến trình bày, động lực hành vi của con người gắn với ý nghĩa chủ quan và các chủ thể có thể chia sẻ ý nghĩa ấy với nhau Ý nghĩa chủ quan này chính là hiện thực khách quan của xã hội, đóng vai trò là nền tảng để hiểu, diễn giải và hình thành các hành động cũng như quan hệ xã hội trong đời sống hàng ngày.

Mặc dù Xã hội học thấu hiểu của M Weber thừa nhận tính khách quan của các hiện tượng xã hội nhưng không đồng nhất với tính khách quan của các vật hay hiện tượng trong thế giới tự nhiên Theo quan niệm này, tính khách quan là sự tồn tại của những hiện tượng vừa chịu ảnh hưởng từ các yếu tố bên ngoài vừa mang dấu ấn của con người và hiện hữu ngay trong chủ thể hành động Trong mỗi chủ thể hành động, có một thế giới tinh thần vô cùng phức tạp, nơi sự đấu tranh giữa cái chân và cái giả, giữa cái thiện và cái ác, giữa cái đẹp và cái xấu, giữa cái cao thượng và cái thấp hèn diễn ra liên tục Thế giới tinh thần ấy thể hiện một thực tại khách quan, đóng vai trò chi phối mọi hoạt động của con người với tư cách là chủ thể hành động Tuy vậy, thực tại khách quan này không được hình thành theo một quy luật tự nhiên mặc định mà xuất phát từ việc con người gán ý nghĩa cho thế giới và cho các hành động của họ.

Vì vậy, phân tích hành vi tự tử không phải là khoa học thực nghiệm tìm kiếm các quy luật phổ quát mà là khoa học diễn giải và tìm kiếm ý nghĩa của hành động ấy Tuy nhiên, chúng ta cần thấu hiểu nó để nắm bắt và lý giải mọi hiện tượng đang diễn ra trong đời sống xã hội của nhóm thanh thiếu niên từng thực hiện hành vi tự tử Theo trường phái thấu hiểu của Max Weber, chúng ta không bác bỏ sự tác động của các yếu tố xã hội, nhưng trong quá trình hình thành hành vi tự tử ở thanh thiếu niên thì yếu tố cá nhân có quyết định nhiều hơn Tức là mỗi thanh thiếu niên đều có ý thức: suy nghĩ, cảm xúc, nhận định về bản thân; hành động của họ nảy sinh từ các ý nghĩ chủ quan Để giải thích vì sao thanh thiếu niên chọn thực hiện hành vi tự tử, ta phải đặt mình vào từng tình huống của cá nhân để hiểu động cơ đằng sau hành động Thay vì xem hành vi tự tử bị quyết định chủ yếu bởi xã hội, ở đây ta xem xã hội là sản phẩm chính của các ý thức và hành động của từng cá nhân.

Nội dung nghiên cứu về hoạt động con người nhấn mạnh rằng hành vi tự tử của thanh thiếu niên được quyết định bởi động cơ và nhận thức của chính chủ thể, chứ không cho rằng nó bị chi phối trước hết bởi các yếu tố bên ngoài Tùy từng trường hợp, hành vi tự tử được gán cho một ý nghĩa tương ứng với động cơ riêng của mỗi người, và có những người chọn tự tử để thoát khỏi những khó khăn, áp lực, hoặc để cho người khác phải hối hận.

9.1.3 Phương pháp luận “các loại hình lý tưởng”

Loại hình lý tưởng là một phương pháp nghiên cứu đặc biệt nhằm làm nổi bật những khía cạnh, đặc điểm và tính chất nhất định của bản chất hiện thực xã hội Theo Max Weber, loại hình lý tưởng là công cụ khái niệm để phân tích và nhấn mạnh những thuộc tính chung, cơ bản và quan trọng nhất của hiện tượng xã hội, chứ không phải để mô tả thuần túy Nó nhằm định hướng cho quá trình tìm tòi và làm cơ sở cho việc xây dựng các giả thuyết nghiên cứu Dựa trên mức độ khái quát và nhấn mạnh của loại hình lý tưởng, Weber phân biệt ba dạng loại hình lý tưởng.

Dạng thứ nhất của phân loại là loại hình lý tưởng – sự kiện, nhằm khắc họa một kiểu hình từ các tình huống xã hội, bối cảnh văn hóa và thời kỳ lịch sử cụ thể Hình thức này tập trung mô tả diễn biến sự kiện trong bối cảnh xã hội, nêu bật các yếu tố văn hóa và mốc thời gian, từ đó mang lại cái nhìn sâu sắc về cách thức hoạt động của thời đại và cộng đồng liên quan.

NHỮNG GIỚI HẠN TRONG NGHIÊN CỨU

Giới hạn về đối tượng nghiên cứu stem từ tính nhạy cảm cao của đề tài và khó xác định chính xác những người đã thực hiện hành vi tự tử, khiến nhóm nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tìm hiểu thông tin và xác định mẫu nghiên cứu phù hợp Việc tiếp cận đối tượng chủ yếu dựa vào các mối quan hệ trong cộng đồng nên số lượng mẫu nghiên cứu bị giới hạn; đồng thời, quá trình thu thập thông tin còn chịu ảnh hưởng từ yếu tố cá nhân và gia đình Đa số đối tượng đã trải qua thời kỳ khủng hoảng tâm lý, nên việc tiếp cận và thu thập dữ liệu càng khó khăn, đặt ra nhiều thách thức cho nghiên cứu về hành vi tự tử và các yếu tố liên quan.

 Giới hạn về tài liệu: Tự tử không phải là vấn đề mới trong xã hội, mặc dù đã có nhiều bài báo, tạp chí…đưa tin về vấn đề này nhưng vẫn thiếu vắng bóng dáng

Chủ thể Ý định tự tử

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 23 của các tài liệu có liên quan Từ các tài liệu tiếng Việt mang tính khoa học đến các cuộc nghiên cứu cũng rất ít và hầu như không có Hầu hết số liệu do địa phương, bệnh viện, các cơ quan có thẩm quyền tổng hợp và cung cấp mà chưa có một thống kê nào cụ thể, rõ ràng nào về vấn đề này Vậy nên nhóm nghiên cứu còn gặp nhiều hạn chế trong việc tìm kiếm số liệu thực tế

Giới hạn về thời gian ảnh hưởng đáng kể đến độ sâu của một cuộc nghiên cứu định tính Một nghiên cứu định tính chất lượng tốt thường đòi hỏi thời gian nghiên cứu kéo dài để có thể suy nghĩ và phân tích một cách sâu sắc hơn Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ diễn ra trong vòng ba tháng nên chưa đủ điều kiện để đi sâu lý giải và trình bày các phát hiện ở mức độ chi tiết.

Những giới hạn về kỹ năng của nhóm nghiên cứu được xác định ở hai khía cạnh chính: trình độ chuyên môn còn hạn chế và khả năng ngoại ngữ chưa cao, gây khó khăn trong việc tìm kiếm và tiếp cận tài liệu nước ngoài để làm phong phú đề tài Thiếu nguồn tài liệu nước ngoài chất lượng khiến việc tham khảo và đối chiếu các nguồn quốc tế gặp trở ngại, ảnh hưởng đến độ sâu và tính cập nhật của nghiên cứu Để cải thiện bối cảnh nghiên cứu, cần tăng cường đào tạo kỹ năng chuyên môn và ngoại ngữ cho thành viên nhóm, đồng thời thiết lập mạng lưới hợp tác với các đối tác quốc tế nhằm mở rộng nguồn tài liệu và nâng cao chất lượng đề tài.

Những hạn chế của đề tài và trình độ của nhóm nghiên cứu vẫn chưa được hoàn thiện, khiến phạm vi và độ sâu của kết quả còn hạn chế Do đó, chúng tôi hy vọng đề tài sẽ được mở rộng và bổ sung thêm ở các nghiên cứu tiếp theo để tăng cường độ tin cậy và mở rộng phạm vi ứng dụng của kết quả nghiên cứu.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 24

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

DUNG CỦA NHÓM ĐỐI TƯỢNG 2.1 TÓM TẮT NỘI DUNG, DIỄN TIẾN CÁC CUỘC PHỎNG VẤN

2.1.1 Cuộc phỏng vấn thứ nhất: Trường hợp bạnN.T.K.U, 21 tuổi

Bạn N.T.K.U Là con một trong gia đình, sinh ra và lớn lên tại Nha Trang, hiện nay

U, 21 tuổi, là sinh viên của một trường đại học danh tiếng tại TP.HCM, tự nhận mình sống nội tâm và khép kín, thích ở một mình, đọc sách và xem phim một mình Ước mơ từ nhỏ của U là được làm việc trong ngành mỹ thuật, nhưng vì điều kiện gia đình và sự ổn định cho cuộc sống sau này nên bản thân chọn học luật Vốn không hoạt bát như các bạn đồng trang lứa, nên đến năm cấp ba U chỉ có hai người bạn thân.

U cho rằng cô có thể “nói chuyện” được, còn lại thì cô hoàn toàn bị tách biệt bởi mọi người trong lớp

Những năm cấp ba được xem là giai đoạn đầy thử thách với U khi chứng kiến cha mẹ ngoại tình và đứng trước nguy cơ tan vỡ gia đình, nhất là khi người tình của mẹ nói sẽ nuôi dưỡng và chăm sóc cho U U đã thẳng thắn trao đổi với cha mẹ và mọi chuyện dần được dàn xếp ổn thoả Bên cạnh đó, áp lực từ thầy cô ở trường khiến U cảm thấy bị chèn ép ở mọi mặt, dẫn đến sự hoảng sợ và không muốn đến trường Mất niềm tin vào gia đình, vào học tập và vào cuộc sống khiến hai người bạn thân vì bận học cũng không thể sẻ chia Suốt hai năm cuối cấp, U cảm thấy bản thân không thể gắng gượng nữa và thiếu một nơi làm điểm tựa Khi cha mẹ đi công tác xa, U quyết định uống thuốc ngủ như một cách thoát khỏi áp lực và tìm kiếm sự quan tâm từ những người xung quanh mà trước nay U chưa có được.

TIẾN TRÌNH NẢY SINH Ý ĐỊNH TỰ TỬ VÀ THỰC HIỆN HÀNH VI

GIAI ĐOẠN NHẬN SỰ GIÁO DỤC TỪ GIA ĐÌNH

Trong phần này, các giai đoạn được sắp xếp theo trục thời gian để làm rõ quá trình hình thành bản sắc cá nhân Đầu tiên là giai đoạn tiếp nhận sự giáo dục từ gia đình, nơi xã hội hóa bắt đầu thông qua các tương tác gia đình và sự thừa hưởng hệ giá trị chung Tại đây, các cá nhân được giáo dục và trau dồi về mặt nhận thức, giá trị và tình cảm, hình thành nền tảng nhận thức và hành vi Nguyên nhân của quá trình này bắt nguồn từ môi trường gia đình và sự lặp lại các chuẩn mực văn hóa, giúp cá nhân củng cố quan niệm và cách xử lý tình huống từ những năm đầu đời Tiếp đó, quá trình xã hội hóa mở rộng ra ngoài gia đình, khi cá nhân hòa nhập với nhà trường, bạn bè và cộng đồng, từ đó tiếp tục phát triển và mở rộng hệ giá trị, kiến thức và kỹ năng hành vi xã hội.

GVHD là giai đoạn được ThS Lê Minh Tiến nhấn mạnh, bởi mọi gì mà cá nhân nhận được ở đây sẽ phản ánh và hình thành nhận thức ở các giai đoạn sau Những biến cố xuất hiện trong giai đoạn này có tác động rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến giai đoạn tiếp theo, từ đó hình thành những suy nghĩ chủ quan của cá nhân.

Trong bài nghiên cứu với 10 đối tượng tham gia phỏng vấn chúng tôi nhận thấy có

Có 4 kiểu mô hình giáo dục gia đình phổ biến: mô hình giáo dục gia đình độc đoán, chú trọng kỷ luật nghiêm ngặt và kiểm soát chặt chẽ; mô hình giáo dục gia đình dân chủ - nghiêm minh, kết hợp quyền tự do có giới hạn với sự tham gia của trẻ; mô hình giáo dục gia đình dễ dãi - nuông chiều, thiếu ranh giới và tiêu chuẩn nhất quán; và mô hình giáo dục thờ ơ – không quan tâm, thiếu sự chăm sóc và hướng dẫn, mỗi mô hình ảnh hưởng đến hành vi, học tập và sự phát triển của trẻ theo những cách khác nhau.

3.1.1 Mô hình giáo dục gia đình độc đoán

Trong mô hình giáo dục gia đình độc đoán thì có bạn: P.L, H, D

Mô hình giáo dục gia đình độc đoán có ảnh hưởng rõ nét đến quá trình hình thành tính cách của trẻ, được minh chứng qua trường hợp bạn D Trong gia đình D, cha mẹ nghiêm khắc và quyết định việc chọn ngành nghề cho con, ép D theo ngành an ninh truyền thống thay vì để D theo đuổi sở thích và năng lực để trở thành một nhà văn D không dám cãi lời và nghe theo sắp xếp của cha mẹ, dẫn đến áp lực học tập lớn vì sợ không thi đậu ngành mà cha mẹ mong muốn và sợ cha mẹ thất vọng Áp lực này ảnh hưởng đến động lực và tinh thần học tập của D, cho thấy tác động tiêu cực của giáo dục gia đình độc đoán đối với sự phát triển cá nhân.

D cho biết ước mơ thật sự của mình là trở thành một nhà văn, khát vọng theo D từ khi còn nhỏ Theo sự định hướng của bố mẹ, D đã thi vào trường An ninh và thừa nhận từ trước tới giờ chưa bao giờ dám cãi lời bố mẹ, nên sẵn sàng chấp nhận mọi quyết định của gia đình.

Bạn D cho biết thời điểm khó khăn nhất là khi bắt đầu học kỳ hai của lớp 12, một phần vì phải lựa chọn giữa hướng đi gia đình mong muốn và con đường bản thân mình muốn theo đuổi, một phần nữa là do lo sợ kết quả học tập sẽ không đủ để đậu vào một trường đại học nào đó.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 39

Một phần nguyên nhân dẫn tới ý nghĩ tự tử của D là áp lực từ gia đình, khi cha mẹ làm trong ngành an ninh và kỳ vọng về thành tích học tập quá cao D cho biết mình sợ trượt Đại học nên nghĩ nếu chết đi sẽ không phải thi Đại học nữa, như một cách giải thoát khỏi áp lực ấy Vì sợ phải đối mặt với mọi vấn đề, D quyết định trốn tránh thay vì đối diện tình huống.

Trường hợp của bạn D cho thấy rõ sự ảnh hưởng của giáo dục gia đình đến quyết định cá nhân Sống trong gia đình có giáo dục độc đoán khiến trẻ không dám nói theo sở thích hay phản đối, mà phải làm theo lựa chọn của cha mẹ Áp lực lớn nhất mà D đối mặt là chuyện học tập và làm sao để thi đậu ngành an ninh như mong đợi của cha mẹ, nhất là khi anh trai D đã thi đậu và D không muốn làm cha mẹ thất vọng vì mình.

3.1.2.Mô hình giáo dục gia đình dân chủ- nghiêm minh

Trong mô hình giáo dục gia đình dân chủ-nghiêm minh, trường hợp của bạn V nổi bật nhờ gia đình luôn tôn trọng và ủng hộ các quyết định, ý tưởng của con, cho phép con tự quyết định mọi vấn đề cá nhân và chỉ can thiệp bằng lời khuyên khi thật sự cần thiết Nhờ môi trường nuôi dưỡng tự lập và tôn trọng ý kiến, V phát triển tính tự lập cao, ý chí mạnh mẽ và dễ dàng vượt qua áp lực, thách thức trong học tập cũng như trong đời sống.

Một V chia sẻ: “Ngay từ nhỏ là mình đã tự lập rồi đó Mình tự lập như cái kiểu là, ví dụ như hồi học cấp một đi nha: khi mua cái gì là mình tự mua, ý là mẹ chở đi mua xong mình tự chọn vậy đó, chứ mình hông có muốn bị áp đặt vậy đó, hoặc là mình không muốn được quan tâm quá mình muốn tự làm hết nên khi có vấn đề gì á thì mình cũng không có kể cho mẹ hay gia đình nghe”

Bạn V nói về gia đình: bố mẹ rất là tôn trọng mình, càng lớn thì bố mẹ càng tôn trọng quyết định của mình hơn

Khi áp lực từ việc học tập đi xuống, bạn V chia sẻ rằng lúc ấy thấy mình sa sút và rất buồn, nhưng đây không phải là thất vọng nặng nề hay quá lớn mà chỉ mang một sự thất vọng nhẹ Lúc đó mình cũng cảm thấy cần nhìn lại quỹ thời gian và cách học, điều chỉnh kế hoạch để lấy lại động lực và tiến bộ.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 40 cho thấy câu chuyện của bản thân khi nhận ra mình làm bố mẹ thất vọng, đồng thời tin mình có thể làm tốt hơn nếu chịu cố gắng; sống trong gia đình dân chủ – nghiêm minh khiến cái tôi cá nhân rất cao, và bạn V nhận thấy mình có thể học tốt hơn nhiều nhưng lại thiếu nỗ lực nên tự mình thay đổi Đối diện với áp lực, V từng tìm đến giải pháp là tự làm đau bản thân, cắt tay; với ý chí kiên định, nhận ra hành động đó không giải quyết được vấn đề và quyết tâm từ bỏ thói quen này Dù cảm giác đó có thể đỡ đừng, sự tuyệt vọng ngày càng lớn khiến nó không giúp ích cho mình, nên sau nhiều lần nhận ra kết quả như vậy V quyết tâm bỏ thói quen như vậy.

Bạn V nhận được sự ủng hộ rất lớn từ gia đình: “cũng có tại vì lúc thi đại học V biết chắc là mình sẽ không đậu đại học cái trường mà mình yêu thích V nghĩ đậu đại học cũng là một niềm vinh dự to lớn cho gia đình rồi, nên cũng cố gắng được gì thì cố gắng, thì V đậu bên tài chính cũng 20 điểm V cố gắng V học, nhưng mà thấy không hợp với mình nên đưa ra nguyện vọng với bố mẹ Thì bố mẹ củng khuyên là

Khi thực sự muốn thay đổi, hãy bắt đầu bằng hành động Trong gia đình, bố mẹ V quan tâm đến cảm nhận của con cái nên khi V gặp áp lực có thể tâm sự với bố mẹ để cùng tìm ra cách giải quyết; V cũng có thể thẳng thắn trình bày quan điểm cá nhân với bố mẹ, nhờ đó quá trình vượt qua áp lực của V trở nên nhẹ nhàng hơn so với các bạn khác trong bài nghiên cứu.

3.1.3 Mô hình giáo dục gia đình dễ dãi- nuông chiều

Trong nhóm đối tượng tham gia phỏng vấn, mô hình giáo dục gia đình dễ dãi, nuông chiều vẫn xuất hiện và có liên quan đến nguy cơ trẻ tự tử Khi đời sống vật chất được nâng cao và kinh tế ngày càng phát triển, nhiều gia đình chỉ có từ một đến hai con, khiến cha mẹ dễ dàng đáp ứng mọi mong muốn của con cái, từ mua sắm đến các hoạt động chúng thích Tuy nhiên, nuông chiều quá mức có thể dẫn đến lệ thuộc cho trẻ, thiếu kỹ năng tự lập, và khi đối mặt với áp lực cuộc sống, trẻ khó tự giải quyết vấn đề, từ đó gia tăng rủi ro rối loạn tâm lý và các hành vi tiêu cực.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 41

GIAI ĐOẠN GẶP ÁP LỰC – KHÓ KHĂN

Giai đoạn này là một phần của quá trình phát triển tâm lý, khi mỗi người nhận thức về bản thân và xây dựng hình ảnh cá nhân, tự hỏi "mình là ai" và "mình như thế nào" Sự tự nhận thức và hình ảnh bản thân được hình thành phần lớn dựa trên cách họ lý giải và đánh giá của người khác về mình, từ đó ảnh hưởng đến cách họ nhìn nhận bản thân và hành xử trong cuộc sống.

Có thể coi đây là giai đoạn mà các đối tượng bắt đầu đối mặt với áp lực, khó khăn và những bất mãn trong cuộc sống Nghiên cứu cho thấy giai đoạn này thường rơi vào độ tuổi bắt đầu có sự thay đổi đáng kể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tâm lý, cũng như các yếu tố bên ngoài tác động tới cuộc sống hàng ngày.

Từ mười tuổi trở lên, trẻ trải qua biến đổi về tâm lý theo các giai đoạn phát triển của Erik Erikson, đặc biệt là ở tuổi vị thành niên Giai đoạn này đánh dấu sự thay đổi mạnh mẽ trong nhận thức, cảm xúc và cách trẻ tự nhìn nhận bản thân Đồng thời, nhiều tác động từ xã hội, áp lực từ gia đình, bạn bè và môi trường học tập tác động đến quá trình hình thành bản sắc và lòng tự tin của trẻ Các khó khăn quanh họ khiến trẻ phải đối mặt với thách thức về nhận thức bản thân và vị thế của mình trong xã hội Vì vậy, sự hỗ trợ phù hợp từ gia đình, nhà trường và cộng đồng là rất quan trọng để trẻ phát triển một cái nhìn tích cực về bản thân và khả năng tự điều chỉnh cảm xúc.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến cho rằng nền tảng giáo dục từ nhỏ là yếu tố then chốt để trang bị cho trẻ kỹ năng ứng xử với các tình huống trong xã hội Tuy nhiên, nhóm đối tượng được nghiên cứu hiện nay không nhận được sự quan tâm và dạy dỗ đúng cách từ thời thơ ấu, khiến họ đối mặt với áp lực xã hội một cách khó khăn.

Có thể thấy rõ được ba kiểu áp lực chính mà nhóm đối tượng gặp phải xuất phát từ các yếu tố gia đình, học tập và bạn bè

3.2.1 Kiểu áp lực từ gia đình

Trong độ tuổi vị thành niên cá nhân rất cần sự chia sẻ và thấu hiểu từ bậc cha mẹ

Trong nhiều gia đình, cha mẹ vì lo lắng cho công việc hoặc xảy ra bất hòa kéo dài mà bỏ mặc trẻ, chỉ chu cấp tiền mà không quan tâm đến sự phát triển tinh thần và tình cảm của con cái Khi cha mẹ đối mặt với mâu thuẫn hoặc ngoại tình dẫn đến li thân, ly dị, trẻ thường đóng vai người hòa giải hoặc chứng kiến cảnh đổ vỡ khiến tâm lý bị tổn thương và cảm thấy thiếu vắng tình thương Tình trạng này dễ làm trẻ mất niềm tin vào gia đình, dẫn đến cáu gắt, dễ tổn thương cảm xúc, trầm cảm, cô đơn, suy giảm kết quả học tập và xa lánh bạn bè, thậm chí dễ sa ngã vào các tệ nạn xã hội hoặc có ý nghĩ tự hại bản thân.

Trong khoảng thời gian ấy, mình phát hiện mẹ có người khác và sự việc trở nên nghiêm trọng đến mức mình đọc được tin nhắn của người ấy nói sẽ nuôi mình, như thể mẹ bỏ ba mình đi để họ lo hết, nuôi mình luôn Trước đó mình đã biết bố mình cũng có người khác, nhưng lúc ấy mối quan hệ của bố chỉ mới chớm, chưa sâu sắc Sau khi phát hiện ra, mọi chuyện được dập tắt, nghĩa là cắt đứt hoàn toàn.

K.L: “Có một chuyện là mình không tin tưởng bố mẹ, năm lớp 6 mẹ đọc nhật ký của mình á xong mình viết những điều rất là u ám tệ hại, về những điều bi quan đồ á, rồi lúc đó bố mẹ mới lôi đầu mình ra la mắng chưởi bới sống trong gia đình vậy

GVHD: ThS Lê Minh Tiến, 46 tuổi, vẫn có mong muốn được hiểu và kết nối với bố mẹ, nhưng thực tế bố mẹ không hiểu cuộc sống ở trường lớp và thế giới riêng của con cái nên mình cảm thấy không thể ghét bố mẹ nhưng lại xa cách và khó nói chuyện với họ nhiều; bố mẹ vẫn quan tâm từ xa nhưng trao đổi ít ỏi Bố mẹ không thích mình chơi với bạn bè hay giao lưu với người ngoài, muốn ở nhà quan tâm tới gia đình nhiều hơn, có thể là vì sợ mệt mình hoặc cho rằng những người ngoài không quan trọng đối với mình, theo mình nghĩ vậy.

Trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, mâu thuẫn về tiền bạc thường xuyên xảy ra Theo P.L, số tiền mình làm được gửi về cho mẹ, nhưng bố không được giữ tiền nên bị bạn bè của bố nói này nọ; cha lại được xem như chủ gia đình nhưng không có quyền quản lý gia đình Mỗi khoảng 3–5 ngày, bố về nhà trong tình trạng say xỉn, đánh mẹ và chửi bới mẹ, khiến P.L rất buồn Tuy vậy, từ nhỏ đến nay P.L chưa bao giờ nghĩ tới việc rời bỏ gia đình; dù gặp nhiều khó khăn, P.L vẫn cố gắng để chăm lo và tiếp tục làm việc vì gia đình.

Ngay từ khi sinh ra, mẹ đã tạo ra một áp lực lên con gái: phải lấy chồng nước ngoài, không được lấy người mình thương mà phải cưới chồng nước ngoài để phụ giúp gia đình Áp lực ấy khiến nhiều người phải lựa chọn hôn nhân ngoài ý muốn thay vì theo đuổi tình yêu đích thực, chỉ để đáp ứng kỳ vọng của gia đình và nhận được sự trợ giúp kinh tế cho tổ ấm.

Những mâu thuẫn, lục đục trong gia đình hay gia đình tan vỡ, cùng với những vụ việc ba mẹ tự tử, đã đẩy nhiều trẻ rơi vào trạng thái hụt hẫng ở mọi phương diện, khiến các em chán nản và mất niềm tin vào cuộc sống Trẻ em chịu ảnh hưởng sâu sắc và cần sự quan tâm, đồng hành của người lớn để vượt qua khó khăn và tìm lại sự bình yên trong tâm hồn.

Bạn N cho biết trong gia đình chỉ có một người được học lên cao, nên N cảm thấy mình như gánh nặng của tương lai, còn vị trí xã hội thì không quá quan trọng Vì vậy N quyết định phải cố gắng phấn đấu, để sau này khi đạt được thành công, giá trị bản thân và lời nói của mình được ghi nhận và có sức ảnh hưởng Điều này phản ánh động lực vượt khó và mong muốn khẳng định giá trị cá nhân thông qua học tập và nỗ lực không ngừng.

Hoàn cảnh gia đình khó khăn khiến mình nghĩ tới việc nghỉ học để ba má khỏe mạnh, mẹ thì vẫn muốn mình đi học và có tương lai; nhưng hoàn cảnh hiện tại buộc mình ở lại quê và dành một mùa để giúp gia đình chăm lo mùa màng Dù mẹ luôn động viên rằng học tập là con đường thoát nghèo, mình vẫn phải cân nhắc giữa ước mơ và trách nhiệm với gia đình Khi mùa vụ kết thúc, mong mình có thể quay lại trường và tiếp tục hành trình học tập.

Theo GVHD, ThS Lê Minh Tiến, 47 tuổi, cho biết gia đình anh dùng tiền để chi trả các khoản phí sinh hoạt Đến giữa năm, mọi chuyện trở nên lưng chừng, gia đình cảm thấy lục đục và nảy sinh nhiều mâu thuẫn dẫn tới các cuộc cãi vã và xích mích giữa các thành viên.

Cảm giác gánh nặng đè lên vai khi mình luôn phải đảm nhận một vai trò nào đó trong hoàn cảnh ấy Vì mình là người được đi học nên mọi thứ cứ đổ lên đầu mình, còn những người khác thì đã không có cơ hội học hành.

GIAI ĐOẠN XUẤT HIỆN Ý ĐỊNH TỰ TỬ

Áp lực từ gia đình, bạn bè và chuyện học tập khiến nhóm đối tượng cảm thấy chán nản và dần nảy sinh ý tưởng tự tử Kết quả nghiên cứu cho thấy ý tưởng tự tử thường xuất hiện khi một người chịu đồng thời hai kiểu áp lực có nguy cơ cao, khiến cuộc sống trở nên vô nghĩa và làm cho họ cảm thấy bị cô lập Đây là giai đoạn thanh thiếu niên phải chịu nhiều ức chế nội tâm, tư tưởng thường mâu thuẫn với nhau về vai trò bản thân và cách ứng xử với mọi người xung quanh Việc nhận diện sớm các yếu tố nguy cơ và kết nối với hỗ trợ tâm lý từ gia đình, nhà trường và cộng đồng có thể giúp các bạn trẻ vượt qua khó khăn và phòng ngừa hành vi tự hại.

Trong lời chia sẻ của N, N cho biết mục đích tồn tại của mình chỉ là ở đây và không làm gì cả; thậm chí N cảm thấy mình sống như vô dụng và có thể nói rằng nếu bớt đi một người thì cũng không sao N mô tả suy nghĩ ấy một cách rõ nét: nhiều lúc không làm được gì và thấy mình vô dụng đến mức muốn buông xuôi tất cả, không còn suy nghĩ nhiều nữa.

Ngày nào cũng làm việc căng thẳng, không có ngày nghỉ; ở nơi làm việc có nhiều drama và người ganh ghét Lúc rảnh rỗi, bạn bè rủ đi nhậu và đi chơi, khiến mình dần cảm thấy sa sút và mất động lực Ba mẹ ở nhà có thể không biết hết chuyện xảy ra, nên mình càng thấy mình tệ, ham chơi và quen với những người không tốt Nhiều lần sau khi đi nhậu về, mình thấy chán nản và mang thuốc về để đó.

Đêm xuống, về đến căn nhà một mình tôi cảm thấy cô đơn khi quanh quẩn không có ai ở bên cạnh Tôi khóc một mình và không dám kể cho mẹ nghe những gì đang day dứt trong lòng Mỗi lần mẹ gọi điện lên, tôi vẫn nói chuyện bình thường như mọi ngày, không dám nói thật cho mẹ biết Cứ im lặng như vậy, để cảm xúc dồn nén trong căn phòng tối.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 51

“Không phải tác động gì, là do mình suy nghĩ nhiều,chịu áp lực từ việc đó nên mình mới có hành động đó”

“Đã có ý nghĩ tự tử từ năm lớp 8, cũng do chuyện gia đình, muốn gia đình phải hối hận, nhưng lúc đó chưa làm, đến khi ở một mình học tập trong Sài Gòn thì cảm thấy tự bản thân phải gánh lấy nhiều thứ, khó chịu và áp lực” Trong lúc H học lớp 8, thì trong gia đình xảy ra mâu thuẫn giữa bố và mẹ, sự tranh cãi qua lại làm mẹ H không chịu nổi cảnh sống như vậy nên đã quyết định treo cổ tự tử Nhưng mẹ H đã được cứu sống H là người chứng kiến cảnh mẹ treo cổ tự tử nên lúc đó H rất hận bố mình Bạn H nói: “Lúc đó mình tận mắt chứng kiến nên là mình không quên được, cho đến tận bây giờ” và khi quyết định tự tử H “Không nghĩ đến bố chỉ nghĩ đến mẹ thôi, mình muốn bố là người hối hận nhất” Bạn H đã trải qua một cú sốc lớn khi mới mười lăm tuổi, chính sự kiện này đã làm cho H trở nên thất vọng về cuộc sống và dần nảy sinh ý định sẽ chết trong suy nghĩ của mình Mỗi cá nhân đều đưa ra những lý do về ý định tự tử của bản thân tuy nhiên có thể nhận thấy hầu hết họ có tâm lý tuyệt vọng, chán nản, cảm giác bất lực, nhìn nhận vai trò bản thân là dư thừa chán ghét bản thân và tự đẩy mình ra khỏi xã hội Và nguyên nhân đưa đến hình thành ý tưởng là cá nhân không biết làm cách nào để giải quyết những vấn đề, áp lực xảy đến mà thường tìm cách buông xuôi, giải thoát ngay khỏi hoàn cảnh mặt khác là do tính đến người khác mong muốn người khác phải hối hận, đau khổ hay nói đúng hơn là mong muốn sự quan tâm, sự chú ý từ người khác

Bài viết cho thấy trách nhiệm của truyền thông không chỉ là đưa tin đúng sự thật mà còn nhận diện rủi ro khi các nội dung liên quan đến tự tử xuất hiện trên sách, báo và mạng Internet, vì nó có thể vô tình trở thành nguồn tham khảo cho thanh thiếu niên Nhiều bạn trẻ cho biết họ tiếp cận thông tin qua sách báo và mạng xã hội, và có lúc nội dung liên quan đến tự tử đã gợi ý ý nghĩ hoặc làm nảy sinh ý định tự hại bản thân Điều này nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiểm soát và định hướng thông tin một cách có trách nhiệm, đồng thời tăng cường hỗ trợ tâm lý và các biện pháp can thiệp sớm cho thanh thiếu niên đang chịu áp lực.

GVHD ghi nhận lời của ThS Lê Minh Tiến, 52 tuổi, cho biết chỉ mua thuốc với số lượng hạn chế và phải mua ở nhiều nơi rồi ghép lại, dù không nhớ rõ con số chính xác, ước chừng vào khoảng vài trăm viên Khi được hỏi về việc có từng tìm hiểu về tự tử trước đó hay không, K.L đã chia sẻ quan điểm của mình về vấn đề này.

Có người cho rằng việc đọc nhiều về những chủ đề nhạy cảm có thể ảnh hưởng đến trạng thái tâm lý và hành vi Khi được hỏi về tác động của nó, K.L trả lời: "Chắc là có, vì khi mình đọc những thứ đó, những lúc điên loạn có thể là vô tình khiến mình bắt chước theo chúng."

GIAI ĐOẠN THỰC HIỆN HÀNH VI

Bạn D cho biết từ thời cấp 3 đã được định hướng từ khi vào lớp 10, và thời điểm thực hiện hành vi ấy được xác định vào khoảng học kỳ 2 của năm lớp 12.

Bạn L: “Vấn đề xảy ra vào năm lớp 10, khoảng thời gian thực hiện là học kì 2 của lớp 10 và sang lớp 11”

Bạn K.L: “Bắt đầu vào năm lớp 6, mâu thuẫn với gia đình, lên trường thì gặp vấn đề với thầy cô, bạn bè”

Bạn U: “Khoảng thời gian từ năm lớp 11 đến cuối năm lớp 12”

Bạn N: “Lớp 12 khoảng thời gian ôn thi đại học , khoảng thời gian năm nhất với năm hai”

Bạn T: “Từ hồi năm lớp 9 cảm thấy bị áp lực ”

Nhìn chung, các nghiên cứu cho thấy thời điểm gặp áp lực và giai đoạn thực hiện các hành vi liên quan chủ yếu rơi vào cấp 2 và cấp 3, đặc biệt là cấp 3; ở giai đoạn này học sinh cảm thấy chịu nhiều áp lực và gặp phải nhiều biến cố diễn ra.

Chia sẻ của D cho thấy hôm ấy giống như các cặp đôi quen nhau lâu dài: đôi khi vẫn có những lần chia tay rồi quay lại Mình và bạn trai mình cũng vậy, nhiều lần nói lời chia tay rồi sau đó làm lành Lần này bạn trai nói chia tay, và đây có vẻ là lần chia tay thật sự.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến, 53 tuổi, thật sự đã vượt qua sự lấp lửng của quá khứ và không còn lỡ dỡ như mấy lần trước Tuy vậy, áp lực học hành vẫn đè nặng khiến anh cảm thấy vô dụng, như ở đây nhưng không thể làm được bất kỳ việc gì Cảm giác cô độc quanh anh khiến anh nghĩ rằng không có ai ở bên, và lúc đó anh chìm trong hàng loạt suy nghĩ tuyệt vọng Nếu bạn đang trải qua cảm giác tương tự, hãy tìm người thân hoặc chuyên gia để trò chuyện, và tìm hỗ trợ khẩn cấp khi cần.

Bạn P.L kể lại khoảnh khắc gia đình rối ren khi ba mẹ cãi nhau và L gọi về Ba nói với L rằng từ L vốn dĩ không phải con của ba và bảo L đừng về nữa, coi như L không còn là thành viên của gia đình Cùng lúc đó, bạn trai của L cũng chia tay vì sự ngăn cấm từ gia đình L lúc ấy cảm thấy như mất hết tất cả, sống như mất ý nghĩa và không còn ai ở bên để tin tưởng hay dựa vào Trải qua áp lực gia đình và sự đổ vỡ trong tình cảm, L buộc phải đối mặt với nỗi đau và tìm cách vượt qua khủng hoảng tâm lý để tiếp tục bước đi.

Lúc ấy L nghĩ mình chẳng còn gì trong đầu, mọi suy nghĩ trở nên trống rỗng và nước mắt tuôn suốt đêm này sang đêm khác; việc đi làm cũng khó khăn vì trước đây mục tiêu của L là cố gắng cho gia đình, nhưng giờ gia đình dường như không còn cần đến L nữa, nên L tự nhủ rằng mình không còn phải cố gắng nữa.

Theo lời kể của đối tượng, những biến cố thường được cho là xảy ra khi người yêu nói lời chia tay Tuy nhiên, đây chỉ là động lực đẩy đối tượng hành động nhanh hơn, không phải nguyên nhân chính Nguyên nhân thực sự là những áp lực tâm lý mà đối tượng đã đối mặt, các áp lực đó đã hình thành ý tưởng tự tử từ trước đó.

Bạn K.L chia sẻ rằng khi bị đối xử như vậy, mình nghĩ sẽ để lại một bức thư sau khi chết để kể lại những gì họ đã làm và tệ đến mức nào Trong thư ấy, mình sẽ viết bằng một văn chương thật hoa mỹ và sắc bén để thể hiện rõ sự đối xử ấy Cảm giác nghĩ tới khoảnh khắc ấy là sự hả dạ, hả hê trỗi dậy trong lòng, như một sự giải tỏa trước nỗi ấm ức đã chịu.

Bạn D chia sẻ rằng lúc ấy mình cảm thấy có lỗi với bố mẹ và anh trai vì bản thân thường xa cách gia đình; mình biết sự xa cách ấy khiến mọi người có thể buồn, nhưng theo thời gian mọi chuyện sẽ qua Với bạn bè, họ cũng sẽ có những người bạn khác, nên mình nghĩ vậy.

GVHD: ThS Lê Minh Tiến 54

Trong trường hợp của D và L, dù họ vẫn nghĩ đến gia đình, cảm giác mình không còn được coi trọng hay có vai trò trong gia đình khiến họ tin rằng cuộc sống vẫn thế dù thiếu họ, từ đó mất động lực sống và dễ rơi vào ý nghĩ hoặc hành vi tự tử Bài viết nhấn mạnh nhận diện sớm các dấu hiệu rủi ro tâm lý, tăng cường kết nối với gia đình và sự can thiệp của chuyên gia tư vấn tâm lý để ngăn ngừa nguy cơ và giúp người trẻ tìm lại ý nghĩa sống, đồng thời khuyến khích người thân ở bên cạnh và tìm kiếm các dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp khi có nguy hiểm.

Sau nhiều lần như vậy, K.L chia sẻ rằng có một vài người bạn rất tốt với mình và luôn lo lắng cho cô, khiến cô nhận ra sự quan tâm ấy và cố bình tĩnh để không làm họ lo lắng thêm, vì nhìn gương mặt họ khiến cô thấy rất tội nghiệp và muốn dừng lại hành vi như thế Trong quãng thời gian ấy, K.L và U trở nên thân thiết; U từng trải qua cảm giác đau đớn về thể xác lẫn tinh thần sau một lần tự tử không thành Khi chứng kiến bạn bè mình có dấu hiệu tự làm đau bản thân, U và một số bạn khác càng quan tâm hơn đến K.L Nhờ tình bạn ở thời điểm đó, K.L dần bình tĩnh lại, quay về cuộc sống bình thường và không dễ bị kích động khi đối mặt với áp lực hay cú sốc.

V cho hay trong khoảng thời gian ấy gia đình vẫn áp lực và bố mẹ rất sợ mất mặt, vì trước đây luôn có tiếng là con học giỏi nở mặt với đồng nghiệp trong cơ quan Khi thấy bản thân sa sút, mình cảm thấy buồn và thất vọng, nhưng không phải sự thất vọng quá nặng nề mà chỉ là một cảm giác thất vọng nhẹ Lúc ấy mình nhận ra mình có khả năng làm tốt nhưng chưa chịu cố gắng, từ đó tự bản thân thay đổi, nỗ lực hơn và tiến bộ.

Nhìn lại cuộc sống của mình, tôi thấy mình may mắn hơn nhiều người; gia đình là điều quý giá nhất khi bố mẹ tôi chỉ có mỗi mình tôi, và tôi biết ơn điều đó Trong quá khứ, tôi đã mất một người bạn rất thân, và tôi hiểu lý do người ấy bỏ rời: tính cách của tôi khiến bạn ấy sợ bị người khác nói xấu hoặc phê phán.

SAU KHI THỰC HIỆN HÀNH VI TỰ TỬ

CUỘC SỐNG HIỆN TẠI VÀ NHỮNG ĐÁNH GIÁ NHÌN NHẬN LẠI QUÁ KHỨ

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(11) Nguyễn Xuân Nghĩa, “Vài suy nghĩ và khuynh hướng trong các loại hình nghiên cứu xã hội”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài suy nghĩ và khuynh hướng trong các loại hình nghiên cứu xã hội”, "Tạp chí Khoa học xã hội
(12) Nguyễn Xuân Nghĩa, “Một số vấn đề nhận thức luận, phương pháp luận và đóng góp của nghiên cứu định tính”, Tạp chí Khoa học xã hội, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề nhận thức luận, phương pháp luận và đóng góp của nghiên cứu định tính”, "Tạp chí Khoa học xã hội
(13) Vũ Thị Thanh và Nguyễn Trung Hiếu, “Một số yếu tố tác động tới hành vi tự tửu của thanh thiếu niên hiện nay”, Tạp chí Nghiên cứu Con người, số 4 (31), 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số yếu tố tác động tới hành vi tự tửu của thanh thiếu niên hiện nay”, Tạp chí "Nghiên cứu Con người
(14) Hoàng Gia Trang, Đặng Phương Kiệt, Dương Thị Xuân và Đinh Văn Vượng, “Nạn tự tử và bạo hành trong gia đình”, Tư liệu Viện Xã hội học, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nạn tự tử và bạo hành trong gia đình
(15) Đỗ Văn Quân, “Hiện tượng tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam qua góc nhìn báo chí”, Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, số 1, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng tự tử trong thanh thiếu niên ở Việt Nam qua góc nhìn báo chí”, Tạp chí "Nghiên cứu Gia đình và Giới
(16) Th.s Hồ Sỹ Anh, “Giáo dục gia đình Việt Nam trước bối cảnh mới căn bản và toàn diện giáo dục”, Tạp chí Dạy và Học ngày nay, số 3, 2014.D. Các bài báo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình Việt Nam trước bối cảnh mới căn bản và toàn diện giáo dục”, Tạp chí "Dạy và Học ngày nay
(17) Nguyễn Văn Tường, “Hiện tượng tự tử ở thanh thiếu niên Việt Nam trong những năm gần đây”, Báo Sức khỏe tâm thần, ngày đăng 13-08-2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng tự tử ở thanh thiếu niên Việt Nam trong những năm gần đây”, "Báo Sức khỏe tâm thầ
(18) PGS.TS Cao Tiến Đức, “Tự sát dưới góc độ y xã hội học”, Báo sức khỏe đời sống, ngày đăng 10-03-1012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự sát dưới góc độ y xã hội học”, "Báo sức khỏe đời sống
(19) Mai Phương, “Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về tự sát dưới góc độ tâm lý học, Tài liệu – ebook, ngày đăng 23-01-2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu một số vấn đề lý luận về tự sát dưới góc độ tâm lý học, "Tài liệu – ebook
(20) T.s Hoàng Cẩm Tú, “Trầm cảm và tự tử tuổi vị thành viên”, Kho tài liệu, ngày đăng 10-04-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trầm cảm và tự tử tuổi vị thành viên”, "Kho tài liệu
(21) B.s Trần Thị Thanh Hương, “Qúa trình tâm lý dẫn đến hành vi tự sát”, Báo mới, ngày đăng 18-02-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Qúa trình tâm lý dẫn đến hành vi tự sát”, "Báo mới
(22) Hoàng Thị Minh Thư, “Phương Pháp luận của Weber trong nghiên cứu Xã hội học” (bản dịch), Tài liệu – ebook, ngày đăng 13-04-2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương Pháp luận của Weber trong nghiên cứu Xã hội học” (bản dịch), "Tài liệu – ebook
(23) Châu Yên, “Tự tử - sát nhân thầm lặng ở châu Á”, Việt báo, ngày đăng 16- 09-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự tử - sát nhân thầm lặng ở châu Á”, "Việt báo
(24) Tường Vy, “Một triệu người chết vì tự tử mỗi năm”, Việt báo, ngày đăng 12- 09-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một triệu người chết vì tự tử mỗi năm”, "Việt báo
(25) Th.s Lê Minh Tiến, “Vấn nạn tự tử trong thanh thiếu niên”, Việt báo, ngày đăng 04-01-2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn nạn tự tử trong thanh thiếu niên”, "Việt báo
(26) PGS.TS. Đinh Thị Vân Chi, “Giáo dục gia đình và quan hệ của nó với những môi trường giáo dục khác trong quá trình xã hội hoá cá nhân”, Tài liệu- ebook, ngày đăng 20/04/2015E. Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục gia đình và quan hệ của nó với những môi trường giáo dục khác trong quá trình xã hội hoá cá nhân”, "Tài liệu- ebook
(39) E. Erikson, J. Erikson. (1998),The life Cycle Completed. B. Trang web Sách, tạp chí
Tiêu đề: The life Cycle Completed
Tác giả: E. Erikson, J. Erikson
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w