Ngoài ra thông qua việc mô tả này và so sánh đối chiếu với các lễ hội này ở các nước phương Tây còn chỉ được những đặc điểm về quan niệm, chức năng, cách thực hiện được biến đổi như thế
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
GIAO LƯU TIẾP BIẾN CÁC LỄ HỘI PHƯƠNG TÂY CỦA GIỚI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ
HỒ CHÍ MINH
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Thị Minh Thảo Khoa: Xã hội học- Công tác xã hội- Đông Nam Á Người hướng dẫn: Thạc sĩ Đặng Thị Quốc Anh Đào
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 3/2019
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung
- Tên đề tài: Giao lưu tiếp biến các lễ hội phương Tây của giới trẻ tại Thành
- Số năm đào tạo: 4
2 Mục tiêu đề tài: Nhằm mô tả những về cách mà giới trẻ thực hành các lễ
hội phương Tây mà nổi bật là lễ Giáng sinh được biết đến từ lâu, và lễ hội Halloween đang trở nên thịnh hành trong khoảng 4 năm trở lại đây Ngoài ra thông qua việc mô tả này và so sánh đối chiếu với các lễ hội này ở các nước phương Tây còn chỉ được những đặc điểm về quan niệm, chức năng, cách thực hiện được biến
đổi như thế nào trong đời sống của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh
3 Tính mới và sáng tạo: Với các lễ hội này, giới trẻ đã thật sự được giao lưu
và có những cách thức, hiểu biết riêng để thực hiện chúng, biến đổi chúng vào trong đời sống tinh thần của chính mình một cách phù hợp nhất Bỏ qua các nhận
định có phần tiêu cực về các lễ hội phương Tây được du nhập vào Việt Nam
4 Kết quả nghiên cứu: Thực tế các lễ hội này đang được thực hành như thế
nào trong đời sống của giới trẻ, những đặc điểm thay đổi so với việc thực hiện này
với các lễ hội ở các quốc gia phương Tây, vì sao lại có sự thay đổi đó
5 Đóng góp về mặt kinh tế- xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Trang 46 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi
rõ tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng nghiên cứu
Nhận xét của người hướng dẫn vễ những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Ngày tháng năm 2019
(ký tên và đóng dấu) (ký,họ và tên)
Trang 5BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1 SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Thị Minh Thảo
Sinh ngày 24 tháng 06 năm 1997
Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa: Xã hội học- Công tác xã hội- Đông Nam Á
Địa chỉ liên hệ: 125/227/11T Nguyễn Thị Tần phường 1 quận 8 Thành phố
Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0765468260 Email: 1555010058thao@ou.edu.vn
11 QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (Kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1
Trang 6Xác nhận của đơn vị Sinh viên chịu trách nhiệm
(ký tên và đóng dấu) chính thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2
3 Lịch sử nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 7
4.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Bố cục đề tài 11
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN & CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
1 Định nghĩa về lễ hội 12
1.1 Các khái niệm 12
1.2 Chức năng của lễ hội 13
1.3 Phân loại lễ hội 14
2 Định nghĩa phương Tây 15
3 Các lý thuyết 17
3.1 Lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa 17
3.2 Lý thuyết kiến tạo xã hội 20
4 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh 25
CHƯƠNG 2: CÁC LỄ HỘI PHƯƠNG TÂY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 29
1 Quá trình du nhập 29
2 Quan niệm về các lễ hội 32
3 Cách thức thực hiện 34
3.1 Hoạt động trước lễ hội 34
3.2 Hoạt động trong lễ hội 38
3.3 Địa điểm tổ chức 45
Trang 8CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ BIẾN ĐỔI CỦA LỄ HỘI PHƯƠNG TÂY TẠI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 49
1 Biến đổi trong quan niệm 49
1.1 Giáng sinh 49
1.2 Halloween 51
2 Biến đổi về chức năng của lễ hội 52
2.1 Giáng sinh 52
2.2 Halloween 53
3 Biến đổi các hoạt động của lễ hội 54
3.1 Hoạt động trước lễ hội 54
3.2 Hoạt động trong lễ hội 59
4 Cách thức biến đổi 62
KẾT LUẬN 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73
PHỤ LỤC 80
1 Phụ lục hình ảnh 80
2 Phụ lục mẫu nghiên cứu 86
2.1 Bản hỏi Giáng sinh 86
2.2 Bản hỏi Halloween 91
2.3 Bản phỏng vấn 95
Trang 9hóa học số 3, trang 29) Điều đó mở ra cho con người trên khắp thế giới có thể tiếp cận với nhiều nền văn hóa khác nhau, thực hiện hoặc tham gia được nhiều lễ hội, nghi lễ, sinh hoạt cộng đồng với bên ngoài Đến những năm 1980, chính sách Đổi Mới của Việt Nam
đã mở ra cánh cửa, đón luồng gió mới, toàn cầu hóa Người Việt đã tiếp cận được với nhiều nền văn hóa khác nhau, đặc biệt là các quốc gia phương Tây Không chỉ đơn thuần
là nền ẩm thực phương Tây, hay những bộ âu phục được sử dụng phổ biến, kiến trúc cao tầng, nhà hộp dễ dàng thấy ở các đô thị ở Việt Nam nữa, mà đó còn là một sự tiếp biến mạnh mẽ về văn hóa tại Việt Nam Sự xuất hiện ồ ạt và được tổ chức với qui mô ngày càng lớn, kết hợp với sự hào hứng tham gia của một bộ phận giới trẻ tại các đô thị lớn đối với các lễ hội hoặc sự kiện lớn như: lễ Noel (lễ Giáng Sinh), lễ hội Halloween (lễ hội Hóa trang hay lễ hội ma quỷ), Carnaval (lễ diễu hành), Father’s day (Ngày của Cha), Mother’s day (Ngày của Mẹ), Black Friday (Ngày mua sắm giảm giá), Quốc tế Lao Động, Quốc tế phụ nữ, Valentine (Lễ tình nhân),… Nhiều tờ báo đề cập đến việc lễ hội phương Tây
được thực hiện bởi giới trẻ cũng còn nhiều nhận định tiêu cực “Tuy nhiên, hiện nay tham gia các lễ hội này chủ yếu là giới trẻ, không ít trường hợp chỉ là chạy theo xu hướng thời thượng Ngày lễ đầu tiên của phương Tây lấn át vào Việt Nam phải kể đến là Noel Nhiều
ý kiến cho rằng, Noel bây giờ không còn đơn thuần là một ngày lễ mang tính tôn giáo, nó dành cho tất cả ai muốn ham vui.” Nhà báo Khôi Nguyên đã viết nhận định của mình
về các lễ hội phương Tây như vậy Những cụm từ như “chạy theo xu hướng”, “ham vui”,
“hòa nhập nhưng lại quên đi văn hóa truyền thống”, “tặng quà xa xỉ”, “không biết rõ ý nghĩa”, “các cửa hàng bày bán tràn lan”, “xa xỉ với các món hàng trang trí”, “hình ảnh
Trang 10phản cảm”, “trào lưu không lành mạnh” hay “tha hóa, lai căng, mất gốc” thường xuyên xuất hiện trên nhiều tờ báo viết về các lễ hội này
Nhưng trong phạm vi bài báo cáo này muốn cho thấy thực tế các lễ hội này đang được thực hành như thế nào trong đời sống của giới trẻ, những đặc điểm thay đổi so với việc thực hiện này với các lễ hội ở các quốc gia phương Tây, vì sao lại có sự thay đổi đó Tức
là thừa nhận đối với các lễ hội này, giới trẻ đã thật sự được giao lưu và có những cách thức, hiểu biết riêng để thực hiện chúng, biến đổi chúng vào trong đời sống tinh thần của
chính mình một cách phù hợp nhất Hay với Lương Văn Hy, ông cho rằng “…việc nhiều người trẻ không theo Thiên Chúa giáo cũng tham gia lễ hội vào dịp Giáng sinh cũng có thể được nhìn như là dấu hiệu hay một chuyển biến theo chiều hướng văn hóa Tây phương” Nhận thấy cần phải nhìn nhận rằng tìm ra được các đặc điểm này đóng vai trò
vô cùng quan trọng khi hai tiến trình bản địa (hoặc địa phương) hóa và toàn cầu hóa luôn
đi song hành với nhau, và bản địa (hoặc địa phương) hóa “…giúp soi sáng tiến trình toàn cầu hóa” (Lương Văn Hy, trang 10, 2014) Đó là những lý do để chúng tôi nghiên cứu đề
tài “GIAO LƯU TIẾP BIẾN CÁC LỄ HỘI PHƯƠNG TÂY CỦA GIỚI TRẺ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”
2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Các lễ hội phương Tây tuy đã du nhập vào và bám rễ trong đời sống tinh thần của nhiều người trẻ sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Nhưng trên thực tế chưa có nhiều bài nghiên cứu chỉ ra được cách mà giới trẻ thực hành chúng có những khác biệt so với lễ hội phương Tây mà đặc biệt là các lễ hội này tại Mỹ Bài báo cáo đóng góp những mô tả
về cách mà giới trẻ thực hành các lễ hội phương Tây mà nổi bật là lễ Giáng sinh được biết đến từ lâu, và lễ hội Halloween đang trở nên thịnh hành trong khoảng 4 năm trở lại đây Ngoài ra thông qua việc mô tả này và so sánh đối chiếu với các lễ hội này ở các nước phương Tây còn chỉ được những đặc điểm về quan niệm, chức năng, cách thực hiện được biến đổi như thế nào trong đời sống của giới trẻ tại thành phố Hồ Chí Minh Bên cạnh đó cũng đưa ra một khía cạnh trong văn hóa của giới trẻ, cách mà giới trẻ đã giao lưu lại với các nền văn hóa khác với không gian mở hiện nay Đề tài đóng góp một phần
Trang 11để hiểu hơn về đời sống văn hóa của giới trẻ và những biến đổi về văn hóa trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay
3 Lịch sử nghiên cứu
“Toàn cầu hóa, văn hóa địa phương và phát triển: cách tiếp cận Nhân học” bao gồm các bài nghiên cứu về những giá trị văn hóa của con người hay cộng đồng thay đổi trong bối cảnh toàn cầu hóa Trong đó còn nêu ra được các định nghĩa và tác động toàn cầu hóa,
đô thị hóa, du lịch,… đối với văn hóa của tộc người Cách đối chiếu các lí thuyết, sử dụng nhiều phương pháp như thực địa, phỏng vấn, so sánh,… được sử dụng là mẫu điển hình
mà đề tài có thể học tập cách thức nghiên cứu Nổi bật trong cuốn sách tổng hợp các bài viết này có bài “Thương thảo để tái lập và sáng tạo “truyền thống”: Tiến trình tái cấu trúc
lễ hội cộng đồng tại một làng Bắc Bộ” của tác giả Lương Văn Hy và Trương Huyền Chi
đã thực sự giúp cho bài báo cáo có được định hướng rõ ràng để xem xét những thay đổi của một lễ hội Các yếu tố bên trong của lễ hội dù mang tính truyền thống nhưng vẫn luôn được thay đổi không dừng lại, dù có nhiều yếu tố được chấp nhận, nhưng theo thời gian vẫn có những sự biến đổi và được chấp nhận một cách hiển nhiên
Khi đã có được các nhận định về sự thay đổi, phương pháp nghiên cứu, thì “Lễ hội trong không gian đô thị: Nhân tố, tiến trình và ảnh hưởng” của Cudny W xuất bản năm
2016, ông đã đưa ra các thành phần chính của một lễ hội Những yếu tố của một lễ hội hiện đại được ông tổng hợp bao gồm định nghĩa, hình thức, và đặc biệt là tiến trình lịch
sử thay đổi của các lễ hội này trong các đô thị tại phương Tây từ nhiều nhà nghiên cứu khác nhau Đặc biệt là các yếu tố này được nhìn nhận không phải là một không gian truyền thống, mà là các không gian đô thị hiện đại Bài báo cáo đã dùng nghiên cứu này làm nền tảng để định nghĩa về lễ hội, nêu ra những chức năng của một lễ hội trong đô thị mới Cùng với đó là sử dụng Văn bản chỉ đạo điều hành 2017 “Thực trạng hoạt động lễ hội của nước ta hiện nay; Nhiệm vụ đặt ra đối với cơ quan chức năng và chính quyền các địa phương trong việc tổ chức, quản lý nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của lễ hội trong tình hình mới” của Bộ Văn hóa- Thể thao- Du lịch là một trong những nguồn dữ liệu các lễ hội hiện có tại Việt Nam, đặc biệt trong đó có cả các lễ hội du nhập từ nước ngoài Từ nguồn này, đề tài có thể đưa ra các dữ liệu khi nêu
Trang 12định nghĩa, và so sánh, ngoài ra đối với các lễ hội từ nước ngoài cũng có thể có được những tên thuần Việt phổ biến công chúng Cho thấy những thực trạng các lễ hội đang diễn ra tại Việt Nam, không chỉ là các lễ hội truyền thống mà còn có các lễ hội hiện đại xuất hiện trong những năm gần đây
Để nhìn nhận các biến đổi thì nguồn tài liệu như:
Bài báo của Trần Thị Thu Hương “Tiếp biến văn hóa Pháp Việt: Một không gian văn hóa chuyển tiếp” đã bao gồm được các khái niệm và lý thuyết về tiếp biến văn hóa trong bối cảnh hiện đại Qua đó từng quá trình tiếp biến được khái quát và mô tả khá rõ ràng Đây là một trong những bài báo mà đề tài đã học tập để có thể sử dụng được các lí thuyết hiệu quả Những trích dẫn về nguồn, và cách điểm qua nhiều nghiên cứu liên quan đến lễ hội và văn hóa truyền thống trong bài viết cũng đã giúp đỡ đề tài có thêm nguồn tham khảo phong phú
“Giao lưu tiếp biến văn hóa và bảo tồn bản sắc văn hóa Việt Nam trong toàn cầu hóa” của TS Nguyễn Thế Cường cho thấy một cách khái quát nhất về lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa Ông chú trọng phân tích cộng sinh văn hóa, định nghĩa văn hóa, các ví dụ
về giao lưu văn hóa, và tiếp biến văn hóa thông qua một số lễ hội và thành tố văn hóa Việt Nam giữa dân tộc kinh và các dân tộc khác Nhưng các tác giả và nhà học thuật trong nghiên cứu lí thuyết này chưa được ông nhắc đến, chưa có cụ thể phần khái quát này từ các lý thuyết gốc Và Nguyễn Thế Cường cũng đưa ra nhận định về việc chung sống với toàn cầu hóa như thế nào để bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc
“Tiếp biến văn hóa Việt Nam dưới góc nhìn lý thuyết hệ thống” của Nguyễn Thừa Hỷ lại mang đến phân tích của quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa trong hội nhập quốc tế dưới góc nhìn lý thuyết hệ thống Mối quan hệ qua lại của một yếu tố này tác động lên những thành tố nằm trong hệ thống đó Bài báo cáo có được khá nhiều nguồn tư liệu để viết về lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa với nguồn dẫn tham khảo phong phú của Nguyễn Thừa Hỷ Trong đó có thể rút ra được những nhận định về hội nhập văn hóa, và toàn cầu hóa trong nhiều hệ thống và tiểu hệ thống khác nhau về khoa học, công nghệ, xã hội, và đặc biệt là kinh tế, thương mại Nhưng bài nghiên cứu vẫn có những nhược điểm
Trang 13chỉ đánh gia sơ bộ qua các văn bản Nhà nước, mang nhiều tính lý thuyết chưa có nhiều điểm tích cực từ đời sống văn hóa biến đổi được chỉ ra
Bài nghiên cứu của Lê Hồng Lý “Biến đổi lễ hội ở đô thị- Quan sát từ Hà Nội” với nội dung chính là: Xem xét biến đổi của lễ hội dân gian vốn có của các làng nay đã được sát nhập với thành phố, lễ hội mới do Nhà nước tổ chứ, và lễ hội du nhập nước ngoài Từ bài nghiên cứu đã cung cấp nguồn tư liệu để mô tả các lễ hội phương Tây đang tồn tại trong đời sống của giới trẻ Ngoài ra còn có được số liệu cụ thể thống kê về lễ hội tại Việt Nam qua Thống kê 2008 Lê Hồng Lý có những khẳng định dựa trên lý thuyết về 4 giai đoạn biến đổi của một yếu tố văn hóa, để cho thấy rằng quá trình biến đổi này phần nào cũng là quá trình biến đổi lễ hội ở Việt Nam Nhưng trong bài nghiên cứu khi mô tả các
lễ hội du nhập từ nước ngoài vẫn đang chú trọng vào mô tả không gian lễ hội diễn ra, chưa nêu được quá trình du nhập Đối với cách giới trẻ thực hiện, Lê Hồng Lý vẫn còn bó buộc vào mô tả khung cảnh diễn ra, quan niệm, chức năng của lễ hội còn chưa được mô
tả kĩ càng
Mục sư Nguyễn Quý Đại cho thấy một lễ Giáng sinh được quan niệm như thế nào, những việc mà người Công Giáo tại Việt Nam đang thực hiện, và những so sánh đối chiếu với Giáng sinh tại Đức
Trong phần lịch sử nghiên cứu vấn đề vẫn cần phải có những nguồn tư liệu mô tả các
lễ hội phương Tây làm tiền đề so sánh như:
- Duchas.ie là trang web chính thức của dự án “The Duchas project” với mục tiêu của
dự án là bắt đầu số hóa bộ sưu tập văn hóa dân gian quốc gia (NFC) để mọi công dân trên khắp thế giới có quyền truy cập trực tuyến vào tài liệu từ Bộ sưu tập và một hệ thống quản lý dữ liệu có sẵn cho NFC để các tài liệu khác có thể được thêm vào trong tương lai Đối tác dự án Bộ sưu tập văn hóa dân gian quốc gia, UCD, Quỹ văn hóa dân gian quốc gia và Thư viện số UCD, Fiontar & Scoil na Gaeilge, DCU, Sở Văn hóa, Di sản và Gaeltacht và UNESSCO Trong đó có bài viết tổng hợp về các nhận định của người dân sống tại Ireland mô tả nguồn gốc và các quan niệm về Halloween với nhiều truyền thống khác nhau ở Ireland
Trang 14-Halloween các trích nguồn từ Macarthur- mục sư, nhà nghiên cứu thần học, và kinh thánh của Moody & VCY Radio Cho thấy được yếu tố tôn giáo của Halloween, truyền thống mà những tín đồ Công Giáo đã thực hiện, những yếu tố còn lại đến ngày nay Và các bài viết sưu tập khác về truyền thống và hiện đại trong lễ Halloween Được tổng hợp
bởi Ankerberg & Weldon in trong The Facts On Halloween, nhà xuất bản Harvest
House 1996
-Chirstmas in the 19th century- Giáng sinh của thế kỷ 19, mô tả cách mà Mỹ thực hiện Giáng sinh trong suốt thế kỉ 19, tạo ra một truyền thống về cách thực hiện Giáng sinh ở
Mỹ và hầu hết các nước phương Tây hiện nay
-Bài tổng hợp các dịp lễ tại Mỹ của Tổng lãnh sự quán Mỹ tại Thụy Điển với mô tả nguồn gốc, sự biến đổi của các truyền thống về các ngày lễ tại Mỹ hiện nay
-Cục thông tin quốc tế Mỹ với các ấn phẩm báo chí, xuất bản về các giá trị văn hóa
Mỹ tại các đại sứ quán và tổng lãnh sự, có bài viết về Giáng sinh truyền thống tại Mỹ, trong mục phát hành U.S holidays Mô tả một Giáng sinh từ nguồn gốc đến quan niệm và nhấn mạnnh vào các hoạt động hiện nay của người Mỹ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài là giới trẻ và giao lưu tiếp biến các lễ hội phương Tây trong đời sống của họ Giới trẻ có độ tuổi từ 18-26 đang sinh sống tại Thành phố Hồ Chí Minh Có thể thấy đây là một trong những độ tuổi chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số của Thành phố Điều này được thể hiện thông qua tháp dân số dưới đây:
Trang 15Tháp dân số Thành phố Hồ Chí Minh năm 2002 (Nguồn: http://www.pantheonsorbonne.fr/fileadmin/UMRDS/page-perso/pdf/200211GubryAltphcmHanoiDanSoDiChuyenNoiThi.pdf)
Có thể thấy phần tháp phình to ở độ tuổi từ 20-24, điều này thể hiện cơ cấu dân số tại
thành phố Hồ Chí Minh Mà đối với những người trẻ, Trần Ngọc Thêm đã nhận xét “Đặc điểm nổi bật rõ nhất của giới trẻ là lớp tuổi duy nhất có bản chất dương tính, kéo theo 2 đặc điểm quan trọng là hướng ngoại và năng động Hướng ngoại thì dễ tiếp thu cái mới
và hấp thụ các ảnh hưởng ngoại lai; năng động thì ưa thay đổi, phát triển.” (Ngọc Tuyết,
bài viết trên trang: nhung-van-de-dat-ra-ve-van-hoa-giao-duc-va-nhung-giai, truy cập ngày 10/12/2018) Giao lưu tiếp biến các lễ hội phương Tây là đối tượng nghiên cứu trong bài với những thay đổi của các lễ hội này về các mặt như quan niệm, chức năng, hoạt động lễ hội,… trong đời sống của giới trẻ khi thực hiện chúng
http://edufac.edu.vn/toa-dam-gioi-tre-viet-nam-hien-nay-thuc-trang-4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi bài nghiên cứu tập trung mô tả các lễ hội phương Tây bao gồm: Anh, Pháp, Ireland, Đức, và Mỹ Sự xuất hiện của Mỹ là một trong những sự phân chia phương Đông và phương Tây theo hệ tư tưởng Trong bài báo cáo nhấn mạnh vào lễ Giáng sinh,
và lễ Halloween Lễ Giáng sinh là một trong những lễ hội được nhiều quốc gia trên thế giới đón nhận và chính lễ hội này cũng đã xuất hiện từ khá sớm, tồn tại được lâu trong đời sống tinh thần của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh Nguồn tài liệu phong phú,
Trang 16cùng với sự phổ biến của lễ hội trong suốt khoảng thời gian dài có thể thu được các đặc điểm biến đổi của chúng so với nguyên gốc khi thu thập dự liệu từ giới trẻ Ngược lại với Giáng Sinh, Halloween là lễ hội mới xuất hiện, chỉ trong khoảng 4 năm nhưng lễ hội này lại nhanh chóng được giới trẻ chào đón và thực hiện thường niên với quy mô ngày càng lớn Đây cũng là cách để bài báo cáo có thể đưa ra được những nhận định tổng quan nhất
về cách thức biến đổi từ giai đoạn đầu tiên đến các gia đoạn tiếp theo khi kết hợp hai lễ hội này
Bài nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện từ tháng 9/2018 khảo sát với 150 người trong đó có đang sinh sống tại phường 6 quận 8, phát bản hỏi ngẫu nhiên tại Phố đi bộ Nguyễn Huệ phường Phạm Ngũ Lão quận 1 Chúng tôi tập trung nghiên cứu, tìm hiểu về thực trạng, phân tích nguyên nhân và các yếu tố xã hội có liên quan đến việc thực hành, biến đổi của các lễ hội phương Tây, đặc biệt là lễ hội Halloween, lễ hội Noel được du nhập vào trong đời sống của giới trẻ Và số liệu từ bài báo cáo này chỉ đúng trong trường hợp được khảo sát nghiên cứu tại các khu vực nói trên
4.3 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu
1 Các lễ hội phương Tây đang được thực hiện như thế nào trong đời sống của giới trẻ? Đặt giả thuyết các dịp lễ hội được những người phương Tây đang sống và làm việc ở đây mang đến, họ phổ biến chúng thông qua kinh tế và thông tin truyền thông Các lễ hội này dần trở thành một trong những dịp vui chơi mà bất kì ai cũng chờ đón Lễ hội được diễn tiến từ những ngày đầu tháng với hoạt động mua bán đồ trang trí, các sản phẩm liên quan đến lễ hội hay sự kiện đó được bày bán ở khắp các cửa hàng Một số địa điểm kinh doanh, hoặc con đường trung tâm được trang hoàng Vào đúng ngày diễn ra lễ hội các sự kiện ca nhạc hoành tráng hay cảnh dòng người nô nức trên các tuyến phố trung tâm,… Người trẻ tụ tập bạn bè đến các địa điểm nổi tiếng trong thành phố về ẩm thực, mua sắm hoặc các trung tâm thương mại để hòa mình vào không khí lễ hội Việc thực hiện này bỏ qua các nghi lễ trong tôn giáo Và các lễ hội được xem là dịp vui chơi giải trí của giới trẻ
Trang 172 So sánh với các lễ hội phương Tây thì có những điểm khác biệt nào của các lễ hội này?
Sự khác biệt về quan niệm: biến đổi lễ hội có nguồn gốc tôn giáo, và được quan niệm
là ngày lễ hướng về gia đình trở thành dịp lễ hội có nguồn gốc từ nước ngoài không cần thực hiện phần lễ, chỉ để tụ tập bạn bè, chủ yếu là vui chơi
Sự khác biệt về chức năng: Đối với giới trẻ là dịp mua sắm, hòa vào không khí của các quốc gia khác trên thế giới, và thể hiện sự năng động, hội nhập và thiếu các hoạt động vui chơi trong thành phố Thỏa mãn nhu cầu giải trí
Sự khác biệt về cách thức thực hiện: Không có phần lễ mà chỉ có phần hội Hầu hết là đến chụp ảnh và tham gia ở các không gian mở mang nhiều yếu tố cộng đồng Các hoạt động khác trong lễ hội không được chú trọng như trò chơi, ẩm thực, nghi lễ, sự chuẩn bị,… của truyền thống tại các nước phương Tây
5 Phương pháp nghiên cứu
Bài báo cáo sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng kết hợp với nghiên cứu định tính
Đối với phương pháp nghiên cứu định tính bài nghiên cứu lựa chọn 3 đối tượng nghiên cứu theo 3 tiêu chí trên để thực hiện phỏng vấn, nhằm tìm ra được cách thức thực hiện, các quan niệm, chức năng của lễ hội này có gì khác nhau và thay đổi ra sao so với lễ hội gốc, quan sát thực tế lễ hội diễn ra Bằng các cuộc phỏng vấn đối tượng, tổng hợp tài liệu có sẵn để có được những nhận định về các lễ hội phương Tây đang được thực hành tại Thành phố Hồ Chí Minh Từ đó có thể so sánh, đối chiếu để tìm ra những đặc điểm giao lưu tiếp biến văn hóa của các lễ hội này
Về phương pháp nghiên cứu định lượng bài báo cáo có phương pháp thu thập dữ liệu
là sử dụng bản hỏi có cấu trúc, với các mẫu nghiên cứu là giới trẻ có độ tuổi từ 18-26 Trong đó đối với bản hỏi khảo sát về Giáng sinh thì tỉ lệ 50 nam, 50 nữ thực hiện bản hỏi khảo sát Còn đối với bản hỏi khảo sát về Halloween có 25 nữ và 25 nam thực hiện Mẫu nghiên cứu được chú ý đến với các đặc điểm: Tôn giáo, nơi sinh, và địa bàn cư trú Trong
đó tôn giáo, được lựa chọn hai đối tượng theo Công Giáo hoặc tôn giáo khác Đối với nơi sinh, thì có sinh ra và lớn lên tại thành phố Hồ Chí Minh hoặc từ tỉnh khác đến Còn địa
Trang 18bàn thu thập mẫu nghiên cứu thì tập trung vào quận 8, và các quận trung tâm như quận 1
và quận 3 Quận 1, quận 3 luôn là một trong những quận trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung đông các bạn trẻ đến vui chơi và tham gia vào các hoạt động diễn ra, đặc biệt là tại các trung tâm thương mại lớn, phố đi bộ, và các con đường với các cửa hàng từ phương Tây tập trung như Nguyễn Huệ, Đồng Khởi, Hai Bà Trưng,… Đối với Quận 8, có dân số 431.969 người, diện tích 19,18 km2 (Tổng cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 2015)
Bản đồ Thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn: https://blog.rever.vn/dien-tich-va-dan-so-cac-quan-huyen-tai-tphcm-khac-
nhau-ra-sao) Đây là quận có diện tích khá lớn, vị trí khá thuận lợi cho giao lưu với các quận trong địa bàn Thành phố Bên cạnh đó, quận 8 còn có sự sinh sống của nhiều tộc người di cư đến khác nhau như Chăm, Hoa, Kinh, Khmer,… trong đó nổi bật là nhóm dân cư theo Công Giáo tập trung ở Xóm Đạo (Phạm Thế Hiển, phường 6, Quận 8)
Trang 19Để thống kê dữ liệu từ bảng hỏi chúng tôi sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu, thống
kê IBM SPSS statistics 20 Phần hạn chế trong sử dụng phần mềm này là chúng tôi không thực hiện được nhiều thao tác phân tích số liệu Cụ thể trong bài báo cáo chỉ sử dụng thao tác thống kê bằng bảng tần số, bảng chéo dành cho câu hỏi đa phương án
6 Bố cục đề tài
Chương 1: Tổng quan và cơ sở lý thuyết
Trong chương 1 với nội dung chính là định nghĩa về lễ hội, tổng quan về Thành phố
Hồ Chí Minh với lịch sử, địa lý, và kinh tế; tiếp theo là các lý thuyết “Giao lưu tiếp biến văn hóa” và “Kiến tạo xã hội”
Chương 2: Các lễ hội phương Tây tại Thành phố Hồ Chí Minh
Đây là chương mô tả các lễ hội phương Tây đang được thực hiện tại Thành phố Hồ Chí Minh với nguồn gốc hình thành, quan niệm về lễ hội Để mô tả được giới trẻ thực hành chúng ra sao thì chương 2 phân tích thông qua các dữ liệu từ thống kê bảng hỏi Chương 3: Các yếu tố biến đổi của lễ hội phương Tây tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong phạm vi chương 3 phân tích dữ liệu từ các nguồn có sẵn về lễ hội ở các quốc gia phương Tây, và phỏng vấn các đối tượng Từ đó so sánh đối chiếu tìm ra các đặc điểm thay đổi của lễ hội phương Tây
Trang 20CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN & CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Định nghĩa về lễ hội
Lễ hội (festival) thuật ngữ dùng để chỉ những hình thức sinh hoạt văn hóa phổ biến có thể tổng hợp nhiều loại hình văn hóa khác nhau như văn học nghệ thuật, tôn giáo tín ngưỡng, phong tục tập quán,…) qua hình thức sân khấu hóa hoặc cảnh diễn hóa tại một địa điểm, một không gian- thời gian nhất định bằng những nghi thức, nghi vật, nghi trượng đặc trưng xoay quanh hai nội dung cơ bản: lễ và hội Lễ là phần “thiêng” chủ yếu thể hiện qua các nghi thức chặt chẽ và thường gắn với nhu cầu tinh thần mang màu sắc tâm linh, suy nghiệm của người dự lễ hướng về một đối tượng cử lễ mang những giá trị lịch sử văn hóa hoặc ý nghĩa thiêng liêng nào đó Hội chủ yếu là phần “đời”, nơi giải tỏa tâm lý, sáng tạo và hưởng thụ văn hóa (vật chất, tinh thần), đáp ứng yêu cầu hội nhập cộng đồng với những hoạt động sinh hoạt vui vẻ, hào hứng và vì nhu cầu văn hóa tinh thần của cộng đồng người tham gia lễ hội là chủ yếu (Huỳnh Quốc Thắng, trang 5,
2006 )
Nói cách khác lễ biểu hiện sự trang trọng, thuộc về đời sống tâm linh, tôn giáo, thỏa mãn nhu cầu về tinh thần của con người Đây là sự kết hợp giữa các hành vi tế lễ và các loại hình nghệ thuật dân gian trong các nghi lễ đón rước thần linh Những thể chế về lễ gọi là “nghi lễ”, thể hiện ước muốn giao hòa, kết hợp giữa người với người, người với các thế lực tự nhiên, về sau bị biến thể phục vụ các yêu cầu của tôn giáo, chính trị, xã hội,… Hội thể hiện sự cộng cảm của công chúng thông qua hoạt động thưởng ngoại, giải trí và có ý nghĩa tâm linh sâu sắc (Huỳnh Quốc Thắng, trang 6, 2006)
Theo Từ điển Bách khoa, lễ hội là hệ thống các hành vi, động tác, nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con người đối với thần linh; phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà họ chưa có khả năng thực hiện Vốn được sản sinh từ lâu đời, lễ hội tồn tại, phát triển cho đến nay qua nhiều giai đoạn với nhiều xu hướng, dựa vào đó người ta có thể phân biệt chúng thành lễ hội cổ truyền và lễ hội hiện đại
Khi phân tích khái niệm về một lễ hội, chúng ta cũng nên xem xét môi trường mà chúng diễn ra, đặc biệt là trong mối tương quan kinh tế, xã hội và môi trường Một lễ hội
Trang 21có thể tồn tại được phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức lễ hội đó, ngân sách, cá nhân và môi trường xung quanh bao gồm cả kinh tế, cách thức tổ chức, đối tượng tham gia tổ chức, và chính sách nhà nước Ngoài ra khi một lễ hội muốn diễn ra theo hình thức nào cũng bị ảnh hưởng bởi yếu tố kinh tế, cơ sở hạ tầng (sử dụng cho lễ hội), phương tiện truyền thông, văn hóa nội tại, và các yếu tố địa lý Điều quan trọng nhất là lễ hội được giới thiệu trong bối cảnh xã hội như thế nào có phù hợp với xã hội đó hay không Điều này đặc biệt quan trọng đối với một doanh nghiệp mong muốn tổ chức một lễ hội để có được các kết nối giữa sản phẩm và người tiêu dùng Họ không thể mang những điểm chuyên biệt không được xã hội chấp nhận, hoặc không phù hợp, lễ hội sẽ ngay lập tức bị đào thải cắt đứt mối liên hệ xã hội Người tham gia lễ hội cũng mong muốn duy trì bản sắc cá nhân,
và bản sắc giữa các mối liên hệ của họ, trao đổi thông tin, đưa ra các ý tưởng, và tự sáng tạo nên các hoạt động khác nhau trong lễ hội (Cudny W trích dẫn, trang 21, 2016)
Các chức năng chính của một lễ hội được Cudny W bao gồm: kết nối các thành tố tổ chức, và kết nối lễ hội văn hóa và cộng đồng Các yếu tố kết nối giữa các thành tố tổ chức nên một lễ hội bao gồm: địa điểm tổ chức, thời gian, chức năng và các phương tiện khác bao gồm: truyền thông, người tham gia, người tổ chức, truyền thông, người tham gia biểu diễn trong các sự kiện, công ty tổ chức, tiền từ các doanh nghiệp,… Địa điểm tổ chức luôn được ông nhấn mạnh, vì không gian tổ chức dường như đã có một chỉ định đặc biệt Thời gian tổ chức để chiếm không gian này cho một nhiệm vụ khác hằng ngày Các yếu
tố để tổ chức lễ hội này phải thể hiện được chức năng đưa lễ hội này trở thành một lễ hội công khai, mang đến sự vui vẻ, kết hợp với chủ đề chính của lễ hội và biến chúng trở thành một lễ hội thường niên của không gian đô thị
Yếu tố kết nối giữa các tác động của lễ hội văn hóa và cộng đồng Lễ hội giúp phát triển bản sắc xã hội và vốn xã hội, ví dụ thông qua việc tổ chức các lễ hội có giá trị quan trọng đối với một cộng đồng, lưu giữ và phát huy các giá trị hoặc thực hành các kỹ năng
có được trong suốt lễ hội Các lễ hội còn phát triển mối quan hệ giữa các cá nhân khi họ thực hiện liên lạc với nhau tham gia vào lễ hội, và duy trì tình cảm giữa họ, trở thành mối quan tâm chung của các nhóm xã hội Lễ hội lưu trữ các kinh nghiệm và thỏa mãn các
Trang 22nhu cầu xã hội mà người tham gia đang muốn giải tỏa trong khu vực sinh sống Đối với các đô thị, lễ hội là một di sản phi vật thể, như một cách thức trình bày các nền văn hóa khác nhau trong các cộng đồng dân cư cùng nhau sinh sống (Cudny W, trang 18, 2016)
Lễ hội là hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp mang tính cộng đồng cao, có giá trị hướng về nguồn cội, giá trị cân bằng đời sống tâm linh, giá trị sáng tạo và hưởng thụ văn hóa, là nhu cầu quan trọng tác động đến đời sống xã hội Hiện cả nước có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544
lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là
lễ hội khác (chiếm 0,5%) Địa phương có nhiều lễ hội nhất là thành phố Hà Nội (1095 lễ hội), ít lễ hội nhất là tỉnh Lai Châu (17 lễ hội) Như vậy lễ hội dân gian có tỷ lệ lớn nhất
và bao trùm hầu hết các làng xã Việt Nam (Bộ văn hóa thể thao và du lịch, trang 1, 2017)
Phân loại lễ hội của Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du Lịch năm 2017, lễ hội tại Việt Nam hiện nay bao gồm: lễ hội dân gian; lễ hội lịch sử cách mạng; lễ hội văn hóa, thể thao và
du lịch; lễ hội tôn giáo; lễ hội ngành nghề; và lễ hội du nhập từ nước ngoài Trong bài báo cáo chú trọng đến loại lễ hội du nhập từ nước ngoài này Đây là lễ hội do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam Loại hình lễ hội này có nguồn gốc do người nước ngoài đang cư trú và sinh sống hợp pháp ở Việt Nam tổ chức nhằm kỷ niệm các sự kiện về chính trị, văn hóa, phong tục của đất nước họ nhưng không trái với pháp luật và thuần phong mỹ tục của Việt Nam Các hoạt động lễ hội du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam rất đa dạng, có ảnh hưởng và thu hút người Việt Nam đặc biệt là lực lượng thanh niên như: “Ngày tình yêu” (Valentine’s Day) được tổ chức vào ngày 14-2 hàng năm Lễ hội này đã được tổ chức ở nhiều nơi, không có phần lễ nghi và nghi thức, cụ thể, chủ yếu là các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh cho các cặp vợ chồng, các cặp tình nhân chủ yêu là giới trẻ, với các nét sinh hoạt văn hóa ảnh hưởng theo tập quán phương tây Lễ hội Giáng sinh đã trở thành lễ hội quen thuộc với các tín đồ theo Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam Không chỉ vậy, lễ hội này còn mang đến
Trang 23không khí nhộn nhịp và đầy màu sắc cho những con đường khắp thành phố Lễ hội Haloween (lễ hội hóa trang) thường không được phổ biến mà chỉ được tổ chức dưới hình thức nhỏ, hẹp, phạm vi nội bộ một số công dân của cộng đồng nước ngoài Lễ hội này tổ chức dưới hình thức dạ tiệc kết hợp với các trò vui chơi, ảo thuật không khí vui vẻ lành mạnh đáp ứng được nhu cầu của du khách nước ngoài và không mang tính quảng bá rộng rãi trong công chúng Ngoài các lễ hội mang tính chất phổ biến với người Việt Nam, tùy vào điều kiện các Lãnh sự quán nước ngoài đóng tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đại sứ quán nước ngoài đóng tại Thủ đô Hà Nội còn tổ chức lễ hội mừng ngày Quốc khánh của Quốc gia họ với sự tham gia của kiều bào quốc gia đó như các nước: Cu Ba, Ấn Độ, Úc, Anh, Pháp, Malaysia, Trung Quốc, Hàn Quốc, Lào, Thái Lan, Nhật Bản Chương trình thường có phần hội với chương trình biểu diễn giao lưu nghệ thuật đặc sắc mang đậm nét văn hóa của quốc gia đó Hoạt động này đã làm đa dạng thêm các hoạt động lễ hội của Thành phố Hồ Chí Minh - Hà Nội nói riêng và bổ sung thêm phong phú các loại hình hoạt động lễ hội tại Việt Nam, góp phần làm nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và công dân quốc tế đang sống tại Việt Nam (Bộ văn hóa thể thao và du lịch, trang 17, 2017)
Lễ hội là một hiện tượng văn hóa được hình thành và phát triển trong những điều kiện địa lý, lịch sử, văn hóa và kinh tế nhất định, gắn với những đặc điểm văn hóa cộng đồng Bên cạnh việc bảo lưu, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội đã và đang tạo nên những thói quen mới, lối sống mới, cách hành xử mới trước các sự kiện, dấu ấn lịch
sử đương đại Các loại hình lễ hội có yêu cầu về không gian, thời gian, lễ thức riêng Lễ hội là di sản văn hóa quý của quốc gia, dân tộc (Bộ văn hóa thể thao và du lịch, trang 2 đến trang 5, 2017)
2 Định nghĩa phương Tây
Trong đó phương Tây được nhắc đến bằng nhiều định nghĩa phương Tây có nhiều cách: Theo địa lý, phương Đông bao gồm những nước ở phía Đông Châu Âu (quan niệm Châu Âu là trung tâm thế giới, Eurocentnsm) Nhưng ngay trong khối phương Tây (Châu Âu) , Tây Âu trước đây quan niệm Trung và Đông Âu thuộc về phương Đông cùng với Cận và Trung Đông Theo chủng tộc thì người Việt Nam thường quan niệm phương Tây
Trang 24là xứ người da trắng Theo hệ tư tưởng thời chiến tranh lạnh thì phương Tây là tư bản chủ nghĩa, phương Đông là cộng sản chủ nghĩa (gió Đông của Mao Trạch Đông) Theo khái niệm phát triển kinh tế thì phương Tây gồm các nước giàu (phía Bắc), phương Đông là các nước nghèo (phía Nam) Theo nhân học văn hóa (hofstede, E.Hall), các nền văn hóa Tây Âu - Bắc Mỹ (phương Tây) đặc trưng bởi khái niệm cá nhân (theo nghĩa triết học), còn phương Đông đặc trưng bởi tinh thần cộng đồng (Hữu Ngọc, 2008, bài viết truy cập ngày 21/11/2018 tại:http://www.vanhoahoc.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-chung/469-huu-ngoc-doi-thoai-lien-van-hoa-giua-viet-nam-va-phuong-tay.html)
Trong đó có sự phân chia địa lý và tư tưởng lấy châu Âu làm trung tâm để phân chia phương Đông và phương Tây Hai khái niệm này chỉ mang tính tương đối và tính quy ước của con người xuất phát đầu tiên ở khu vực Nam Âu (Hy Lạp bà bán đảo Balkán) từ thời cổ đại Khu vực phía mặt trời lặn so với họ là phương Tây, còn các vùng đất còn lại (châu Phi và châu Á) gọi là phương Đông Họ còn phân chia thành vùng Cận, Trung, và Viễn Đông so với Hy Lạp và các quốc châu Âu cổ đại (Lịch sử 10- Bài 3: Các quốc gia
cổ đại phương Tây) Đối với lịch sử lý thuyết Nhân học, khái niệm phương Đông và phương Tây gắn với hai thuyết nghiên cứu trái ngược nhau: Thuyết phương Đông, Thuyết phương Tây và toàn cầu hóa Edward Said nhà phê bình văn học, viết cuốn
“Phương Đông học” đã công kích phương Tây tạo ra khái niệm phương Đông, cho rằng đây là cách thể hiện của chế độ thực dân và hậu thực dân Ông cũng nhận định phương Tây cần phương Đông để định nghĩa chính mình, “cái gì không phải Đông thì là Tây” (Alan Barnard, trang 235, 236, 2015)
Vậy có thể định nghĩa các lễ hội phương Tây là lễ hội có guồn gốc từ các quốc gia châu Âu và Mỹ du nhập vào Việt Nam Đây là lễ hội do tổ chức của Việt Nam hoặc tổ chức nước ngoài đang hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, tổ chức nhằm giới thiệu giá trị văn hóa tốt đẹp của nước ngoài với công chúng Việt Nam Loại hình lễ hội này có nguồn gốc do người nước ngoài đang cư trú và sinh sống hợp pháp ở Việt Nam tổ chức nhằm kỷ niệm các sự kiện về chính trị, văn hóa, phong tục của đất nước họ nhưng không trái với pháp luật và thuần phong mỹ tục của Việt Nam
Trang 253 Các lý thuyết
Khái niệm giao lưu tiếp biến văn hóa được đưa ra bởi các nhà nhân học phương Tây Đây là khái niệm chỉ đến sự tiếp nhận và biến đổi khi mà hai nền văn hóa tiếp xúc với nhau Khi tiến hành nghiên cứu về các thay đổi trong trong văn hóa của nhóm di dân người châu Âu đến Mỹ với các nhóm dân tộc thiểu số sinh sống lâu đời ở tại Mỹ Khi định cư trên đất Mỹ, nhóm cư dân da trắng đến từ châu Âu tác động đến văn hóa của các nhóm
Mặc dù các định nghĩa về “giao lưu tiếp biến văn hóa” đã tồn tại từ cuối thế kỉ 19, nhưng đến thập niên 1930, một định nghĩa chính thức đã được đề xuất và được hợp pháp hóa, trở thành một lĩnh vực nghiên cứu của Hội đồng nghiên cứu khoa học Xã hội Hoa
Kỳ Các nghiên cứu chủ yếu từ ba nhà nhân học: Robert Redfield, Ralph Linton và Melville Herskovits Họ đã đưa ra định nghĩa như sau: “Giao lưu tiếp biến văn hóa là những kết quả của hiện tượng khi hai nhóm tộc người có nền văn hóa khác nhau tiếp xúc với nhau một cách trực tiếp hoặc gián tiếp liên tục tạo ra những thay đổi trong văn hóa gốc của một trong hai nhóm hoặc của cả hai nhóm Điều này không đồng nghĩa với sự hợp nhất mà có là sự thay đổi văn hóa, trong đó chỉ có một khía cạnh văn hóa nào đó bị thay đổi Sự đồng hóa là một giai đoạn trong sự biến đổi này (Olaga Cara, trang 42, 2009) Trong khi tiếp xúc với nhau, hai nền văn hóa được đánh giá dựa trên tiêu chí về chi phối đời sống xã hội, từ đó được chia thành nền văn hóa bị phụ thuộc, và nền văn hóa nổi trội Các giá trị của nền văn hóa bị phụ thuộc sẽ có xu hướng bị hòa lẫn hoặc trở thành một bộ phận trong nền văn hóa nổi trội có vai trò chi phối đời sống xã hội Đối với Thomson thì ông đưa ra 4 nhận định về quá trình mà hai nền văn hóa này tiếp xúc với nhau như sau: Một là văn hóa của cộng đồng lớn sẽ dẫn đến quá trình tiếp biến và đồng hóa văn hóa theo tự nhiên đối với nền văn hóa thiểu số hơn Tiến trình này diễn ra rất chậm khi mà các cá nhân thuộc cộng đồng nhỏ cùng sống và tham gia kinh tế với cộng đồng lớn Hai là tiếp biến văn hóa sẽ hướng đến quá trình đồng hóa Ba là việc tiếp biến văn hóa hay đồng hóa văn hóa sẽ diễn ra liên tục, không có sự kết thúc Bốn là tiếp biến
Trang 26văn hóa và đồng hóa văn hóa dẫn đến sự đồng nhất, pha trộn, làm cho văn hóa của nhóm nhỏ hòa lẫn vào văn hóa của nhóm trội hơn (Huỳnh Ngọc Thu, trang 2, 2011)
Giao lưu tiếp biến văn hóa là kết quả biểu hiện sự biến đổi bộ phận văn hóa của tộc người (yếu hơn các tộc người khác về mặt dân số, kinh tế, chính trị,…) trong xã hội đa tộc người Sự biến đổi này là do các cá nhân trong tộc người tham gia vào các vị trí xã hội của nền văn hóa khác (có vai trò chi phối xã hội), như cùng sống chung trong một khu vực, cùng tham gia vào các hoạt động giáo dục, kinh tế, chính trị… và rồi bản thân của cá nhân tự thay đổi cho phù hợp với văn hóa mới Giao lưu tiếp biến văn hóa là sự tương hỗ lẫn nhau giữa hai nền văn hóa Sự tương hỗ này có khi diễn ra không cân xứng,
và kết quả sẽ có một nền văn hóa bị hút vào trong một nền văn hóa khác, hoặc bị thay đổi bởi một nền văn hóa khác hay cả hai nền văn hóa cùng thay đổi Điều kiện để các nền văn hóa có thể tiếp xúc lâu dài, dẫn đến quá trình tiếp biến văn hóa là do những nhân tố sau: Một là các dân tộc với nền văn hóa khác nhau cùng sống chung trong một khu vực có sự tương đồng về mặt địa lý, lịch sử, kinh tế, chính trị… nên dẫn đến quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Hai là, các tộc người cùng tham gia vào một thể chế chính trị, một hệ thống giáo dục nên cũng dẫn đến quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa Ba là, các tộc người tiếp nhận một tôn giáo mới thông qua cơ chế truyền đạo nên văn hóa của họ cũng bị biến đổi Trong lịch sử, văn hóa của nhiều tộc người đã có sự thay đổi khi tiếp nhận một tôn giáo mới Sự thay đổi có thể là thay đổi nhận thức về thế giới quan, thay đổi về lễ nghi trong cộng đồng, thay đổi về lối sống– sinh hoạt văn hóa,…(Huỳnh Ngọc Thu, trang 2, 2011) Trần Thu Hương dẫn lại Berry (1980) trong nghiên cứu của mình, sự tiếp biến văn hóa chỉ ra “cách thức mà các cá nhân có trải qua những chuyển tiếp văn hóa đã hợp nhất hai nền văn hóa vào đời sống của họ Các dạng tiếp biến văn hóa mà cá nhân chấp nhận
có thể được xem như những phương cách ứng phó với sự chuyển tiếp văn hóa Berry đã
đề xuất mô hình tiếp biến văn hóa được thiết lập dựa trên sự giao thoa giữa hai trục: bản thể học (ontologie – các cá nhân lựa chọn duy trì các giá trị gốc và gắn bó với bản thể của họ) và bối cảnh xã hội (trong đó cá nhân lựa chọn hoặc không các mối quan hệ ngoại lai) (Trần Thu Hương, trang 36, 2014)
Trang 27Khi giao thoa hai trục này, ông đã nhận diện được bốn trạng thái khác nhau tạo nên các tình huống tiếp biến:
• Đồng hóa (cá nhân không muốn giữ gìn di sản văn hóa của mình và gia nhập nền văn hóa khác)
• Hội nhập (cá nhân tiếp xúc với văn hóa khác, nhưng không chấp nhận nề văn hóa
đó được đưa vào trong văn hóa của mình)
• Tự tách biệt (cá nhân duy trì văn hóa của mình bằng cách tự cô lập với xã hội)
• Loại trừ hoàn toàn (nhóm cá nhân không còn khả năng và không còn muốn bảo tồn bản sắc riêng, cũng như không có khả năng và không muốn phát triển các mối quan
hệ ngoại lai) (Trần Thu Hương, trang 37, 2014)
Nền văn hóa Việt Nam trải qua thời gian dài tiếp xúc với văn hóa phương Tây, đặc biệt là từ cuối thế kỉ 17 hoạt động truyền giáo từ các quốc gia phương Tây như Pháp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha,… Từ những tiếp xúc này quá trình giao lưu và tiếp nhận, biến đổi các giá trị văn hóa phương Tây diễn ra mạnh mẽ Các yếu tố có thể thúc đẩy quá trình Việt Nam giao lưu tiếp biến với văn hóa phương Tây này như tiếp xúc lâu dài, cùng chia
sẽ một hệ thống chính trị, hay hệ thống giáo dục, kinh tế, lịch sử và đặc biệt là cơ chế truyền giáo diễn ra ở nhiều cấp độ khác nhau Việt Nam tiếp nhận văn hóa phương Tây ban đầu là do truyền giáo, cưỡng bức, và đến tự nguyện Những nét đặc sắc của văn hóa phương Tây, mà cụ thể là các lễ hội phương Tây không được chào đón trong suốt giai đoạn kháng chiến, và phát triển đất nước sau chiến tranh Giai đoạn này phù hợp với nhận định của Berry về tình huống tiếp biến tự tách biệt Họ duy trì văn hóa của mình và tự cô lập với xã hội, có giao lưu nhưng không xảy ra tiếp biến văn hóa Đến sau năm 1989, với chính sách mở cửa, phát triển kinh tế theo hướng thị trường, Việt Nam chịu ảnh hưởng từ kinh tế trong xu hướng toàn cầu hóa, các công ty đa quốc gia phát triển, mở ra nhiều cơ hội tiếp xúc và cởi mở hơn đối với văn hóa phương Tây
Đối với lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa nhìn nhận quá trình tiếp xúc của văn hóa phương Tây và văn hóa giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong quá trình này không chỉ là giao lưu, tìm hiểu và biết về các giá trị văn hóa, trường hợp này là lễ hội, mà còn có
sự biến đổi các yếu tố cấu thành nên các lễ hội này Những tưởng nền văn hóa phương
Trang 28Tây có sức ảnh hưởng mạnh thông qua ảnh hưởng của kinh tế nước ngoài vào thị trường Việt Nam, hoặc qua các phương tiện thông tin đại chúng, tiếp xúc được với nhiều người, nhiều thông tin từ Intermet, thì sẽ gây ra những biến đổi với văn hóa Việt Nam Nhưng điều ngược lại đã diễn ra, các lễ hội phương Tây đã nhận được sự thay đổi tích cực từ giới trẻ Tích cực ở chỗ, khi thực hiện sự tiếp biến trạng thái mà cá nhân thể hiện trong tình huống tiếp biến vẫn là tự tách biệt Các giá trị văn hóa truyền thống của Việt nam vẫn được duy trì, các nét văn hóa phương Tây được biết đến, đưa vào trong đời sống, và được biến đổi sao cho phù hợp với đời sống cộng đồng ở Việt Nam Các đặc điểm có thể
kể đến trong quá trình giao lưu tiếp biến với các lễ hội phương Tây là: thay đổi quan niệm của các lễ hội phương Tây, cách thức thực hiện chúng trong đời sống của giới trẻ,
và chức năng của các lễ hội này Tuy lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa đã nêu lên được khái quát về sự thay đổi của các đặc điểm trong lễ hội của phương Tây khi du nhập vào đời sống cộng đồng Việt Nam, trạng thái về giới trẻ đối với sự tiếp nhận này, nhưng thựuc tế cách thức tiếp nhận ra sao, và biến đổi để có sự khác biệt như thế nào lý thuyết vẫn chưa thựuc sự lý giải được
Lý thuyết kiến tạo xã hội ( socioconstructivisme), một lý thuyết dựa trên các công
trình nghiên cứu của Bandura (1986), đặc biệt là mô hình học xã hội, và được phát triển bởi các nhà tâm lý học xã hội và tâm lý học phát triển xã hội Lý thuyết kiến tạo xã hội chỉ ra việc học tập hoặc tạo ra một kiến thức mới của một người, dù rằng mang tính cá nhân, nhưng được thực hiện trong một khung cảnh xã hội Một người muốn kiến tạo kiến thức, trên cả hai mặt là làm mới kiến thức cũ, hoặc tiếp thu kiến thức mới thì phải được tạo điều kiện môi trường thuận lợi Môi trường này phải có các tương tác giữa xã hội và kiến thức, và có sự dẫn dắt hoặc phương pháp để người học chủ động kiến tạo kiến thức (Nguyễn Quang Thuấn, trang 145, 2017)
Tiếp cận lý thuyết kiến tạo xã hội từ công trình của Vygotsky, hiểu hơn các khái niệm
về vùng phát triển gần và các nhận định về sự ảnh hưởng của môi trường đến tư duy và việc học của một đứa trẻ Đối với Vygotsky, một đứa trẻ cho dù học bất cứ điều gì mới, thì tri thức từ môi trường xung quanh cũng là tác nhân gây ảnh hưởng đến cách thức tư
Trang 29duy và lượng kiến thức học được của chúng Một đứa trẻ sẽ bắt đầu quá trình học tập của mình từ những điều xung quanh, mà phải kể đến đầu tiên là các từ ngữ của xã hội Xuất phát từ các từ ngữ, các hành động xung quanh hằng ngày xây dựng nên một hệ thống khái niệm, ý nghĩ, thái độ và hành động của chúng đối với các sự việc được chúng bất
ngờ gặp trong đời sống Với khái niệm “vùng phát triển gần” (zone proximale de développement), đây là khái niệm trung tâm của các công trình nghiên cứu của Vygotsky
(1985) Khái niệm này đề cập tới sự khác nhau giữa cái mà đứa trẻ sẽ học nếu học một mình và cái mà đứa trẻ có thể học một cách tiềm năng nếu như đứa trẻ được người khác giúp đỡ hoặc học từ những người xung quanh, và bạn bè Do đó, vùng phát triển gần (ZPD) này chính là khoảng cách hay sự khác nhau giữa trình độ phát triển hiện tại được xác định bởi các khả năng của đứa trẻ giải quyết vấn đề một mình và trình độ phát triển tiềm năng được xác định qua việc giải quyết vấn đề của đứa trẻ này, khi mà nó được những người lớn giúp đỡ hay hợp tác với các bạn có trình độ cao hơn Trong lý thuyết được phát triển chủ yếu bởi Vygotsky, vùng phát triển gần trước hết là cái mà người học chỉ có thể thực hiện được với sự giúp đỡ của một người có năng lực hơn Ông còn đưa ra khẳng định quan trọng “Quá trình tâm lý của chúng ta được xây dựng cũng giống như một quá trình xã hội, có nghĩa là nó được đào luyện bằng chính văn hoá của chúng ta” Một kiến thức mới không khiến người ta cảm thấy khó chịu tiếp nhận hay dễ dàng tiếp nhận khi mà kiến thức cũ, tức là môi trường xã hội, văn hóa xung quanh tồn tại trong não
bộ của người đó có tương quan với kiến thức mới Và các hiểu biết của con người về một tri thứuc là khác nhau, khi mà họ được tồn tại trong các vùng phát triển gần khác nhau, và khả năng tương tác giữ tri thức mới và kiến thức vốn có là hoàn toán khác biệt Vùng phát triển gần được nhắc đến như một yếu tố có thể tác động đến cách thức thực hành các
lễ hội của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh khác với nguyên gốc các lễ hội ở phương Tây là do có sự tác động của môi trường xung quanh Chúng được tiếp cận một lễ hội phương Tây không đầy đủ và có biến đổi của trung gian Ngoài ra thuyết kiến tạo theo Vygotsky, còn cho thấy khả năng một lễ hội phương Tây có thể trở nên phổ biến là do giới trẻ có được sự chủ động thực hiện chúng hay không, tìm được các tiếng nói chung với tri thức đã biết hay không, và những phản ứng của chúng trước các yếu tố bên trong
Trang 30của lễ hội được diễn ra như thế nào Điều đó lý giải được vì sao Halloween chỉ trong vòng 4 năm đã có thể trở nên phổ biến, mà Giáng sinh lại mất một khoảng thời gian dài hơn
Tiến trình kiến tạo thực tại xã hội Berger và Luckman đưa ra (Trần Hữu Quang dịch) bao gồm 3 giai đoạn: tập quán hóa, điển hình hóa, tạo ra các vai trò, và kết quả cuối cùng
là cho ra đời một định chế Tập quán hóa mở đầu cho kiến tạo thực tại xã hội, mà đây chính là tạo ra một khuôn mẫu Những hành động được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ trở thành một khuôn mẫu, và sau đó là được sao chép lại dễ dàng Tập quán hóa giúp người
ta chọn làm cái này trong vô vàn sự lựa chọn khác nhau, và thực hiện hành động đó một cách liên tục mà không cần nhắc lại Ví dụ như tổ chức hội làng là một khuôn mẫu hành động Hội làng được tổ chức qua hằng năm, qua nhiều thế hệ cùng sinh sống trong làng
và trở nên quen thuộc Do đó, những người dân trong làng lựa chọn tổ chức hội làng theo kiểu cách nơi họ ở mà không phải cách tổ chức hội làng khác của nhiều làng khác Cho
dù hội làng có bị gián đoạn ở một vài năm không tổ chức, hay bị ảnh hưởng bởi yếu tố khác thì người dẫn vẫn có thể tổ chức chúng, hoặc trong quá trình tổ chức hội làng, người
ta luôn biết phải làm gì trong ngày hôm đó, và những ngày kế tiếp của hội Quá trình này tạo ra một loạt các khuôn mẫu hành động
Khi đã tạo được một khuôn mẫu, quá trình điển hình hóa bắt đầu thực hiện việc biến khuôn mẫu đó thành một quy chuẩn điển hình Những sự vật, hiện tượng, hoặc các cá thể khác mà chúng ta bắt gặp ngẫu nhiên sẽ được quy chiếu với các sự vật, hiện tượng, hoặc
cá thể trong khuôn mẫu điển hình đã có hoặc mở rộng thêm khuôn mẫu điển hình mà mình chưa biết Cụ thể như việc bạn nhìn thấy người dân ở một vùng tập trung tại một nơi rộng rãi, có các đền thờ linh thiêng, một nghi lễ nào đó được thực hiện, và sau nghi lễ
đó là sự náo nhiệt của các hoạt động vui chơi, kéo dài trong một ngày hay vài ngày, bạn
sẽ có mẫu điển hình là lễ hội Khi bạn hỏi lễ hội này là lễ hội gì, bạn đã thực hiện xem xét
sự khác biệt của lễ hội này với các lễ hội khác mà bạn đã biết
Các vai trò được xem là phản ứng điển hình của một kì vọng điển hình Cộng động xã hội quy định sẵn lối ứng xử này cho mỗi vai trò nhất định Vai trò trở thành các khuôn mẫu ứng xử Khuôn mẫu ứng xử không chỉ bao gồm những gì mà được quy định sẵn, mà
Trang 31còn là cảm xúc, thái độ thuộc khuôn mẫu ứng xử đó Các phần nghi lễ của lễ hội luôn được người dân cho là linh thiêng Nghĩa là nghi lễ là biểu hiện của sự linh thiêng, nhưng cũng chính các nghi lễ này tạo nên không khí linh thiêng, và khiến người dân tin vào điều
mà mình đang làm là có tác dụng gần hơn với các vị thần Định chế chính là cái được tồn tại thông qua các vai trò, mang tính lịch sử và kiểm soát Định chế được thể hiện qua các vai trò và bao gồm hai cấp độ, một là thể hiện ứng xử chính định chế đó, hai là thể hiện cách ứng xử của mạng lưới thuộc định chế đó Ví dụ như khi tham gia vào thực hiện các phần trong nghi lễ, đó là thể hiện vai trò của thầy cúng Vai trò của người thầy cúng này
có liên hệ với nhiều vai trò khác, như vai trò của đồ cúng, vai trò của người dân đến thực hiện nghi lễ, vai trò của âm nhạc được sử dụng,… tất cả tạo nên định chế về nghi lễ mà người thầy cúng hành động như đại diện cho định chế này
Đối với lý thuyết kiến tạo xã hội, đã đưa ra cách giới trẻ đưa lễ hội phương Tây vào đời sống Với các khuôn mẫu đa dạng về những lễ hội phương Tây đã được xây dựng và trở thành những vai trò, một trong số đó còn trở thành định chế mà nhiều quốc gia phương Tây, hoặc vượt ra khỏi phạm vi của các quốc gia này Các định chế này đa dạng
mà còn được hình thành từ rất lâu và trở nên phổ biến Khi diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến văn hóa, cơ chế kiến tạo này được kích hoạt nhằm đưa các lễ hội vào đời sống, nhưng vẫn phù hợp với mỗi vai trò hay định chế nào có sẵn Với những thứ có sẵn giới trẻ dễ dàng tạo lập nhiều hành động để thực hiện khuôn mẫu của các lễ hội này thể hiện
sự hiểu biết khác nhau về lễ hội Việc thực hiện này diễn ra liên tục, và các hoạt động được xem xét bởi các định chế vốn có của lễ hội, và hiểu biết về định chế lễ hội truyền thống, định chế của tôn giáo, văn hóa nội tại đã chọn lọc và tiến hành điển hình hóa các hành động phù hợp Các hành động này nhanh chóng được công nhận và điển hình hóa, đặc biệt là xây dựng nên các cách ứng xử và vai trò hoàn toàn khác xa so với các lễ hội nguyên gốc tại phương Tây Sự kiến tạo này không chỉ làm mới lại các định chế về Giáng sinh đã tồn tại trong cộng đồng theo Kito giáo, mà còn tạo ra các khác biệt Đặc biệt là lý giải được các lí do tại sao các lễ hội này được hưởng ứng nồng nhiệt, nhưng lại thực sự khác xa về ý nghĩa, cách thực hiện và quan niệm, không biến đổi cả hai nền văn hóa phương Tây và Việt Nam
Trang 32Muốn kiến tạo được một tri thức mới trong xã hội cần thiết phải có được sự dung hòa giữa hai yếu tố khác biệt sâu sắc Trong quãng thời gian kiến tạo họ phải cùng nhau chia
sẽ một yếu tố trung gian nào đó, mà giúp đỡ việc biến các khác biệt trở nên có sắn, thường thấy và dễ thích nghi (Berger, trang 188, file PDF Penguin University Books, 1971) Điều đó cũng tương tự như việc các lễ hội phương Tây muốn đi vào trong đời sống của giới trẻ thì nhất định phải được mã hóa thành một vốn kiến thức thân thuộc và
dễ hiểu bằng một kênh trung gian Người phương Tây thực hiện chúng bằng ngôn ngữ và hành động của một xã hội phương Tây, và giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh cũng có một vốn ngôn ngữ, và một loạt các văn hóa truyền thống khác không tương thích hoặc tương thích rất ít so với phương Tây Quá trình kiến tạo diễn ra khi có một kênh trung gian, mà nổi bật là phương tiện truyền thông, giáo dục, kinh tế, hoặc cộng đồng di cư đứng ra giải quyết các khác biệt vốn có, diễn giải chúng thành một loạt các hành động quen thuộc, và giới trẻ có các hành động lặp đi lặp lại liên tục Trong đó có một trường hợp diễn ra theo hướng tất nhiên đó là các kiến tạo này được tạo lập nên bởi hai sự tiếp xúc khác nhau nhưng khi xem xét người ta sẽ nhìn nhận chúng trong bối cảnh mà chúng được tạo ra (Berger, trang 189, file PDF Penguin University Books, 1971) Tức là khi lễ hội phương Tây được giới trẻ đưa vào trong đời sống, tuy rằng có những sự ràng buộc về quy định của lễ hội truyền thống và tri thức vốn có của giới trẻ về chúng thì các lễ hội này vẫn được xem xét và nhận định trong nội tại Thành phố Hồ Chí Minh, thừa nhận có những sự khác biệt và biến đổi chúng so với lễ hội truyền thống Việt Nam, và lễ hội phương Tây Vậy nên có 3 yếu tố làm cho một lễ hội phương Tây được tiếp biến ở Thành phố Hồ Chí Minh phải kể đến: lựa chọn khuôn mẫu (trong rất nhiều khuôn mẫu về các lễ hội phương Tây, tạo ra các mẫu điển hình, và quy định định chế cho các lễ hội tại Thành phố Hồ Chí Minh), so sánh đối chiếu với các giá trị văn hóa và bối cảnh nội tại (phản ứng lại với các khác biệt mà lễ hội phương Tây mang đến), kênh tiếp biến (mã hóa các gốc về
lễ hội phương Tây để dung hòa khác biệt, hoặc phổ biến theo cách mong muốn)
Trang 334 Tổng quan về Thành phố Hồ Chí Minh
Diện tích: 2.095.239 km2
Dân số: 7.123.340 người (2009)
Đơn vị hành chính: 24 quận, huyện
Khí hậu có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa bắt đầu từ khoảng tháng
5 đến tháng 11 Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Lượng mưa bình quân năm 1.979mm Nhiệt độ trung bình năm khoảng 280C
Vị trí địa lý: Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong toạ độ địa lý khoảng 10 0 10' –
10 0 38 vĩ độ bắc và 106 0 22' – 106 054 ' kinh độ đông Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương,
Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh , Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang
Thành phố Hồ Chí Minh cách thủ đô Hà Nội gần 1.730km đường bộ, nằm ở ngã tư quốc tế giữa các con đường hàng hải từ Bắc xuống Nam, từ Ðông sang Tây, là tâm điểm của khu vực Đông Nam Á Trung tâm thành phố cách bờ biển Đông 50 km đường chim
bay Đây là đầu mối giao thông nối liền các tỉnh trong vùng và là cửa ngõ quốc tế Với
hệ thống cảng và sân bay lớn nhất cả nước, cảng Sài Gòn với năng lực hoạt động 10 triệu tấn/năm Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với hàng chục đường bay chỉ cách trung tâm thành phố 7km
Sài Gòn cổ xưa được thành lập từ năm 1623, nhưng tới năm 1698, Chúa Nguyễn mới
cử Thống soái Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược đất Phương Nam, khai sinh ra thành phố Sài Gòn Năm 1911, Sài Gòn là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại ra đi tìm đường cứu nước, khi đất nước thống nhất, Quốc Hội khoá VI họp ngày 2.7.1976 đã chính thức đổi tên Sài Gòn là thành phố Hồ Chí Minh
Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố trẻ, với hơn 300 năm hình thành
và phát triển, thành phố có rất nhiều công trình kiến trúc cổ, nhiều di tích và hệ thống bảo
tàng phong phú.Với vị trí địa lý thuận lợi, Sài Gòn – nơi một thời được mệnh danh là
"Hòn ngọc Viễn Đông" đã là trung tâm thương mại và là nơi hội tụ của nhiều dân tộc anh
Trang 34em, mỗi dân tộc có tín ngưỡng, sắc thái văn hoá riêng góp phần tạo nên một nền văn hoá
đa dạng Đặc trưng văn hoá của vùng đất này là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống dân tộc với những nét văn hoá phương Bắc, phương Tây, góp phần hình thành lối sống, tính
cách con người Sài Gòn Đó là những con người thẳng thắn, bộc trực, phóng khoáng, có
bản lĩnh, năng động, dám nghĩ, dám làm (Bài viết trên trang: http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=9&ItemID=5530&PublishedDate=2011-07-01T01:10:00Z, truy cập ngày 4/12/208)
Trang 35Năng động và sáng tạo, Thành phố Hồ Chí Minh luôn đi đầu cả nước trong các phong trào xã hội, nơi đầu tiên trong cả nước được công nhận hoàn thành phổ cập giáo dục trung học
Với vai trò đầu tàu trong đa giác chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thành phố Hồ
Chí Minh đã trở thành trung tâm kinh tế, văn hoá - du lịch, giáo dục - khoa học kỹ thuật -
y tế lớn của cả nước Trong tương lai, thành phố sẽ phát triển mạnh mẽ về mọi mặt, có cơ cấu công nông nghiệp hiện đại, có văn hoá khoa học tiên tiến, một thành phố văn minh hiện đại có tầm cỡ ở khu vực Đông Nam Á (Bài viết trên trang: http://www.hochiminhcity.gov.vn/thongtinthanhpho/gioithieu/Lists/Posts/Post.aspx?CategoryId=9&ItemID=5530&PublishedDate=2011-07-01T01:10:00Z, truy cập ngày 4/12/208)
Trang 36Tiểu kết chương 1: Trong chương 1 đã dành ra phần đầu tiên để cho thấy được định nghĩa về lễ hội, thực trạng lễ hội hiện nay tại Việt Nam, và đặc biệt là định nghĩa về lễ hội phương Tây Với giả thuyết các lễ hội phương Tây đã diễn ra quá trình giao lưu tiếp biến với văn hóa của giới trẻ tại Thành phố Hồ Chí Minh, có sự biến đổi trong quan niệm, chức năng và cách thức thực hiện được khái quát qua hai lý thuyết chính Một là, lý thuyết giao lưu tiếp biến văn hóa thừa nhận sự tiếp xúc và biến đổi của hai nền văn hóa với nhau khi cả hai cùng chia sẻ một trong những yếu tố kinh tế, chính trị, tôn giáo, giáo dục Khi tiếp xúc một trong hai phải có sự thay đổi, hoặc là cả hai cùng thay đổi Trong tiến trình này nhận được sự phản ứng lại từ các cá thể bên trong, cụ thể là các lễ hội phương Tây nhận được phản ứng tự tách biệt Điều này cho thấy rằng các lễ hội này được phân biệt rõ ràng không được thừa nhận là một thành tố của văn hóa truyền thống Việt Nam Tuy rằng có sự tiếp xúc và biến đối, nhưng giữa hai nền văn hóa phương Tây và văn hóa Việt Nam có sự tách biệt hòa toàn, các yếu tố biến đổi chỉ để phù hợp và dễ thực hiện Cộng hưởng với lý thuyết kiến tạo xã hội, bằng việc lựa chọn các “khuôn mẫu” và trải qua các khoảng thời gian thực hiện liên tục đưa khuôn mẫu thành nhiều vai trò, rồi trở thành định chế Quá trình này lý giải cách thức lễ hội phương Tây tồn tại trong đời sống của giới trẻ Cùng với đó là lý thuyết kiến tạo xã hội nhìn nhận lựa chọn khuôn mẫu, các kênh mã hóa thông tin, và môi trường nội tại là một trong những tác nhân làm biến đổi các yếu tố bên trong của những lễ hội phương Tây
Trang 37CHƯƠNG 2: CÁC LỄ HỘI PHƯƠNG TÂY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
1 Quá trình du nhập
Các lễ hội phương Tây xuất hiện ở Việt Nam được Bộ Văn hóa- Thể thao và Du lịch thống kê trong văn bản chỉ đạo “Khai thác lễ hội và sự kiện nhằm phát triển du lịch tại Thành phố Hồ Chí Minh” bao gồm: lễ Noel (Lễ Giáng Sinh), lễ hội Halloween (Lễ hội Hóa trang hay lễ hội ma quỷ), Carnaval (Lễ diễu hành), Father’s day (Ngày của Cha), Mother’s day (Ngày của Mẹ), Black Friday (Ngày mua sắm giảm giá), Quốc tế Lao Động, Quốc tế phụ nữ, Valentine (Lễ tình nhân),…Nổi bật nhất trong các lễ hội này phải kể đến
lễ Giáng sinh đã được bám rễ từ lâu trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam, và tiếp theo đó là lễ hội Halloween- lễ hội ma quỷ, chỉ du nhập đến Việt Nam trong thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành một trong những lễ hội được đông đảo giới trẻ đón nhận
Quá trình giao lưu tiếp biến của văn hóa phương Tây và văn hóa Việt Nam được lịch
sử Việt Nam ghi nhận dấu vết của người phương Tây từ khoảng thế kỉ 16, thông qua các giáo sĩ phương Tây đến truyền giáo và các nhà buôn Năm 1615 các giáo sĩ dòng Tên bắt đầu thành lập những cộng đồng giáo dân rồi đặt hai trung tâm ở Hội An và Thăng Long Các dòng khác như Đa Minh (Dominicain), Thánh Francos (Franciscain),… và thành lập các cộng đồng giáo dân truyền bá Công Giáo, những người Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý, Pháp, lần lượt mang Công Giáo và văn hóa của mình xuất hiện tại Việt Nam Năm
1658 Giáo Hoàng cho phép lập Hội truyền giáo nước ngoài ở Paris cho các giáo sĩ đại diện Roma hoạt động ở Trung Quốc và Đông Dương
Từ những tiếp xúc tôn giáo thông qua các giáo sĩ từ đầu thế kỉ 16, Công giáo tại Việt Nam phát triển và đến nay đã trở thành một trong những tôn giáo có số lượng tín đồ đông đảo Phương Thủy nhận định trong bài viết của mình lịch sử về Giáng sinh tại Việt Nam lần đầu tiên Giáng sinh được tổ chức ở Việt Nam là do một người phụ nữ chủ tọa, đó là
bà Maria Mađêlêna Minh- Đức Vương Thái Phi (Phương Thủy, bài viết trên trang: http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/255/0/2564/Le_Giang_sinh_va_su_dung_hoa_ton_giao_cua_nguoi_Viet, truy cập ngày 25/11/2018)
Trang 38Bà Minh là vợ của chúa Nguyễn Hoàng, mẹ của hoàng tử Nguyễn Phúc Khê, tước hiệu Vương Phim được đứng đầu hàng Thứ phi Năm 1625 đã ngoài 50 tuổi, bà gia nhập đạo Công giáo tại Thuận Hóa do giáo sĩ Francisco di Pina rửa tội cho bà với tên Thánh là Maria Mađalêna, có sự chứng kiến của giáo sĩ Đắc Lộ Cuộc đời và sự nghiệp rao giảng Tin Mừng của bà Minh-Đức đã được sử gia Qua tập sách này, ta có thể tìm hiểu và biết được dung mạo người phụ nữ đạo đức, đáng kính này Bà Minh-Đức Vương Thái Phi qua đời vào năm 1649, hưởng thọ 80 tuổi, thủ tiết 36 năm, trong đó có 24 năm lo giảng đạo, làm việc tông đồ mở mang nước Chúa để lại tấm gương nhân đức chiếu rạng khắp triều đình Hành động của bà ảnh hưởng lớn đến dân chúng và danh tiếng bà luôn ghi dấu trong sử sách Bà còn được các giáo sĩ truyền giáo coi như linh hồn của đạo Công giáo thời bấy giờ Gìn giữ những lễ nghi và ngày quan trọng đối với Công Giáo, công lao của
bà và nhiều thế hệ phát triển tiếp theo đã góp phần đưa các ngày lễ này trở nên phổ biến
Trong tiến trình đưa Giáng sinh vào Việt Nam Phương Thủy nhận định rằng “… Mọi người tham sự lễ hội để biết, để hòa nhập và để tận hưởng những nét văn hóa đẹp chứ không nhất thiết để phục vụ nhu cầu tâm linh.” (Phương Thủy, bài viết trên trang:
http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/255/0/2564/Le_Giang_sinh_va_su_dung_hoa_ton_giao_cua_nguoi_Viet, truy cập ngày 25/11/2018)
Những người theo Công Giáo tại Việt Nam trong thời kì Pháp thuộc chỉ chiếm một phần nhỏ trong số những người Việt hầu hết đều theo Phật giáo Họ thường ăn mừng Giáng sinh bằng những bữa cơm với gia đình, những nghi lễ tại nhà thờ ngay từ thời Pháp thuộc, họ công khai tổ chức và bằng cách đầy tôn kính Đến khi Đảng cộng sản Việt Nam giành thắng lợi và thống nhất đất nước năm 1975, số lượng người theo Công Giáo giảm hẳn Các nhà thờ trên nhiều tỉnh thành của Việt Nam lúc bấy giờ không còn hoạt động nhiều Giáng sinh chỉ diễn ra các nghi lễ nhỏ và không có quá nhiều người tham gia Đến những năm 1980 cuộc cải cách không chỉ thay đổi bộ mặt kinh tế, mà còn mang đến một sự tự do và công bằng đối với mọi người theo các tôn giáo khác Điều này làm cho Giáng sinh được tiếp lại sức sống mới, và trở lại với vị trí vốn có (Bài viết trên trang: http://www.vietnam-beauty.com/vietnamese-culture/festivals-and-ceremonies/15-
festivals-and-ceremonies/239-christmas-in-vietnam.html,
Trang 39truy cập ngày 23/10/2018)
Đến đầu những năm 2000, kinh tế Việt Nam chào đón nhiều doanh nghiệp nước ngoài tham gia vào nền kinh tế mới mở cửa Trước sự xuất hiện này đã mang đến cho Việt Nam những luồng văn hóa mới, các lễ hội phương Tây bắt đầu ghi tên mình vào trong nền văn hóa tại các đô thị tại Việt Nam Lúc này Giáng sinh là dịp lễ phổ biến nhất mà mọi người
tò mò Giáng sinh tại các khu xóm đạo vẫn giữ nguyên những màu sắc của tôn giáo nhiều hơn Người thực hiện Giáng sinh vẫn là các tín đồ Các lễ hội phương Tây khác được đón nhận chủ yếu là ngày Quốc tế Phụ Nữ (8/3), Ngày quốc tế thiếu nhi (1/6)
Đến năm 2008 sự bùng nổ của mạng Internet, và sự phát triển của kinh tế thị trường, kiềm chế lạm phát thành công, và đặc biệt là các sự kiện quốc tế diễn ra tại Việt Nam, đã kết nối quốc tế và Việt Nam (Bài viết tại https://www.tienphong.vn/xa-hoi/10-su-kien-trong-nuoc-noi-bat-nam-2008-148321.tpo, truy cập ngày 25/11/2018) Những thuận lợi khi cánh cửa quốc tế mở ra đã khiến Giáng sinh và các dịp lễ phổ biến khác như đã kể trên trở thành một dịp được chào đón bậc nhất Hàng loạt sự thay đổi từ các dịp lễ này có thể nhậnt hấy là số lượng mặt hàng bày bán tăng lên, sự chuẩn bị và trang hoàng trở thành một trong những yếu tố được quan tâm và nhiều người hưởng ứng Các bài hát Giáng sinh, hình tượng ông già Noel, các quả châu lấp lánh, cây thông Noel được trang trí, được bày bán ở khắp nơi Tuy đã quen mắt với hang đá, và sự lấp lánh ánh đèn từ các nhà theo đạo, và các nhà thờ lớn, nhưng người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn ngỡ ngàng và đầy thích thú khám phá màu sắc rực rỡ này ở các cửa hàng, hay các con đường trung tâm Một số bài hát như Jinger Bells, We wish you a Merry Chirsmast, Last Chirsmast,… được nghe và tải trên mạng Internet chóng mặt Đến năm 2010, kinh tế Việt Nam lại tiếp tục tăng trưởng với mức cao, giới trẻ có thêm nhiều cơ hội tiếp xúc với mạng xã hội, và đặc biệt là Yahoo!, Zing, Facebook,… và các trang báo mạng đưa thông tin liên tục về các lễ hội lớn trên thế giới Những lễ hội phương Tây thật sự bùng nổ và phát triển tại Việt Nam, không phải chỉ có Giáng Sinh, Quốc tế Phụ nữ, Quốc tế Thiếu
nhi, mà còn có Halloween, Carnival, Ngày của cha, Ngày của mẹ,… “Còn đối với lễ Halloween, mà dịp cuối năm 2014 đã trở thành một hiện tượng văn hóa khá đặc biệt ở
Trang 40Thủ đô và nhiều thành phố khác.”- Lê Hồng Lý, “Biến đổi lễ hội ở đô thị- Quan sát từ Hà
Nội”
2 Quan niệm về các lễ hội
Khi thực hiện một lễ hội người ta quan tâm đến việc lễ hội này được thực hiện với ý nghĩa là gì Nếu ý nghĩa của một lễ hội được nhiều người quan tâm và thực hiện chúng là một lễ hội đáp ứng được nhiều nhu cầu của nhiều người nhất, và có khả năng phù hợp với
sở thích giải trí ở các đô thị Cũng như vậy, khi tìm hiểu về cách thức thực hiện các lễ hội phương Tây thì chúng tôi quan tâm đến đầu tiên là giới trẻ nhìn nhận hai lễ hội Giáng sinh và Halloween là lễ hội gì để có thể mô tả đầy đủ nhất Cách giới trẻ nhìn về Giáng sinh được tổng hợp từ dữ liệu của cuộc khảo sát thành bảng sau đây:
Bảng 2.1
Ý nghĩa của Giáng sinh
(%)
(Nguồn: Cuộc khảo sát tháng 9/2018 đang sinh sống tại phường 6 quận 8 và Phố đi bộ
Nguyễn Huệ phường Phạm Ngũ Lão quận 1)
Trong tổng số 241 lượt người tham gia trả lời cho câu “Ý nghĩa của Giáng sinh”, có 82 lượt người cho rằng Giáng sinh “Mang ý nghĩa về tôn giáo” chiếm 34%; có 37 lượt người cho rằng Giáng sinh là “Lễ hội quây quần bên gia đình”, chiếm 15,4%; 40 lượt người cho rằng đây là “Dịp để cho và nhận những điều tốt đẹp”, chiếm 16,6%; chỉ có 5 lượt người cho rằng đây là “Ngày để mọi người mua sắm đón năm mới”, chiếm 2,1%; có 71 lượt