BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN THÁI ĐỘ CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ VÀ THÂN NHÂN BỆNH NHI VỀ MÔ HÌNH CÔNG T
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổ ng quan về đối tượng
Đối tượng tham gia khảo sát nghiên cứu là phụ huynh và nhân viên y tế thuộc các khoa: chấn thương chỉnh hình, phỏng, thận nội tiết, sốt xuất huyết trong bệnh viện Nhi Đồng I Tp HCM Tổng số mẫu nghiên cứu được là 204, trong đó có 66 nam và 138 nữ tương ứng tỷ lệ phần trăm là 32.4%, 67.6% Qua quan sát, đa số người đi chăm bệnh nhi là mẹ con hoặc bà Trình độ học vấn của đối tượng tham gia từ trung học cơ sở trở xuống chiếm 41%, trung học phổ thông chiếm 25%, trung cấp cao đẳng chiếm 25%, còn lại là đại học và sau đại học Số lượng nhân viên y tế tiếp cận được là 35 người tương ứng 17.2% trong tổng số mẫu nghiên cứu và còn lại thân nhân bệnh nhi là 82.8% Trong số đó có 38.7% là người đến từ tỉnh và 61.3% là người sống trong thành phố Khoa thận có 68 mẫu nghiên cứu, khoa sốt xuất huyết có 58 mẫu nghiên cứu, khoa chỉnh hình có
Dữ liệu thu được từ 53 mẫu nghiên cứu và phỏng vấn cho thấy 4 nhóm được phân tích với các tỉ lệ phần trăm 34%, 28,4%, 26% và 11,8% Khoa phỏng bỏng có ít bệnh nhân và thời gian điều trị dài Bệnh nhi được bà chăm sóc chủ yếu vì trẻ nằm viện lâu nên bố mẹ phải đi làm để có kinh phí chi trả Khoa thận và khoa sốt xuất huyết có lượng bệnh nhi tương đối đông; các phòng bệnh luôn kín giường và phụ huynh phải ngủ ở hành lang do thiếu chỗ nghỉ Khoa chỉnh hình có nhịp tăng theo mùa, đặc biệt nhiều bệnh nhân vào mùa hè.
So sánh thái độ giữa nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi đối với mô hình công tác xã hội bệnh viện Nhi Đồng I Tp HCM
hình công tác xã hội bệnh viện Nhi Đồng I Tp HCM
Qua kết quả thống kê nghiên cứu có 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi Họ có những điểm đồng tình và chưa đồng tình nhiều với những quan điểm về mô hình công tác xã hội tại bệnh viện Đối với nhân viên y tế, họ ủng hộ mô hình này phát triển nhưng họ muốn có sự cộng tác nhiều hơn nữa với nhân viên công tác xã hội trong việc điều trị cho bệnh nhi Thực tế, các nhân viên xã hội và tình nguyện viên hỗ trợ trên khoa chưa có sự hợp tác với nhau về ca bệnh nhiều Họ chỉ thông qua điều dưỡng trưởng rồi làm việc, có ca nào cần hỗ trợ thì họ xem bệnh án chứ chưa có sự thảo luận về ca đó Các bạn tình nguyện viên rất nhiệt tình trong việc hỗ trợ ca, tuy nhiên đôi khi các bạn còn lên vào khung giờ chưa phù hợp với đặc tính bệnh lý Vì vậy, đây cũng là một lưu ý cho nhân viên xã hội để hỗ trợ bệnh nhi tốt hơn Còn về phía thân nhân bệnh nhi có những người chưa biết tới mô hình này thì qua cuộc khỏa sát họ được biết tới Điều này
25 cho thấy việc truyền thông về mô hình này chưa mạnh Họ cảm thấy nếu được hỗ trợ thì rất tốt cho bệnh nhi về mặt tinh thần Đối với những phụ huynh chưa được hỗ trợ thì họ thấy được hữu ích của những hoạt động này Có những phụ huynh được hỗ trợ trên một tháng, họ cho rằng đây là công việc rất hữu ích Phụ huynh và thân nhân thấy rằng có những bệnh nhân khỏe khoắn và vui tươi khi ở đây được hỗ trợ như thế Có những bệnh nhi chia sẻ muốn ở đây, nhưng cũng muốn về để gặp bạn bè Đó là những thành công của mô hình này Khi bệnh nhi sinh hoạt họ mới có thời gian ăn uống, nghỉ ngơi, tắm giặt, thư giãn,….Vì vậy, phần đa họ rất ủng hộ các hoạt động này
Sau đây là so sánh số liệu thống kê của kết quả nghiên cứu
2.1 So sánh mối quan hệ giữa quan điểm của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi về kiến thức truyền thông của nhân viên xã hội tại khoa
Biểu đồ thể hiện so sánh thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi vè ý kiến nhân viên xã hội tổ chức các buổi truyền thông thông tin kiến thức chăm sóc sức khỏe đầy đủ, ngắn gọn
Trong một nghiên cứu về kiến thức truyền thông chăm sóc sức khỏe của nhân viên xã hội tại khoa đầy đủ, có 204 người tham gia được phân thành 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi, tương ứng chiếm 17.2% và 82.2% Đa số thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế đồng ý với quan điểm này về kiến thức truyền thông chăm sóc sức khỏe Hai biến đo được có mối quan hệ trung bình, với hệ số Phi là 0.356.
80 Ít đồng tình Lưỡng lự Đồng tình Rấ t đồng tình
Nhâ n vi ên y tế Thân nhân
Biểu đồ mô tả sự so sánh thái độ giữa nhân viên y tế và người thân của bệnh nhi về ý kiến cho rằng nhân viên xã hội cung cấp thông tin về dịch vụ một cách rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu Kết quả cho thấy sự khác biệt về mức độ hài lòng và độ tin tưởng giữa hai nhóm đối với tính minh bạch của thông tin được cung cấp, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của giao tiếp hiệu quả giữa nhân viên xã hội và gia đình Để cải thiện chất lượng thông tin và hỗ trợ gia đình, cần sử dụng ngôn ngữ đơn giản, cung cấp ví dụ minh họa, tóm tắt ngắn gọn và liên kết tới các nguồn hỗ trợ phù hợp, nhằm tăng sự tin tưởng và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế.
Trong 204 người cho quan điểm nhân viên xã hội cung cấp thông tin về dịch vụ rõ ràng, ngắn gọn dễ hiểu có 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi với tỷ lệ phần trăm tương ứng là: 17.2% và 82.2% Đa số thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế đồng tình với ý kiến này Hai biến có mối quan hệ trung bình Phi = 0.322
90 Ít đồng tình Lưỡng lự Đồng tình Rấ t đồng tình
Nhâ n vi ên y tế Thâ n nhân bệnh nhi
90 Ít đồng tình Lưỡng lự Đồng tình Rấ t đồng tình
Nhâ n vi ên y tế Thâ n nhân bệnh nhi
Biểu đồ thể hiện sự so sánh thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi về ý kiến nhân viên xã hội cung cấp thông tin về các chính sách dành cho bệnh nhi cụ thể chi tiết
Trong nghiên cứu có 204 người tham gia cho ý kiến về vai trò của nhân viên xã hội trong việc cung cấp thông tin về các chính sách dành cho bệnh nhi; 35 người là nhân viên y tế (17.2%) và 169 người là thân nhân bệnh nhi (82.2%) Đa số thân nhân bệnh nhi và cả nhân viên y tế đều đồng tình với quan điểm này Hai biến được phân tích cho thấy mối quan hệ khá mạnh, được xác định bằng hệ số Phi, cho thấy thái độ của thân nhân và nhân viên y tế đối với thông tin và chính sách chăm sóc bệnh nhi có sự liên kết đáng kể.
Biểu đồ thể hiện so sánh thái độ của nhân viên y tes và thân nhân bệnh nhi về ý kiến nhân viên xã hội cung cấp thông tin về dịch bệnh tới thân nhân và nhân viên y tế mau chóng kịp thời
Trong 204 người cho quan điểm nhân viên xã hội cung cấp thông tin về dịch bệnh tới thân nhân và nhân viên y tế mau chóng kịp thời có 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi với tỷ lệ phần trăm tương ứng là: 17.8% và 82.2% Đa số thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế đồng tình với ý kiến này Hai biến có mối quan hệ khá mạnh Phi 0.420
70 Ít đồng tình Lưỡng lự Đồng tình Category 4
Biểu đồ thể hiện sự so sánh thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi về ý kiến nhân viên xã hội cung cấp thông tin về các chương trình dễ hiểu, cụ thể, chi tiết Trong 204 người cho quan điểm nhân viên xã hội cung cấp thông tin về các chương trình dễ hiểu, cụ thể, chi tiết có 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi với tỷ lệ phần trăm tương ứng là: 17.2% và 82.2% Đa số thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế đồng tình với ý kiến này Hai biến có mối quan hệ khá mạnh Phi = 0.421
2.2 So sánh mối quân hệ giữa quan điểm của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi về những phát biểu kỹ năng làm việc của nhân viên xã hội
Biểu đồ thể hiện thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi về ý kiến nhân viên xã hội biết lắng nghe khi anh chị chia sẻ
90 Ít đồng tình Lưỡng lự Đồng tình Rấ t đồng tình
Nhâ n vi ên y tế Thâ n nhân bệnh nhi
Lưỡng lự Đồng tình Rấ t đồng tình
Nhâ n vi ên y tế Thâ n nhân bệnh nhi
Trong 204 người cho quan điểm nhân viên xã hội cung cấp thông tin về các chương trình dễ hiểu, cụ thể, chi tiết có 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi với tỷ lệ phần trăm tương ứng là: 17.8% và 82.2% Đa số thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế đồng tình với ý kiến này Hai biến có mối quan hệ yếu Phi = 0.299
Biểu đồ thể hiện sự so sánh thái độ của nhân viên y tế và thân nhân vè ý kiến nhân viên xã hội biết xin phép khi lấy thông tin bệnh nhi
Trong 204 người cho quan điểm nhân viên xã hội biết xin phép khi lấy thông tin bệnh nhi có 35 nhân viên y tế và 169 thân nhân bệnh nhi với tỷ lệ phần trăm tương ứng là: 17.8% và 82.2% Đa số thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế đồng tình với ý kiến này Hai biến có mối quan hệ yếu Phi = 0.274
Thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi giữa các khoa đối với mô hình công tác xã hội bệnh viện Nhi Đồng I Tp HCM
với mô hình công tác xã hội bệnh viện Nhi Đồng I Tp HCM
Thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi giữa các khoa có xu hướng đồng tình với những quan điểm đã đưa ra trong bảng nghiên cứu Họ có thái độ ủng hộ hoạt động này, tuy nhiên mới chỉ ở mức đồng tình Vì vậy, những hoạt động công tác xã hội còn có những điểm hạn chế và còn có nhiều điều chưa làm được trong thực hành Với mỗi bệnh nhi và gia đình bệnh nhi dù ở khoa nào thì họ cũng có những vấn đề khi vào trong bệnh viện Bệnh là một sự kiện, một biến cố đối với mỗi cá nhân Theo lý thuyết hệ thống sự kiện bệnh nhi bị bệnh không chỉ tác động đến chính bệnh nhi mà còn tác động đến các thành viên khác trong gia đình Có những bệnh nhi cố tình kêu đau để ba mẹ gắn kết và gia đình được ở bên Các hoạt động sinh hoạt nhóm công tác xã hội hỗ
Sự hỗ trợ gắn kết gia đình nhận được sự đồng thuận của đa số mẫu nghiên cứu, chiếm 68,4% tổng thể mẫu Đối với khoa phẫu thuật và khoa chấn thương chỉnh hình, công tác xã hội đóng vai trò nâng đỡ tâm lý cho bệnh nhân sau sang chấn và giúp họ chấp nhận những điều đã xảy ra Các khoa cho rằng công tác hỗ trợ truyền thông về sức khỏe và kỹ năng sống cho trẻ và phụ huynh là rất cần thiết Họ rút ra bài học từ những sự kiện này và cho rằng những kiến thức truyền thông sức khỏe và kỹ năng đã được cung cấp cho trẻ trong thời gian nằm viện là hữu ích cho cả bệnh nhi và chính họ Họ cho rằng công tác xã hội tại bệnh viện là rất cần thiết.
3.1 So sánh mối quan hệ về thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi giữa các khoa về kiến thức truyền thông của nhân viên xã hội tại khoa Ý kiến
Nhân viên xã hội tổ chức các buổi truyền thông thông tin kiến thức chăm sóc sức khỏe đầy đủ, ngắn gọn
Khoa chấn thương chỉnh hình
Trong 204 người tham gia cho ý kiến về kiến thức truyền thông chăm sóc sức khỏe của nhân viên xã hội tại các khoa, có 68 mẫu ở khoa thận nội tiết (33.3%), 58 mẫu ở khoa sốt xuất huyết (28.4%), 53 mẫu ở khoa chấn thương chỉnh hình (26.0%), và 25 mẫu ở khoa phỏng (12.3%) Đa số mẫu nghiên cứu tại các khoa có xu hướng đồng tình với quan điểm này, cho thấy sự chênh lệch ý kiến giữa các khoa là nhỏ và mối quan hệ giữa các biến ở mức trung bình Hệ số Contingency Coefficient = 0.347.
Nhân viên xã hội cung cấp thông tin về dịch vụ rõ ràng, ngắn gọn dễ hiểu
Khoa chấn thương chỉnh hình
Khoa phỏng Ít đồng tình 0%
Trong 204 người cho quan điểm nhân viên xã hội cung cấp thông tin về dịch vụ rõ ràng, ngắn gọn dễ hiểu có 68 mẫu ở khoa thận nội tiết, 58 mẫu khoa sốt xuất huyêt, 53 mẫu khoa chấn thương chỉnh hình và 25 mẫu ở khoa phỏng (tương ứng tỷ lệ phần trăm là 33.3%, 28.4%, 26.0%, 12.3%) Đa số các mẫu nghiên cứu tại các khoa có xu hướng rất đồng tình với quan điểm này Trong đó có khoa phỏng có xu hướng đồng tình với quan điểm này Khoa phỏng chỉ có hai tình nguyện viên trực thường xuyên bởi đặc tính bệnh của khoa phỏng không phải ai cũng tiếp xúc được Điều này cho thấy giữa các khoa ít có sự chênh lệch về ý kiến này, mối quan hệ giữa những biến này ở mức khá mạnh Contingency Coefcient = 0.509 Ý kiến
Nhân viên xã hội cung cấp thông tin về các chính sách dành cho bệnh nhi cụ thể chi tiết
Khoa chấn thương chỉnh hình
Trong 204 người cho ý kiến do nhân viên xã hội cung cấp về các chính sách dành cho bệnh nhi cụ thể, có 68 mẫu ở khoa thận nội tiết (33.3%), 58 mẫu ở khoa sốt xuất huyết (28.4%), 53 mẫu ở khoa chấn thương chỉnh hình (26.0%), và 25 mẫu ở khoa phỏng (12.3%) Đa số các mẫu tại các khoa cho thấy xu hướng rất đồng tình với quan điểm này, cho thấy giữa các khoa ít có sự khác biệt về ý kiến và mối quan hệ giữa các biến ở mức khá mạnh, với hệ số contingency 0.408.
3.2 So sánh mối quan hệ về thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi giữa các khoa về những phát biểu kỹ năng làm việc của nhân viên xã hội Ý kiến
Nhân viên xã hội biết xin phép khi lấy thông tin bệnh nhi
Khoa chấn thương chỉnh hình
Trong nghiên cứu gồm 204 người cho quan điểm về vai trò của nhân viên xã hội trong việc cung cấp thông tin về các chính sách dành cho bệnh nhi, có 68 mẫu ở khoa thận nội tiết, 58 mẫu ở khoa sốt xuất huyết, 52 mẫu ở khoa chấn thương chỉnh hình và 25 mẫu ở khoa phỏng, tương ứng với tỉ lệ 33.3%, 28.4%, 26.0% và 12.3% Đa số các mẫu tại các khoa cho thấy xu hướng rất đồng tình với quan điểm này, cho thấy sự đồng nhất tương đối giữa các khoa về ý kiến, với mối quan hệ giữa các biến ở mức trung bình Hệ số Contingency Coefficient = 0.355 cho thấy mức liên hệ trung bình giữa các biến.
Nhân viên xã hội biết phối hợp với nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi.trong khi làm việc
Khoa chấn thương chỉnh hình
(25) Trong 202 người cho quan điểm nhân viên xã hội cung cấp thông tin về các chính sách dành cho bệnh nhi cụ thể chi tiết có 68 mẫu ở khoa thận nội tiết, 58 mẫu khoa sốt xuất huyêt, 52 mẫu khoa chấn thương chỉnh hình và 25 mẫu ở khoa phỏng (tương ứng tỷ lệ phần trăm là 33.7%, 27.3%, 26.2%, 12.8%) Đa số các mẫu nghiên cứu tại các khoa có xu hướng rất đồng tình với quan điểm này Riêng khoa phỏng họ có xu hướng đồng tình Điều này cho thấy giữa các khoa ít có sự khác biệt về ý kiến này, mối quan hệ giữa những biến này ở mức khá mạnh Contingency Coefcient = 0.576
3.3 So sánh mối quan hệ về thái độ của nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi giữa các khoa về những phát biểu đối với cách thức cung cấp dịch vụ tới bệnh nhi qua các buổi sinh hoạt nhóm tại khoa Ý kiến
Các trò chơi trong giờ sinh hoạt phù hợp với sức khỏe và độ tuổi của trẻ
Khoa chấn thương chỉnh hình
Trong 201 mẫu cho quan điểm về trò chơi trong giờ sinh hoạt phù hợp với sức khỏe và độ tuổi của trẻ, 68 mẫu từ khoa thận nội tiết, 58 mẫu từ khoa sốt xuất huyết, 52 mẫu từ khoa chấn thương chỉnh hình và 25 mẫu từ khoa phỏng, tương ứng tỷ lệ phần trăm 33.7%, 27.3%, 26.2% và 12.8% Đa số các mẫu nghiên cứu tại các khoa có xu hướng đồng tình với quan điểm này, cho thấy giữa các khoa ít có sự khác biệt về ý kiến và mối quan hệ giữa các biến ở mức trung bình, với hệ số Contingency Coefficient là 0.385.
Việc sinh hoạt nhóm cho bệnh nhi giúp anh chị cảm thấy được thư giãn hơn
Khoa chấn thương chỉnh hình
(24) Trong 202 người cho quan điểm về việc sinh hoạt nhóm cho bệnh nhi giúp anh chị cảm thấy được thư giãn hơn có 68 mẫu ở khoa thận nội tiết, 58 mẫu khoa sốt xuất huyêt,
Trong nghiên cứu có 52 mẫu từ khoa chấn thương chỉnh hình và 25 mẫu từ khoa phỏng, với các tỉ lệ phần trăm tương ứng lần lượt là 33,7%, 27,3%, 26,2% và 12,8% Đa số mẫu nghiên cứu ở cả hai khoa cho thấy xu hướng đồng thuận với quan điểm này, cho thấy giữa các khoa ít có sự khác biệt về ý kiến và mối quan hệ giữa các biến này ở mức yếu, với hệ số contingency 0,234.
Hoạt động sinh hoạt nhóm hàng ngày lên khoa tổ chức sinh hoạt tại các phòng bệnh tạo sự liên kết giữa các bệnh nhi, các thân nhân bệnh nhi
Khoa chấn thương chỉnh hình
(24) Trong 201 người cho quan điểm về hoạt động sinh hoạt nhóm hàng ngày lên khoa tổ chức sinh hoạt tại các phòng bệnh tạo sự liên kết giữa các bệnh nhi, các thân nhân bệnh nhi có 66 mẫu ở khoa thận nội tiết, 57 mẫu khoa sốt xuất huyêt, 53 mẫu khoa chấn thương chỉnh hình và 25 mẫu ở khoa phỏng (tương ứng tỷ lệ phần trăm là 33.4%, 27.4%, 26.3%, 12.8%) Đa số các mẫu nghiên cứu tại các khoa có xu hướng rất đồng tình với
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
4.1 Kết luận Ít có sự khác biệt về thái độ của nhân viên y tế, thân nhân bệnh nhi giũa các khoa và giữa nhân viên y tế với thân nhân bệnh nhi về mô hình công tác xã hội bệnh viện Nhi Đồng I Tp Hồ Chí Minh.Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế rất quan trọng Công tác xã hội góp phần điều trị và phục hồi sức khỏe của bệnh nhi một cách mau chóng hơn theo những nhận định của thân nhân bệnh nhi và nhân viên y tế trong cuộc khảo sát Họ cho rằng sự có mặt của công tác xã hội là cần thiết vì như vậy công tác xã hội sẽ hỗ trợ trong việc nâng đỡ tâm lý cho thân nhân và bệnh nhi Họ là lực lượng để giảm bớt căng thẳng và hạn chế những mâu thuẫn xảy ra tại bệnh viện Công tác xã hội hỗ trợ cho quá trình nhập viện trở nên mau chóng và làm giảm được những lo lắng, hoang mang cho thân nhân bệnh nhi khi lần đầu tới đây Nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi đa số đồng tình với những quan điểm về mô hình công tác xã hội tại bệnh viện Nhi Đồng I Tp HCM đã và đang làm được Nhân viên y tế và thân nhân bệnh nhi giữa các khoa họ cũng đồng tình và ủng hộ những hoạt động và cách thức hoạt động của mô hình này Để có được sự ủng hộ này, các nhân viên xã hội đầu tiên tại đây đã có những dự án và những chương trình hoạt động tích cực để hỗ trợ bệnh nhi Tuy nhiên, trong những bước đầu tiên này mô hình không thể tránh khỏi những điều chưa đạt như mục tiêu đề ra và chưa đáp ứng được những nhu cầu của khách hàng Điểm mạnh thứ nhất của mô hình này là có đội ngũ tình nguyện viên có kiến thức công tác xã hội để hỗ trợ đưa dịch vụ tới khách hàng Điểm mạnh thứ hai là có những kết nối với mạnh thường quân để ổn định bếp ăn từ thiện và hỗ trợ viện phí cho bệnh nhân nghèo Hạn chế của mô hình đó là lực lượng tình nguyện viên còn hạn chế, kế hoạch sinh hoạt, đồ chơi trị liệu cho bệnh nhi còn thiếu sự đa dạng Tiếp theo là thiếu nguồn lực để hỗ trợ bệnh nhân khi nhập viện, nên việc nhập viện còn bị ùn tắc và đôi lúc có thể nhân viên xã hội chưa làm hài lòng khách hàng Chính vì vậy sẽ có những người chưa đồng tình, và chưa ủng hộ cho mô hình này, nhưng đó chỉ là số ít Chính số ít này giúp thấy được những hạn chế để giúp mô hình ngày càng có những dự án thiết thực hơn với khách hàng
Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế cần được mở rộng hơn nữa cho nhiều khoa trong bệnh viện Bởi lẽ bất cứ một ai vào viện thì họ cũng đang phải đối mặt với những sự thay đổi, khủng hoảng, những biến cố trong cuộc đời Công tác xã hội sẽ cần có những
63 đội ngũ nhân viên đủ để đáp ứng nhu cầu và tình nguyện viên được đào tạo chuyên môn để họ có thể hỗ trợ nhiều hơn nữa cho những bệnh nhi nội trú tại bệnh viện Công tác xã hội trong lĩnh vực y tế giúp hoàn thiện để có một sức khỏe toàn diện theo định nghĩa của tổ chức y tế Thế Giới (WHO) Vậy nên cần đẩy mạnh hơn nữa việc đào tạo nhân lực để làm việc trong lĩnh vực này