Mục tiêu đề tài: - Khái quát về tỉnh An Giang và cộng đồng người Khmer tại An Giang; - Tìm hiểu vai trò và giá trị của cây thốt nốt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và đời sống tâm li
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CÂY THỐT NỐT TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI KHMER TẠI AN GIANG
Mã số đề tài
TP Hồ Chí Minh, 4/2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC SINH VIÊN
CÂY THỐT NỐT TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NGƯỜI KHMER TẠI AN GIANG
Trang 3TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Cây thốt nốt trong đời sống của người Khmer tại An Giang
- Sinh viên thực hiện: Trần Thị Kim Thoa
- Lớp: DN14DN01 Khoa: XHH-CTXH-ĐNA Năm thứ: 4 Số năm đào tạo: 4
- Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Kim Yến
2 Mục tiêu đề tài:
- Khái quát về tỉnh An Giang và cộng đồng người Khmer tại An Giang;
- Tìm hiểu vai trò và giá trị của cây thốt nốt trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và đời sống tâm linh của người Khmer tại An Giang;
- Đánh giá thực trạng giá trị cây thốt nốt, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị của loại cây này
4 Kết quả nghiên cứu:
- Đề tài đã đưa ra những dẫn chứng về các giá trị mà cây thốt nốt mang lại cho người Khmer trong đời sống hàng ngày và đời sống tâm linh tại tỉnh An Giang, cụ thể
là hai huyện Tri Tôn, Tịnh Biên
- Cây thốt nốt và các sản phẩm làm từ thốt nốt đóng góp trong sự phát triển loại hình du lịch kết hợp với làng nghề truyền thống gắn liền với văn hóa của người Khmer
Trang 4phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
- Nội dung của đề tài là bước đầu cho các nghiên cứu sâu rộng hơn sau này liên quan đến văn hóa của người Khmer
- Đề tài cung cấp các thông tin làm rõ mối liên hệ của cây thốt nốt và người Khmer trong đời sống sinh hoạt hàng ngày và đời sống tâm linh
- Tiềm năng phát triển du lịch gắn với làng nghề truyền thống và giá trị kinh tế của cây mang lại đóng góp vào việc thúc đẩy kinh tế và du lịch văn hóa của vùng
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ
tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có): Không
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Trang 5I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Trần Thị Kim Thoa
Sinh ngày: 13 tháng 1 năm 1995
Nơi sinh: Bến Tre
Lớp: DH14DN01 Khóa: 2014
Khoa: XHH-CTXH-ĐNA
Địa chỉ liên hệ: số 477/40, đường Nguyễn Văn Công, Phường 3, Quận Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh
Điện thoại: 0967978865 Email: suntran113@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Ngành học: Đông Nam Á học Khoa: XHH-CTXH-ĐNA
Kết quả xếp loại học tập: Trung bình - Khá
Trang 6Ngành học: Đông Nam Á học Khoa: XHH-CTXH-ĐNA Kết quả xếp loại học tập: Trung bình - Khá
Trang 7TÓM TẮT CÔNG TRÌNH 1
MỞ ĐẦU 2
1.Lý do chọn đề tài 2
2.Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
2.1.Mục tiêu tổng quát 3
2.2.Mục tiêu cụ thể 3
3.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
4.1.Đối tượng nghiên cứu 5
4.2.Phạm vi nghiên cứu 5
5.Phương pháp nghiên cứu 5
6.Bố cục đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1 Một số khái niệm 7
1.1.1.Khái niệm “văn hóa” 7
1.1.2.Khái niệm “tộc người” 8
1.1.3.Khái niệm “bảo tồn” và “bảo tồn văn hóa” 9
1.1.4.Khái niệm “phát triển” và “phát triển văn hóa” 10
1.1.5 Khái niệm “biểu tượng” 10
1.1.6 Khái niệm “tôn giáo” 11
Trang 812
1.2.Tổng quan về tỉnh An Giang 13
1.2.1.Vị trí địa lý 13
1.2.2.Điều kiện tự nhiên 14
1.2.3.Đặc điểm dân cư, xã hội 14
1.3.Tổng quan về huyện Tịnh Biên 15
1.3.1.Vị trí địa lý 15
1.3.2.Điều kiện tự nhiên 16
1.3.3.Đặc điểm dân cư, xã hội 16
1.4.Tổng quan về huyện Tri Tôn 17
1.4.1.Vị trí địa lý 17
1.4.2.Điều kiện tự nhiên 17
1.4.3.Đặc điểm dân cư, xã hội 18
1.5.Khái quát lịch sử hình thành cộng đồng người Khmer tại An Giang 18
Tiểu kết chương 1 21
CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA CÂY THỐT NỐT TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI KHMER TẠI AN GIANG 22
2.1.Nguồn gốc, đặc điểm và phân bố cây thốt nốt .22
2.1.1.Nguồn gốc 22
2.1.2.Đặc điểm 23
2.1.3.Phân bố 24
Trang 92.2.1.Trái thốt nốt 25
2.2.2.Lá thốt nốt 28
2.2.3.Thân cây thốt nốt 29
2.2.4.Nước thốt nốt 30
2.2.5.Đường thốt nốt 31
2.3 Hoạt động du lịch kết hợp với các làng nghề của tỉnh An Giang .34
2.4.Thực trạng về cây thốt nốt tại tỉnh An Giang .38
2.3.1.Thuận lợi 38
2.3.2 Khó khăn 39
Tiểu kết chương 2 41
CHƯƠNG 3: VAI TRÒ CỦA CÂY THỐT NỐT TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI KHMER TẠI AN GIANG 42
3.1.Cây thốt nốt - Ý nghĩa biểu tượng .42
3.1.1.Biểu tượng nơi cư trú .42
3.1.2 Biểu tượng của tôn giáo .43
3.1.3 Biểu tượng của tình yêu .45
3.2 Cây thốt nốt - Phương tiện lưu trữ 46
3.2.1 Lưu trữ văn bản .46
3.2.2 Lưu trữ hình ảnh .47
Trang 103.4 Gắn bó với văn hóa lễ hội .49
3.5 Một số giải pháp và kiến nghị .50
Tiểu kết chương 3 .52
KẾT LUẬN .53
TÀI LIỆU THAM KHẢO .54 PHỤ LỤC
Trang 11TÓM TẮT CÔNG TRÌNH
Việt Nam là một quốc gia đa tộc Mỗi tộc người là một màu sắc, tạo nên một nền văn hóa đa dạng Trong đó, cộng đồng người Khmer sinh sống chủ yếu tại các tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long tạo nên một màu sắc văn hóa riêng biệt trong nền văn hóa chung Trong đời sống người Khmer, cây thốt nốt luôn hiện hữu và là một biểu tượng văn hóa tiêu biểu Khai thác các sản phẩm từ cây thốt nốt vừa mang lại việc làm và nguồn thu nhập người Khmer Cây thốt nốt còn gắn bó với con người Khmer và tồn tại trong tâm thức của họ như một biểu tượng của văn hóa tinh thần Sự tồn tại của cây thốt nốt đối với đồng bào Khmer còn có ý nghĩa trong các hoạt động du lịch của địa phương Tuy nhiên, hiện nay đời sống người Khmer bị ảnh hưởng do áp lực kinh tế và tiến bộ khoa học kỹ thuật, các làng nghề truyền thống có nguy cơ mai một Chúng tôi thấy rằng, cần thiết phải đưa ra các phân tích làm rõ sự quan trọng của cây thốt nốt trong đời sống của người Khmer và bước đầu đưa ra một số giải pháp, kiến nghị trong việc bảo tồn và phát triển chúng
Đề tài gồm ba chương: “Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn”: Trong
chương này, chúng tôi khái quát các khái niệm: văn hóa, tộc người, bảo tồn, bảo tồn văn hóa, phát triển, phát triển văn hóa Và cung cấp các thông tin tổng quan
về tỉnh An Giang, tập trung vào 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và lịch sử hình thành
cộng đồng người Khmer tại đây; “Chương 2: Vai trò của cây thốt nốt trong đời
sống vật chất của người Khmer tại An Giang”.Trong chương này sẽ giới thiệu
tổng quan về cây thốt và các giá trị mà nó mang lại Cây thốt nốt là loại cây đa dụng, mỗi bộ phận của nó đều mang lại giá trị kinh tế cho đồng bào Khmer Không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà cây thốt nốt còn đóng góp trong hoạt động
phát triển du lịch kết hợp với làng nghề truyền thống tỉnh An Giang; “Chương 3:
Vai trò của cây thốt nốt trong đời sống tinh thần của người Khmer tại An Giang” Trong chương này, người nghiên cứu giới thiệu các ảnh hưởng của cây
thốt nốt đến đời sống tinh thần của người Khmer tại An Giang Từ đó, người nghiên cứu đưa ra các giải pháp để bảo tồn cây thốt nốt cũng như bảo vệ và phát huy giá trị văn hóa của nó đối người Khmer tại An Giang
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa tộc Mỗi tộc người là một màu sắc, tạo nên một nền văn hóa đa dạng Trong đó, cộng đồng người Khmer sinh sống chủ yếu tại các tỉnh vùng đồng bằng Sông Cửu Long tạo nên một màu sắc văn hóa riêng biệt trong nền văn hóa chung Trong quá trình giao lưu và tiếp biến văn hóa, người Khmer vẫn giữ được bản sắc văn hóa của mình Theo tổng điều tra dân số
và nhà ở năm 2009, người Khmer ở Việt Nam có dân số trên 1.300.000 người Trong đó cư trú tập trung tại các tỉnh: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Cà Mau, Vĩnh Long, Cần Thơ, Hậu Giang… (Sơn Lương, 2013) Trong đó, người Khmer tại An Giang chiếm số lượng đông đảo
Trong đời sống người Khmer, cây thốt nốt luôn hiện hữu và là một biểu tượng văn hóa tiêu biểu Cây thốt nốt tạo ra nhiều giá trị từ giá trị vật chất đến giá trị tinh thần Người ta thường nói, nơi nào có người Khmer sinh sống thì nơi
đó sẽ có cây thốt nốt và ngược lại Sự tồn tại của cây thốt nốt mang tính tất yếu, tượng trưng cho tâm hồn, tính cách của người Khmer Cây thốt nốt còn tạo ra nguồn thu nhập cho đồng bào Khmer khi khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm của nó
Hiện nay, toàn tỉnh An Giang có khoảng 65.000 cây thốt nốt, tập trung chủ yếu tại hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên (Nguyễn Thanh – Trọng Ân, 2017) Với
số lượng không nhỏ, cây thốt nốt còn đóng góp cho việc phát triển du lịch của tỉnh An Giang, đặc biệt là du lịch làng nghề Từ các sản phẩm đặc biệt của cây thốt nốt, người Khmer đã tạo nên các làng nghề nổi tiếng như nấu đường thốt nốt, vẽ tranh trên lá thốt nốt Các làng nghề thu hút khách du lịch, làm phong phú thêm sự lựa chọn điểm đến của khách du lịch
Trước đây, vốn dĩ được xem là cây dân dã, không nằm trong danh mục quý hiếm nên cây thốt nốt không được chính quyền địa phương và người dân chú trọng quan tâm bảo tồn Đến năm 2015, hàng trăm cây thốt nốt từ 15 đến 20 năm tuổi bị các thương lái thu mua công khai với giá 200 – 500.000 đồng/cây Điều này dẫn đến thực trạng số lượng cây thốt nốt giảm rõ rệt trên địa bàn tỉnh Hệ quả dẫn đến việc giá thành các sản phẩm tăng cao, nguồn nguyên liệu sản xuất các sản phẩm cây thốt nốt trở nên khan hiếm Trong thời gian qua, chính quyền địa
Trang 13phương đã có những chính sách ngăn chặn tình trạng bán cây thốt nốt hàng loạt, đồng thời tuyên truyền, vận động người dân về việc gìn giữ và phát triển số lượng cây thốt nốt Tuy nhiên, chính quyền địa phương và người dân cần có những chính sách phù hợp để bảo tồn và phát triển cây thốt nốt trong thời gian dài
Cây thốt nốt có vai trò quan trọng trong sinh hoạt hằng ngày cũng như trong đời sống tâm linh của người Khmer Vì thế, nghiên cứu về vai trò của cây thốt nốt trong đời sống người Khmer, đặc biệt là tại An Giang là một trong những đề tài cần thiết để nghiên cứu, hệ thống thành tư liệu Vì vậy chúng tôi chọn đề tài
“Cây thốt nốt trong đời sống của người Khmer tại An Giang” Đồng thời, việc nghiên cứu về cây thốt nốt còn là bước đầu đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển số lượng, giá trị của cây thốt nốt nói chung
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
2.1 Mục tiêu tổng quát
Tìm hiểu vai trò của cây thốt nốt trong đời sống của người Khmer tại tỉnh
An Giang
2.2 Mục tiêu cụ thể
Khái quát về tỉnh An Giang và cộng đồng người Khmer tại An Giang;
Tìm hiểu vai trò và giá trị của cây thốt nốt trong sinh hoạt hàng ngày và đời sống tâm linh của người Khmer tại An Giang;
Đánh giá thực trạng giá trị cây thốt nốt, đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển các giá trị của loại cây này
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Để thực hiện đề tài, chúng tôi đã tìm hiểu các nguồn tài liệu, các công trình nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề Qua đó, chúng tôi cũng đã được tiếp cận một số công trình nghiên cứu có giá trị
Tác giả Nguyễn Thắng đã đề cập đến tên gọi của cây thốt nốt trong bài viết
“Lòng xao xuyến khi đọc ‘thốt nốt’ hay ‘thốt lốt’” đăng trên tạp chí Văn hóa –
Lịch sử An Giang số 97 (2013) Bài viết khai thác sâu vấn đề tên gọi cây thốt nốt theo phương ngữ Nam Bộ dựa trên các nguồn tài liệu đáng tin cậy Đồng thời tác giả cũng đề cập đến một số giá trị văn hóa của cây thốt nốt Đây là một trong
Trang 14những nguồn tài liệu bổ sung, giúp người nghiên cứu có cái nhìn toàn diện hơn
về cây thốt nốt, kể cả nguồn gốc tên gọi của nó (Nguyễn Thắng, 2013, tr.22)
“Lược sử hình thành cộng đồng dân cư Khmer An Giang và văn hóa Khmer
An Giang” trong đề tài nghiên cứu “Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa
Khmer An Giang” (2011) do Nguyễn Thái Ngọc Hà làm chủ biên, được đăng trên trang Nghiên cứu sử địa An Giang của tác giả Trần Hoàng Vũ
Bài viết “Cây thốt nốt – Một loài cây cảnh quan đặc sắc ở Huế” in trên tạp
chí Khoa học và Công nghệ Thừa Thiên - Huế (2013) của tác giả Đỗ Xuân Cẩm
đề cập khá đầy đủ về tên gọi, nguồn gốc và công dụng của cây thốt nốt Đồng thời, tác giả cũng đề cập đến cây thốt nốt tại huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Người nghiên cứu có thể tham khảo thông tin mà tác giả cung cấp làm cơ sở cho các nội dung triển khai trong đề tài (Đỗ Xuân Cẩm, 2013, tr.26)
Tác giả Nguyễn Tôn Thanh Nguyên đã đề cập đến làng nghề truyền thống
của người Khmer một cách chi tiết trong luận văn Thạc sĩ Lịch sử “Lịch sử hình
thành và phát triển nghề truyền thống của người Khmer ở Tinh Biên – An Giang” Cùng với nghề đan bàng, dệt thổ cẩm, tác giả đề cập nghề làm đường
thốt nốt như là “biểu trưng cho tấm gương lao động cần cù, là sản phẩm gắn liền với màu sắc địa phương phải mất một thời gian dài mới hun đúc lên được” (Nguyễn Tôn Thanh Nguyên, 2007, tr.25) Công trình nghiên cứu của tác giả đề cập chi tiết về làng nghề làm đường thốt nốt, từ quy trình chế biến đường thốt nốt đến hiện trạng tiêu thụ đường thốt nốt
Bài đăng “Đặc điểm về cái ăn của người Khmer Tây Nam Bộ” trên tạp chí
Khoa học xã hội và nhân văn số 04 (2012) của tác giả Nguyễn Hùng Cường đề cập đến vai trò của cây thốt nốt trong vấn đề ăn - mặc - ở của người Khmer ở Nam Bộ Từ đó, người nghiên cứu có nguồn tư liệu trong việc nghiên cứu sâu hơn về khía cạnh này (Nguyễn Hùng Cường, 2012, tr.51)
Liên quan đến người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long, có thể kể
đến các công trình sau: “Văn hóa Khmer trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu
Long” của tác giả Phan An trong tạp chí Dân tộc học số 3 năm 1987; “Văn hóa Khơme trong bối cảnh đồng bằng sông Cửu Long”, của Phan An (1987) đăng
trong Tạp chí Dân tộc học, số 3; “Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long” của Nguyễn Công Bình – Lê Xuân Diệm – Mạc Đường (1990); “Người Khmer ở
Trang 15Nam Bộ” của Lưu Văn Nam (1999) đăng trong Nam Bộ Xưa và Nay,… Các
công trình nghiên cứu trên tìm hiểu và phân tích đời sống của người Khmer ở nhiều khía cạnh khác nhau Qua đó, chúng tôi có thể có cái nhìn khái quát hơn về cộng đồng người Khmer tại vùng đồng bằng sông Cửu Long Từ đó, trong quá trình khảo sát thực địa chúng tôi gặp nhiều thuận lợi hơn trong việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu Đồng thời làm cơ sở cho các lập luận khoa học sau này
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng các công trình nghiên cứu như: “Cơ sở văn hóa
Việt Nam” của tác giả Trần Ngọc Thêm; “Nhân học đại cương” của khoa Nhân
học thuộc đại học Quốc gia Tp.HCM biên soạn (2013),… làm nguồn tài liệu tham khảo để có những hiểu biết cơ bản về các khái niệm văn hóa, tộc người,…
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Cây thốt nốt đóng vai trò quan trọng trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Khmer Nam Bộ Đề tài tập trung nghiên cứu đối tượng là cây thốt nốt Qua đó, người nghiên cứu phân tích rõ vai trò của cây thốt nốt trong đời sống của người Khmer
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài chọn tỉnh An Giang làm phạm vi nghiên cứu vì An Giang là tỉnh có
số lượng lớn cây thốt nốt và đồng bào Khmer sinh sống Theo đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu tại hai huyện là Tri Tôn và Tịnh Biên để thực hiện khảo sát
- Đề tài lựa chọn thời gian thực hiện nghiên cứu từ khi có sự hình thành cộng đồng người Khmer tại An Giang đến nay (2018) nhằm làm rõ sự ảnh hưởng của cây thốt nốt dựa trên những dẫn chứng lịch sử và tìm hiểu thực trạng khai thác, bảo tồn và phát triển hiện nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính:
- Nghiên cứu thực địa: Người nghiên cứu tiến hành khảo sát và phỏng vấn đối tượng là những người Khmer Nam Bộ có các hoạt động gắn liền với cây thốt nốt và những người am hiểu về cây thốt nốt Đồng thời, chúng tôi còn đối chiếu giữa nguồn thông tin thu thập được từ dữ liệu thứ cấp với kết quả phỏng vấn và thực trạng để có cái nhìn toàn diện hơn Do điều kiện thời gian và địa lý hạn chế, người nghiên cứu đã thực hiện hai chuyến đi thực địa, lần thứ nhất từ 05/10/2017
Trang 16đến ngày 10/10/2017 và lần thứ hai từ ngày 26/02/2018 đến ngày 02/03/2018 Trong quá trình thực địa, ngoài việc quan sát, chúng tôi còn tiếp xúc và phỏng vấn cán bộ Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên và Tri Tôn và phòng Nội vụ, phòng Tổng hợp, Sở Nông nghiệp, Sở Công thương, Cục Thống kê tỉnh An Giang, sãi cả tại các chùa Phật giáo Nam tông và các chủ hộ gia đình, các cơ sở sản xuất đường thốt nốt và một số đối tượng khác liên quan đến nội dung đề tài
- Nghiên cứu tổng hợp: Từ những tư liệu, tài liệu có sẵn là các công trình nghiên cứu đi trước, chúng tôi tiến hành thu thập chọn lọc những thông tin hữu ích phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài
6 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung gồm có ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn Trong chương này, chúng tôi khái
quát các khái niệm: văn hóa, tộc người, bảo tồn, bảo tồn văn hóa, phát triển, phát triển văn hóa Đồng thời đề tài còn cung cấp các thông tin tổng quan về tỉnh An Giang, tập trung vào 2 huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và lịch sử hình thành cộng đồng người Khmer tại đây
Chương 2: Vai trò của cây thốt nốt trong đời sống vật chất của người
Khmer tại An Giang.Trong chương này sẽ giới thiệu tổng quan về cây thốt và các
giá trị mà nó mang lại Cây thốt nốt là loại cây đa dụng, mỗi bộ phận của nó đều mang lại giá trị kinh tế cho đồng bào Khmer Không chỉ mang lại giá trị kinh tế
mà cây thốt nốt còn đóng góp trong hoạt động phát triển du lịch tỉnh An Giang, đặc biệt là hoạt động du lịch gắn với các làng nghề truyền thống
Chương 3: Vai trò của cây thốt nốt trong đời sống tinh thần của người
Khmer tại An Giang Trong chương này, người nghiên cứu giới thiệu các ảnh
hưởng của cây thốt nốt đến đời sống tinh thần của người Khmer tại An Giang Từ
đó, người nghiên cứu đưa ra các giải pháp để bảo tồn cây thốt nốt cũng như bảo
vệ và phát huy giá trị văn hóa của nó đối người Khmer tại An Giang
Đề tài có phụ lục với những hình ảnh, bài viết liên quan để minh họa cho nội dung đề tài và biên bản các cuộc phỏng vấn mà người nghiên cứu thực hiện trong quá trình khảo sát thực địa
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm “văn hóa”
“Văn hóa” là một khái niệm đa nghĩa Hiện nay, hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng văn hóa là sản phẩm do con người sáng tạo ra và phát triển cùng với sự phát triển của lịch sử loài người Tuy nhiên, mỗi khái niệm, định nghĩa đều mang một sắc thái riêng về cách nhìn nhận, đánh giá về văn hóa Tùy theo các vấn đề nghiên cứu mà nhà nghiên cứu chọn sử dụng để định nghĩa và cách hiểu phù hợp
để hiểu và giải quyết các vấn đề
Trong buổi lễ phát động Thập niên thế giới phát triển văn hóa năm 1988, Feredico Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra nhận định về văn
hóa như sau: “Văn hóa phản ánh và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi
mặt cuộc sống của con người đã diễn ra trong quá khứ, cũng như trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó cấu thành nên một hệ thống các giá trị truyền thống, thẩm mỹ và lối sống, mà dựa vào đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” (Trần Ngọc Thêm, 2014)
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đưa ra định nghĩa về văn hóa: “Vì lẽ sinh
tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” (Trần Ngọc
Thêm, 2014)
Văn hóa theo định nghĩa của Giáo sư Trần Ngọc Thêm: “Văn hóa là một hệ
thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy trong quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” (Trần Ngọc Thêm, 2000, tr.10) Giáo sư Trần Ngọc
Thêm khẳng định văn hóa là những giá trị được con người sáng tạo ra trong quá trình lao động và phát triển, dưới tác động của không gian và thời gian Đồng thời, những giá trị đó cũng chịu sự tương tác giữa chính bản thân chủ thể với môi trường tự nhiên và môi trường xã hội Ông đã nhận định văn hóa không chỉ là những giá trị vật chất cơ bản phục vụ cho cuộc sống con người mà còn là những
Trang 18giá trị về tinh thần Bài nghiên cứu này chủ yếu dựa vào quan điểm văn hóa của Giáo sư Trần Ngọc Thêm để tiến hành đánh giá giá trị văn hóa của đối tượng được nghiên cứu
Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa, “văn hóa” đều ít nhiều gắn với các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong quá trình hoạt động thực tiễn Công trình nghiên cứu chủ yếu phân tích các yếu tố văn hóa theo hai khía cạnh:
(1) Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động
sản xuất vật chất của con người tạo ra Nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất ăn, mặc,
ở, đi lại, công cụ sản xuất, phương tiện sản xuất… nói lên trình độ phát triển của con người trong lĩnh vực sản xuất vật chất, thể hiện trình độ chiếm lĩnh và khai thác những vật thể trong tự nhiên
(2) Văn hóa tinh thần bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động
sản xuất tinh thần của con người tạo ra: tư tưởng, tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương… Văn hóa tinh thần gồm các thành tố: Văn hóa tư tưởng, Văn hóa giáo dục, Văn hóa nghệ thuật, Văn hóa lối sống, Văn hóa lễ hội… Những thành tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành nền tảng tinh thần của xã hội
1.1.2 Khái niệm “tộc người”
Hai khái niệm “tộc người” và “dân tộc” được chúng ta biết đến và sử dụng rộng rãi với ý nghĩa gần như nhau Khái niệm “dân tộc” được sử dụng với hai
nghĩa: Một, chỉ một cộng đồng tộc người, gọi tắt là tộc người (ví dụ như dân tộc
Ba Na, dân tộc Kinh,…); Hai, chỉ một cộng đồng chính trị - xã hội trên một lãnh
thổ nhất định, thường được gọi là quốc gia dân tộc hay dân tộc (ví dụ dân tộc Việt Nam,…) (PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp, 2013, tr.114)
Khái niệm “tộc người” mang tính nền tảng trong nghiên cứu Nhân học, Dân tộc học và xuất hiện trong nhiều nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một cách hiểu thống nhất về khái niệm này
Khái niệm tộc người theo Rodolfo Stavenhagen đã nhận định: “Một tộc
người (ethnie) là một tập thể tự xác định và các tập thể khác xác định theo những tiêu chí tộc người, nghĩa là bằng sự tồn tại của một hay nhiều nét chung như: ngôn ngữ, tôn giáo, nguồn gốc bộ lạc, quốc tịch hay chủng tộc và bằng việc các
Trang 19thành viên trong tập thể cùng chia sẻ một tình cảm đồng nhất” (Nghiêm Văn
Thái, 1995, tr.6)
Trong bộ môn Dân tộc học: “Tộc người là một tập đoàn người ổn định hoặc
tương đối ổn định được hình thành trong lịch sử, dựa trên những mối liên hệ chung về ngôn ngữ, sinh hoạt văn hóa và ý thức tự giác dân tộc bằng một tộc danh chung” (PGS.TS Nguyễn Văn Tiệp, 2013, tr.120)
Theo đó, tộc người chỉ một cộng đồng người tồn tại lâu đời mà có những nét tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa Họ cùng sinh hoạt và tạo ra các giá trị văn hóa chung, khẳng định sự khác biệt với một cộng đồng người khác và được thể hiện bằng một tên gọi (tộc danh), như tộc người Kinh, tộc người Chăm, tộc người Khmer… Có thể sử dụng “dân tộc” thay cho “tộc người” nhưng không thể thay thế ngược lại Bởi vì, không thể sử dụng “tộc người” để chỉ một cộng đồng chính trị - xã hội trên cùng một lãnh thổ nhất định (ví dụ không thể gọi là tộc người Việt Nam) Trong bài nghiên cứu này, tác giả chọn sử dụng khái niệm “tộc người” thay cho khái niệm “dân tộc” để tránh nhầm lẫn
1.1.3 Khái niệm “bảo tồn” và “bảo tồn văn hóa”
“Bảo tồn” là khái niệm dùng để chỉ ra các quá trình tìm hiểu, giữ gìn, cải tạo và nâng cấp, chăm sóc một nơi chốn để gìn giữ sự nổi bật văn hóa (Ngô Minh Hùng (2014), tr.9)
“Như vậy, bảo tồn là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình
thành, ý nghĩa của di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội” (Trần Quang Phúc (2013), tr.29)
Chúng ta cũng có thể nhận định, bảo tồn là bảo vệ, gìn giữ sự tồn tại của sự vật, hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó Bảo tồn là không để sự vật bị mai một, “không để bị thay đổi, biến hóa”
Bản thân văn hóa là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn Vì vậy, khi nhắc đến
“bảo tồn văn hóa”, người ta thường gắn với từng khía cạnh và đối tượng cụ thể của văn hóa để tạo nên khái niệm riêng nhất cho từng khía cạnh đó, như: bảo tồn văn hóa truyền thống, bảo tồn văn hóa vật thể, bảo tồn văn hóa phi vật thể, bảo tồn di sản văn hóa,… Hiểu theo nghĩa chung nhất thì bảo tồn văn hóa là giữ gìn, lưu lại các giá trị văn hóa
Trang 20Bảo tồn văn hóa giữ vai trò là cơ sở góp phần thúc đẩy phát triển văn hóa Bên cạnh đó, thông qua phát triển văn hóa, con người sẽ nhận thức và thực hiện các hoạt động bảo tồn văn hóa nhằm thể hiện bản sắc riêng của mình Cũng bởi tầm quan trọng của việc bảo tồn văn hóa mà trong quá trình phát triển chứa đựng
sự đánh giá, xác lập vị thế của yếu tố văn hóa mới dựa trên nền tảng giá trị đã được bảo tồn
Hiện nay, ở Việt Nam có rất nhiều nhận định, ý nghĩa khác nhau về khái niệm “bảo tồn” Theo nghĩa được hiểu thông thường, “bảo tồn” là bao gồm các biện pháp lưu giữ lại tình trạng của các giá trị ở hiện tại và để chúng không thay đổi và biến mất trong tương lai
1.1.4 Khái niệm “phát triển” và “phát triển văn hóa”
“Phát triển” là khái niệm quen thuộc thường được sử dụng để thể hiện sự thay đổi về mặt kinh tế Tuy nhiên, khái niệm “phát triển” không chỉ nói về mặt kinh tế mà còn các khía cạnh khác về vấn đề xã hội, văn hóa Chúng thể hiện sự vươn lên, thay đổi một cách tích cực, loại bỏ các quan niệm xưa cũ lỗi thời, lạc hậu nhằm nâng cao các giá trị phù hợp với hiện tại và tương lai
“Phát triển văn hóa là một tất yếu khách quan của sự vận động của lĩnh vực
văn hóa nhằm đem đến sự biến đổi giá trị và hệ giá trị nhằm vươn tới cái đẹp hơn cho cuộc sống con người” (GS.TS Dương Phú Hiệp, 2015)
“Bảo tồn văn hóa” và “phát triển văn hóa” là hai khái niệm có mối quan hệ mật thiết với nhau Bảo tồn văn hóa không phải là hoạt động cản trở sự phát triển văn hóa, mà theo một cơ sở nào đó, người ta vừa gìn giữ các giá trị văn hóa đã có
từ lâu, vừa làm tiền đề cho văn hóa phát triển theo một hướng nào đó Phát triển văn hóa cũng không phá vỡ các giá trị văn hóa vốn có Nó “dẫn dắt” văn hóa đi lên theo hướng mới dựa vào tiền đề của sự bảo tồn Từ đó, văn hóa vừa phát triển một cách tích cực, vừa lưu giữ các giá trị cốt lõi
1.1.5 Khái niệm “biểu tượng”
“Biểu tượng” là hình ảnh về các vật được lưu giữ trong đầu óc của con người với với cấp độ cao nhất là hình thức nhận thức trực quan – cảm tính và là
sự khởi đầu cho tư duy lý tính “Biểu tượng” phản ảnh sự vật mang tính chỉnh thể Những biểu tượng của con người thường được bọc bằng một lớp ngôn ngữ
và chứa nhiều yếu tố của sự phản ánh khái quát Theo từ điển Tiếng Việt: “Biểu
Trang 21tượng là hình ảnh tượng trưng Chim bồ câu là biểu tượng hòa bình” (Hoàng
Phê, 2005) Theo từ điển Bách khoa Văn hóa học, khái niệm biểu tượng là “Một
loại ký hiệu đặc biệt, thể hiện nội dung thực tế của một điều nào đó Biểu tượng văn hóa khác với ký hiệu thông thường ở chỗ chứa đựng tâm lý với tồn tại mà nó biểu trưng” (Vũ Đình Phòng, 2002)
Sự vật được gọi là biểu tượng khi chúng tích đọng trong đó những ý nghĩ sâu sắc, được cộng đồng, giai cấp, dân tộc thừa nhận, và luôn hướng về một ý nghĩa Đồng thời, biểu tượng còn tiềm ẩn khả năng mở ra những ý nghĩa khác trong sự cảm nhận của con người (Nguyễn Thị Tâm Anh, 2015) Có thể nói, biểu tượng là những hình ảnh ẩn chứa nhiều ý nghĩa và sinh động hơn trong cảm nhận của con người (Ví dụ: biểu tượng ngọn lửa, trong các trường hợp khác nhau, biểu tượng cũng có ý nghĩa khác nhau như sự tẩy uế, sự tỏa sáng của tình yêu, hơi thở cháy bỏng củ sự nổi loại hay thể hiện sự khát khao, thèm muốn.v.v.) Theo S.Freud trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, biểu tượng có mối liên kết thống nhất nội dung rõ rệt của một hành vi, một tư tưởng, một lời nói với ý nghĩa tiềm ẩn của chúng Nguồn gốc của biểu tượng gắn với khả năng nhận thức của con người trong lịch sử Thời nguyên thủy, đời sống tinh thần của con người
bị chi phối bởi các tín ngưỡng, các cử chỉ, hình vẽ.v.v Sau này, biểu tượng được tôn giáo, nghệ thuật và những hình thức văn hóa khác kế thừa Biểu tượng văn hóa còn có xu hướng bổ sung ý nghĩa trong quá trình thay đổi và phát triển của lịch sử của nó, nhưng càng về sau, ý nghĩa đó trở nên cố định và đôi khi khó hiểu đối với người thời sau (Nguyễn Thị Tâm Anh, 2015)
1.1.6 Khái niệm “tôn giáo”
Khái niệm về tôn giáo là một vấn đề gây nhiều tranh cãi trong giới các nhà
nghiên cứu về tôn giáo “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”,
“Tôn giáo là niềm tin vào cái siêu nhiên”… Theo Ph.Ăngghen: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đường vào trong đầu óc con người những lực lượng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …” Dù theo ý nghĩa hay cách biểu
hiện nào thì khi nói đến tôn giáo luôn phải đề cập đến vấn đề hai thế giới: thế giới hiện hữu và thế giới phi hiện hữu, thế giới của người sống và thế giới sau khi chết, thế giới của những vật thể hữu hình và vô hình
Trang 22Tôn giáo là niềm tin vào các lực lượng siêu nhiên, vô hình, mang tính thiêng liêng, được chấp nhận một cách trực giác và tác động qua lại một cách hư
ảo, nhằm lý giải những vấn đề trên trần thế cũng như ở thế giới bên kia Niềm tin
đó được biểu hiện rất đa dạng, tuỳ thuộc vào những thời kỳ lịch sử, hoàn cảnh địa
lý - văn hóa khác nhau, phụ thuộc vào nội dung từng tôn giáo, được vận hành bằng những nghi lễ, những hành vi tôn giáo khác nhau của từng cộng đồng xã hội tôn giáo khác nhau (Đặng Nghiêm Vạn, 2001)
1.1.7 Khái niệm về “làng nghề truyền thống” và “du lịch làng nghề truyền thống”
Hiện nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về làng nghề truyền thống, nhưng ta có thể hiểu làng nghề truyền thống là làng làm nghề thủ công
truyền thống Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng thì làng nghề là: “Làng nghề là
làng ấy, tuy có trồng trọt theo lối thủ nông và chăn nuôi (gà, lợn, trâu,…) làm một số nghề phụ khác (thêu, đan lát,…) song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có ông trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ đã chuyên tâm, có quy trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những hàng thủ công, những mặt hàng này
đã có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng hóa và có quan hệ tiếp thị với thị trường là vùng rộng xung quanh với thị trường đô thị, thủ đô và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài.” (Trần Quốc Vượng, 2014,
tr.12) Làng nghề truyền thống là trung tâm tập trung các cư dân ở đó, họ có kỹ thuật, kinh nghiệm làm nghề lâu năm, mang tính chất cha truyền con nối Trong làng nghề này họ sẽ tập trung sản xuất một mặt hàng nhất định Mặt hàng mà họ sản xuất thường có nguồn nguyên liệu tại địa phương và ngành nghề ấy có lịch
sử gắn bó lâu đời với cư dân bản địa
“Du lịch làng nghề truyền thống” thuộc loại hình du lịch văn hóa Với sự
phát triển không ngừng của xã hội, đời sống người dân ngày càng được nâng cao Theo đó, nhu cầu về vật chất và tinh thần của con người cũng phát triển đa dạng hơn Ngày nay, con người đi du lịch không chỉ đơn thuần là nghỉ dưỡng, khám phá thế giới mới mẻ với những công trình kiến trúc hiện đại, danh lam thắng
Trang 23cảnh nổi tiếng Theo sự phát triển của xã hội, con người càng có xu hướng “quay trở về với thiên nhiên”, khám phá các giá trị văn hóa, cội nguồn dân tộc
Nếu như du lịch sinh thái là loại hình du lịch mà ở đó con người khám phá thiên nhiên, hòa mình vào dòng chảy chậm rãi của tự nhiên thì du lịch văn hóa lại đưa người ta quay về các giá trị cốt lỗi của những nền văn hóa, những giá trị
truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc Theo Luật Du lịch: “Du lịch
văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống”
(Đồng Thị Huệ, 2015, tr.6)
Làng nghề truyền thống ngoài việc lưu giữ ngành nghề cổ truyền mà còn chứa đựng các giá trị văn hóa tinh thần Việc kết hợp du lịch với làng nghề truyền thống tạo cơ hội thu hút đầu tư cho sự phát triển của làng nghề, qua đó, làng nghề còn được nhiều người biết đến Du khách có cơ hội tham quan, cảm nhận các giá trị văn hóa của cộng đồng người tạo nên làng nghề đó
Trang 24An Giang là một tỉnh thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, là nơi đầu tiên dòng sông MeKong chảy vào địa phận Việt Nam, trước khi bị tách thành hai nhánh sông Tiền và sông Hậu Phía Đông Bắc của tỉnh giáp với tỉnh Đồng Tháp, phía Tây Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài gần 100 km Tại đây có khu kinh tế cửa khẩu An Giang, được xác định là một trong chín khu kinh tế trọng điểm của quốc gia, với ba khu vực cửa khẩu được đưa vào trọng điểm là Tịnh Biên, Vĩnh Xương và Khánh Bình, phía Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang và phía Đông Nam giáp thành phố Cần Thơ
Tính đến nay, tỉnh An Giang có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Long Xuyên, thị xã Châu Đốc, thị xã Tân Châu và 8 huyện là An Phú, Châu Thành, Châu Phú, Chợ Mới, Phú Tân, Thoại Sơn, Tri Tôn, Tịnh Biên, với
156 đơn vị xã, phường, thị trấn Diện tích toàn tỉnh là gần 3.536,76 km2 (năm 2009) bằng 1,06% diện tích toàn quốc và bằng 8,71% diện tích toàn vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, đứng thứ 4 trong vùng
1.2.2 Điều kiện tự nhiên
An Giang là một trong những địa phương có nền nông nghiệp phát triển lớn nhất cả nước Nhờ có sông MeKong, nên An Giang có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi như: 73% diện tích là đất phù sa; diện tích mặt nước ngọt lớn Theo Niên giám Thống kê cả nước, năm 2008, sản lượng lúa hơn 3,5 triệu tấn và sản lượng thuỷ sản nuôi trồng khoảng 315.000 tấn của An Giang đứng đầu cả nước
1.2.3 Đặc điểm dân cư, xã hội
Tỉnh An Giang gồm 4 dân tộc chủ yếu, trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 91%, người Hoa chiếm khoảng 4-5%, người Khmer chiếm 4,31% và người Chăm khoảng 0,61% Năm 2009, dân số tỉnh An Giang là 2.149 ngàn người, với mật độ dân số khá cao là 608 người/km2, cao hơn 2,34 lần so với mức bình quân của cả nước 260 người/km2, 1,43 lần vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
425 người/km2 Với mật độ dân số như vậy, An Giang hiện đứng thứ 4 trong vùng Đồng bằng Sông Cửu Long
Trang 25STT Tộc
người
Số lượng (hộ)
Số lượng (người) Tỉ lệ Địa bàn phân bố
1 Khmer 18.512 86.592 3,9% Tri Tôn, Tịnh Biên, Châu
Phú, Châu Thành, Thoại Sơn
2 Hoa 2.839 14.318 0,65% Rải rác trên toàn tỉnh
Bảng 1: Số lượng và phân bố một số tộc người thiểu số chủ yếu
của tỉnh An Giang (năm 2011)
(Nguồn: Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang)
1.3 Tổng quan về huyện Tịnh Biên
1.3.1 Vị trí địa lý
Huyện Tịnh Biên là một trong hai huyện thuộc vùng đồi núi thấp của tỉnh
An Giang, với tổng diện tích tự nhiên 35.489,09 ha, chiếm 10,03% so với tổng diện tích toàn tỉnh Vị trí địa lý của huyện nằm về phía Tây - Tây Bắc của tỉnh và
có tọa độ địa lý 10026’15” đến 10040’30” vĩ độ Bắc; 104054’ đến 10507’ độ kinh Đông Phía Bắc và Tây Bắc giáp Vương quốc Campuchia, phía Nam và Tây Nam giáp giáp huyện Tri Tôn, phía Đông giáp thành phố Châu Đốc và huyện Châu Phú
Toàn huyện được chia thành 3 thị trấn và 11 xã bao gồm: thị trấn Tịnh Biên, Nhà Bàng, Chi Lăng, các xã An Hảo, An Cư, An Nông, Tân Lợi, Núi Voi, Tân Lập, Vĩnh Trung, Văn Giáo, An Phú, Thới Sơn, Nhơn Hưng
Huyện Tịnh Biên có đường biên giới chung với Vương quốc Campuchia dài gần 20 km, nên có lợi thế và tiềm năng rất lớn để phát triển kinh tế cửa khẩu,
du lịch thông qua cửa khẩu Quốc tế Tịnh Biên và tuyến quốc lộ 91, quốc lộ N1 chạy ngang địa bàn Đây là cầu nối giao thương quan trọng nối huyện Tịnh Biên nói riêng và tỉnh An Giang nói chung với các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và các nước trong khu vực Đông Nam Á Đồng thời đây cũng là bàn đạp vững chắc để huyện thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực trong tương lai
Trang 261.3.2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Tịnh Biên có đặc điểm địa hình khá phức tạp, vừa có đồi núi vừa có đồng bằng, mang sắc thái đặc biệt Phân theo hình thái, địa hình của huyện Tịnh Biên có 03 dạng sau: địa hình đồng bằng phù sa, địa hình đồi núi thấp, địa hình đồng bằng nghiêng ven chân núi
Huyện Tịnh Biên nằm trong vùng có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô, có nền nhiệt cao và ổn định, lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa
Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm khá cao và ổn định khoảng
27,50C Biên độ nhiệt giữa các tháng nóng nhất và lạnh nhất từ 2 – 30C Nhiệt độ trung bình cao nhất trong năm (khoảng tháng 4) là 28,30C Nhiệt độ trung bình thấp nhất trong năm (khoảng tháng 1) là 25,50C
Chế độ mưa: Tổng số ngày mưa nhiều, trung bình trong năm khoảng 128
ngày với lượng mưa bình quân 1.478 mm nhưng phân bố không đều, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11 Các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7, 8, 9
- Mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau với lượng mưa chiếm khoảng 10% so với tổng lượng mưa của năm Các tháng có lượng mưa thấp nhất là tháng 1, 2, 3
1.3.3 Đặc điểm dân cư, xã hội
Theo số liệu thống kê năm 2015, dân số toàn huyện là 121.729 người, tốc
độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2011 – 2015 đạt 0,10%/năm, mật độ 343 người/km2, chiếm 5,6% dân số toàn tỉnh (2.159.660 người) Phân theo dân tộc thì chiếm đa số với 70,1% là dân tộc Kinh, kế đến là dân tộc Khmer với 29,4%, còn lại là dân tộc khác Sự đa dạng về thành phần dân tộc tạo ra sự đa dạng về văn hoá, tín ngưỡng góp phần làm cho huyện Tịnh Biên có nhiều điều kiện thu hút du lịch
Trang 271.4 Tổng quan về huyện Tri Tôn
1.4.1 Vị trí địa lý
Huyện Tri Tôn có vị trí địa lý 10o33’ độ vĩ Bắc và 105o08’ độ kinh Đông, nằm về hướng Tây Nam tỉnh An Giang Phía Đông giáp huyện Châu Thành và Thoại Sơn, phía Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tịnh Biên và Vương quốc Campuchia, phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang
Tri Tôn là huyện lớn nhất tỉnh An Giang, có diện tích tự nhiên khoảng 60.000 ha, chiếm gần 17% diện tích toàn tỉnh Huyện có 2 thị trấn Tri Tôn, Ba Chúc và 13 xã Lạc Qưới, Lê Trì, Vĩnh Gia, Vĩnh Phước, Châu Lăng, Lương Phi, Lương An Trà, Tà Đảnh, Núi Tô, An Tức, Cô Tô, Tân Tuyến, Ô Lâm
Tri Tôn còn có tuyến biên giới quốc gia Việt Nam - Campuchia dài khoảng 13,5km, gần với cửa khẩu quốc tế Tịnh Biên, rất thuận tiện để trao đổi hàng hóa với nước bạn Campuchia và khu vực, phát triển thương mại vùng biên, đặc biệt
là các mặt hàng nông - lâm sản, thực phẩm Đồng thời có vai trò rất quan trọng trong việc giữ gìn an ninh quốc phòng, góp phần ổn định chính trị, trật tự an toàn
xã hội và phát triển kinh tế cả nước
1.4.2 Điều kiện tự nhiên
Huyện Tri Tôn có địa hình đa dạng xen lẫn đồng bằng với nhiều kênh rạch
có đồi núi, bao bọc chung quanh Điểm cao nhất là đỉnh núi Cô Tô 614 m so với mặt nước biển, khu vực đồng bằng có độ cao dao động từ 0,8 m – 2,2 m
Huyện Tri Tôn chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới với 2 mùa rõ rệt:
- Mùa mưa từ tháng 5-11, mùa khô từ tháng 12-04 Nhiệt độ trung bình năm
là 27,7oC
- Mùa khô, nhiệt độ ở Tri Tôn thường rất cao, trung bình khoảng 36-38oC, khắc nghiệt nhất là vào tháng 4 Đây là thời điểm khó khăn nhất cho sản xuất nông nghiệp và đời sống người dân; Nhiệt độ thấp nhất 25,4oC vào tháng 1 Do địa hình đồi núi nên có mưa vào mùa khô, tập trung vào khoảng tháng 1-4 Huyện Tri Tôn rất thiếu nước cho sinh hoạt và sản xuất, nhất là khu vực đồi núi
Chế độ nhiệt: Nhiệt và nắng là một trong những lợi thế của vùng để phát
triển một nền nông nghiệp nhiệt đới đa dạng chủng loại Tổng số giờ nắng trong năm là 2.241,5 giờ, cao nhất 238,5 giờ vào tháng 1, thấp nhất 141,3 giờ vào tháng 7, tạo ra giá trị bức xạ trực tiếp cao, tổng lượng bức xạ trong năm dao động
Trang 28từ 148-162 Kcal/cm2/ngày Lượng mưa trung bình 1.615,1 mm, cao nhất 388,6
mm vào tháng 11
Hệ thống kênh rạch trên địa bàn huyện tương đối dày đặc, phục vụ cho tưới tiêu, sinh hoạt và giao thông đường thủy Tri Tôn nằm trong vùng ngập lũ từ tháng 8-12 Ngập lũ đã và đang gây ra những khó khăn nhất định cho sản xuất và đời sống dân sinh Tri Tôn cần thực hiện hiệu quả hơn mô hình “sống chung với lũ” và nắm bắt kịp thời các thông tin thời tiết và khai thác các lợi ích mà lũ mang lại
1.4.3 Đặc điểm dân cư, xã hội
Năm 2015, dân số huyện Tri Tôn đạt khoảng 134.679 người, chiếm 6,2% dân số toàn tỉnh, gần như thấp nhất tỉnh Mật độ dân số khá thư, chỉ đạt 222 người/km2 Tốc độ tăng dân số trung bình giai đoạn 2011-2015 đạt 0,3% Tỷ lệ
đô thị hóa đạt 23,5%, chủ yếu tập trung ở thị trấn Tri Tôn và Ba Chúc
Huyện Tri Tôn là nơi tập trung đông nhất số đồng bào dân tộc Khmer sinh sống của tỉnh An Giang, chiếm gần 40% Tri Tôn có 13,5 km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia Thuận tiện cho dân cư hai nước thường xuyên qua lại làm ăn, sinh sống khá đông đúc
1.5 Khái quát lịch sử hình thành cộng đồng người Khmer tại An Giang
Vào những năm cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, các học giả phương Tây như G.Coedes, P.Pelliot, L.Malleret dựa trên các nguồn thư tịch cổ Trung Hoa đã giới thiệu sơ lược về lịch sử hình thành vùng đất Nam Bộ và cư dân trên mảnh đất ấy Lịch sử vùng đất Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng gắn liền với lịch sử nhà nước cổ Phù Nam Theo sử liệu Trung Hoa, Phù Nam (Founan) là tên phiên âm tiếng Hán của từ “Phnom” có nghĩa là núi Vương quốc Phù Nam là vương quốc được hình thành đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á, tồn tại từ đầu thế kỷ I đến thế kỷ VI sau Công nguyên Chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo là các
cư dân Phù Nam cổ - kết quả của quá trình giao lưu giữa văn hóa Đồng Nai bản địa và văn hóa Ấn Độ cổ Nối tiếp sau đó, vương quốc Chân Lạp (Chenla) từ một nước chư hầu đã dần tiến lên độc lập, tiến hành tấn công Phù Nam và thống trị vương quốc này Vào khoảng năm 707, nhà nước Chân Lạp phân chia thành hai quốc gia là Lục Chân Lạp (gồm vùng đất đai thuộc Phù Nam cũ) và Thủy Chân Lạp (là vùng đất mới vừa chiếm đóng được) Trong thời gian này, nạn ngập lụt
Trang 29diễn ra triền miên do quá trình biển tiến và phù sa vùng đồng bằng sông Cửu Long đã làm hoang phế rồi vùi lấp nền văn hóa rực rỡ Óc Eo Vùng đất Nam Bộ thời bấy giờ bị bỏ hoang suốt nhiều thế kỷ (Trần Hoàng Vũ, 2011)
Đến thế kỷ X, biển rút dần, những giồng đất nổi lên ở vùng Sóc Trăng, Hà Tiên, Đồng Tháp Mười, Giồng Riềng,… biến vùng này thành vùng đất đai màu
mỡ Đến khoảng thế kỷ XII, người Khmer đã di cư đến đây và tập trung sinh sống theo mối quan hệ dòng họ và gia đình Năm 1293, Chu Đạt Quan đã ghi nhận rằng người Khmer đã xâm nhập vào Nam Bộ và định cư tại các vùng ven biển Hai khu vực quan trọng có người Khmer sinh sống là Chân Bồn (Bà Rịa – Vũng Tàu ngày nay) và Ba Giản (khu vực cửa sông Hậu)
An Giang chính là vùng giáp ranh với biên giới Chân Lạp và cũng là nơi đón nhận các nguồn di cư của người Khmer từ Chân Lạp tới Học giả Nguyễn Văn Hầu cho biết, ban đầu, người Khmer đến đây chỉ sống thành từng xóm nhỏ khoảng 5–10 hộ gia đình chứ không tổ chức thành phum, sóc Đến khoảng thế kỷ
XV, họ bắt đầu tập trung vào các vùng đất phì nhiêu để khai hoang làm ruộng theo sự hướng dẫn của một Oknha tên là Moon
Năm 1757, triều đình Chân Lạp đã chuyển giao chủ quyền xứ Tầm Phong cho chúa Nguyễn Đến năm 1824, triều đình tiếp tục tặng cho Thoại Ngọc Hầu nhiều vùng đất, trong đó có vùng Bảy Núi (gọi là phủ Mật Luật) Dưới sự cai trị của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, hoạt động khẩn hoang lập ấp của người Khmer tại Nam Bộ nói chung và An Giang nói riêng được thúc đẩy mạnh hơn Người Khmer An Giang cũng được xem là một nguồn nhân lực quan trọng trong việc khai khẩn vùng đất đai rộng lớn này Tính đến đầu thế kỷ XIX, theo các nguồn thư tịch thì người Khmer đã khai khẩn và định cư tại các vùng đất sau:
(1) Khu vực Tri Tôn: gồm các vùng lân cận chân núi Dài, núi Cấm, núi Tô,
núi Nam Vi Tại đây, người Khmer cùng người Kinh làm nghề cày cấy, chăn nuôi, đánh cá và làm nghề rừng
(2) Khu vực núi Sam (Châu Đốc): vùng này trước triều Nguyễn chưa có
người Khmer sinh sống Năm 1807, vua Gia Long sai An phủ sứ đồn Châu Đốc tập hợp người Khmer, người Hoa và người Chăm đến ở, tuy nhiên số lượng chưa nhiều Theo bia Vĩnh Tế Sơn thì trong khoảng 1828 mới hình thành cộng đồng người Khmer ở núi Sam
Trang 30(3) Khu vực Cồn Tiên (An Phú): đây là thủ sở cũ của phủ Mật Luật nên
người Khmer đã tập trung sinh sống tại đây từ lâu
(4) Khu vực Mặc Cần Đăng: tại khu vực này, người Khmer sống xen lẫn
cùng với người Kinh Năm 1805, vua Gia Long đã sai quan sở tại đến để kiểm
kê, phân chia địa giới cụ thể cho người Kinh và người Khmer
(5) Khu vực bờ Tây sông Vàm Nao: ven sông là khu vực người Kinh sinh
sống, còn vùng rừng rậm phía sau là phum, sóc của người Khmer
(6) Khu vực kênh Thoại Hà – núi Ba Thê: Theo Gia Định thông chí, ở đây
có những nhóm dân Khmer làm nghề săn bắn, chài lưới “chia ở trong khoảng
góc núi cạnh rừng”
Trong thời các chúa Nguyễn cũng như buổi đầu thời nhà Nguyễn, người Việt và người Khmer chịu sự quản lý tách biệt nhau và việc quản lý dân cư tại Nam Bộ nói chung vẫn còn lỏng lẻo Đến năm 1839, vua Minh Mạng hạ lệnh:
“các thổ phủ, thổ huyện mới đặt là Ba Xuyên (Sóc Trăng), Ô Môn (Cần Thơ), Chân Thành (Kampot), Ngọc Luật (Bảy Núi - An Giang), … từ trước đến giờ người Kinh người Thổ (Khmer) ở cách biệt chứ không ở liền nhau, không khỏi
có sự kỳ thị lẫn nhau; nay cho tỉnh Trấn Tây thương lượng ủy một viên đến tỉnh
An Giang, hội họp với quan tỉnh ấy, thân đến các phủ huyện ấy, chiều theo dân
cư liên lạc của người Kinh người Thổ, liệu cho phụ thuộc riêng, cốt cho đều nhau; phàm nguyên trước tụ hội thành sách thì nay đổi làm tổng, xã … lại đặt ra phủ Tịnh Biên để quản lý, về phủ nha thì kiêm quản huyện Ngọc Luật… phàm dân Kinh ở vào địa phận hạt huyện mới thì cho lập riêng ra làm xã thôn, thuộc về lưu quan ở huyện mới cai trị, thổ dân ở vào địa phận hạt huyện người Kinh, thì cũng theo quan huyện người Kinh cai trị” (Trần Hoàng Vũ, 2011)
Trang 31Tiểu kết chương 1
Từ việc tham khảo các nguồn tại liệu có sẵn, chúng tôi trình bày các khái niệm về “văn hóa”, “tộc người”, “bảo tồn”, “bảo tồn văn hóa”, “phát triển”, “phát triển văn hóa”, “tôn giáo”, “biểu tượng”, “làng nghề truyền thống và du lịch làng nghề truyền thống” để làm cơ sở lý luận cho đề tài
Đồng thời, người nghiên cứu còn khái quát tổng quan một số vấn đề phục
vụ cho nghiên cứu đề tài như khái quát về tỉnh An Giang, tập trung chủ yếu vào hai huyện Tịnh Biên, huyện Tri Tôn - đây là phạm vi nghiên cứu của đề tài Người nghiên cứu khái quát về lịch sử hình thành cộng đồng người Khmer tại An Giang đây là đối tượng tiếp nhận ảnh hưởng từ đối tượng nghiên cứu Những cơ
sở thực tiễn trên góp phần không nhỏ trong việc giải thích, dẫn chứng cho các vấn đề mà chúng tôi đề cập trong nội dung chính của đề tài
Trang 32CHƯƠNG 2 VAI TRÒ CỦA CÂY THỐT NỐT TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI KHMER TẠI AN GIANG
Với điều kiện kinh tế khó khăn, dân trí thấp nên đồng bào người Khmer ở đây sinh sống đa số bằng các nghề như: nghề đan tre, đan đệm, nghề nấu đường thốt nốt, làm chổi bông sậy, bánh phồng, nghề làm mộc vốn là những nghề lâu đời truyền thống nhưng chưa được quan tâm nhiều, dẫn đến các nghề có nguy cơ
bị mai một Người Khmer ở đây có cuộc sống khá tách biệt nên điều kiện tiếp thu kiến thức về khoa học kỹ thuật còn hạn chế, dẫn đến sản xuất các sản phẩm thủ công còn thô sơ, thiếu thẩm mỹ dẫn đến các sản phẩm không có giá trị kinh tế cao Trong các nghề thủ công, nổi bật là nghề nấu đường thốt nốt, loài cây thân thuộc và gắn bó với người Khmer trong đời sống xã hội và đời sống tinh thần
2.1 Nguồn gốc, đặc điểm và phân bố cây thốt nốt
2.1.1 Nguồn gốc
Đây là loài cây thuộc vùng nhiệt đới, mọc tự nhiên và được trồng nhiều ở
Ấn Độ, Myanmar, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Lào Cây còn phân bố ở New Guinea và Bắc Australia Đặc biệt được trồng nhiều nhất ở Ấn Độ, Myanmar và Campuchia Có ý kiến cho rằng thốt nốt có nguồn gốc từ loài thốt nốt ethiopi – Borassus aethiopium Mart, phân bố tự nhiên ở châu Phi Ở Việt Nam, cây thốt nốt phân bố ở các tỉnh miền Tây và Đông Nam Bộ, giáp biên giới Campuchia từ Tây Ninh xuống đến Kiên Giang Những tỉnh trồng nhiều thốt nốt là An Giang, Kiên Giang, Đồng Tháp, Long An và Tây Ninh Thời xa xưa, nhiều nhất là ở vùng Tịnh Biên, Tri Tôn, Thoại Sơn (An Giang), Kiên Lương (Kiên Giang) và rải rác ở một số nơi (Vương Hồng Sển, 1998, tr.568)
Cây thốt nốt còn xuất hiện trong “Tích truyện pháp cú” - một điển tích về Đức Phật Theo đó, trong thiên thứ mười bốn - Hai bị đại đệ tử nhập niết bàn, Đức Phật Tổ Cổ Đàm (Maha Thong Kham Medhivongs) có nói, khi Đức Xá Lợi Phất (Đại đệ tử Đức Thế Tôn) tự xem và thấy tuổi thọ của Ngài chỉ còn không quá 7 ngày nữa, bèn xin thầy cho nhập diệt Đức Thế Tôn đồng ý và khuyên Đức
Xá Lợi Phất nên thuyết pháp cho các sư đệ của mình trước khi đi Vâng lời thầy,
Ngài dùng thần thông rồi thuyết pháp “Ngài liền bay lên không trung, độ cao
bằng một cây thốt nốt rồi đáp xuống chỗ cũ đảnh lễ Đức Thế Tôn, bay như vậy
Trang 33bảy lần, mỗi lần cao thêm hơn một cây thốt nốt, nghĩa là cao bằng chiều cao của bảy cây thốt nốt Khi ấy Ngài mới ngồi lên cỏ ấy thuyết pháp cho chư tăng có cả tín đồ thành Thất La Phiệt đều nghe” (Nguyễn Tôn Thanh Nguyên, 2007) Như
vậy, cây thốt nốt không chỉ gắn liền với đời sống người Khmer từ xưa đến nay, chúng còn xuất hiện trong những câu chuyện về Đức Phật Người Khmer xem cây thốt nốt như một biểu tượng tương tự hình ảnh chùa tháp của dân tộc mình và
luôn được giữ gìn, bảo vệ chúng như một tài sản quý
2.1.2 Đặc điểm
Cây thốt nốt, tiếng Khmer gọi là “Th’Nôt” hoặc “thốt lốt” là loại cây dừa đường “Borassus Flabellifer” hoặc cọ tan (Lào) Thuộc họ cau/dừa, thân cây có dạng thẳng đứng, có thể cao đến 30m, thân ruột xốp, trái mọc thành quày Bẹ lá cây thốt nốt to, có gai gắn hai bên, mọc ra từ thân cây Lá có cuống dài, đỉnh lá xòe ra như cánh quạt, dài từ 2 – 3 mét, các lá chét dài, cuống lá mở rộng Cụm hoa là những bông mo, mang hoa đơn tính khác gốc Hoa đực và hoa cái của cây thốt nốt có kích thước, cấu tạo cụm hoa khác nhau Cụm hoa đực lớn, dài đến 2 mét, gồm khoảng 8 nhánh hoa, mỗi nhánh mang 3 chùm hoa, dài 30 – 45 cm, nhiều lá xếp xoắn ốc và lợp lên nhau Mỗi bông hoa chứa khoảng 30 hoa Cụm hoa cái không phân nhánh, có các lá bắc dạng mo bao phủ, trục cụm hoa lớn, mang nhiều lá bắt hình đấu
Cụm hoa Gồm 8 nhánh hoa, mỗi nhánh 3 chùm
hoa
Không phân nhánh
Bảng 2: Phân biệt hoa đực và hoa cái của cây thốt nốt
(Nguồn: Khảo sát tháng 10/2017 của tác giả)
Thốt nốt là một loại cây trồng đa chức năng: (1) cung cấp thực phẩm bao gồm dịch đường và thịt quả; (2) cung cấp nguyên liệu thủ công mỹ nghệ bao gồm
gỗ trang trí nội thất và lá làm đỗ mỹ nghệ; và (3) cung cấp nguồn dược liệu
Trang 34Cây có tuổi thọ cao, hằng năm vẫn cho trái tốt Thời gian từ lúc trồng đến khi thu hoạch quả rất dài, thường khoảng 15 năm mới bắt đầu thu hoạch Thốt nốt cái cho từ 50 đến 60 quả/cây Thốt nốt đực không có quả Quả lớn có dạng hình cầu, đường kính 15 - 20 cm, lúc non có màu xanh, lúc già chuyển sang nâu tím hoặc đen, nhân thịt có màu trắng, thường thì có ba nhân thịt, nhân thịt lúc non mềm dẻo, có vị ngọt thanh, khi trái già, nhân thịt cứng dần và gần như hóa
gỗ Cây thốt nốt càng lâu năm, trữ lượng nước càng nhiều
Cây thốt nốt thuộc loại cây nhiệt đới, gió mùa và chịu hạn tốt Thốt nốt cho nước tốt nhất vào mùa hạn, người Khmer gọi đó là “mùa rộ” Vào mùa này, nước
từ cây ra ngọt và thanh hơn, là nguyên liệu tốt nhất để nấu đường thốt nốt - một món đặc sản của đồng bào Khmer Vào mùa mưa, việc thu hoạch nước thốt nốt
bị hạn chế, chất lượng nước không ngon vì nước từ cây tiết ra không ngọt và khi hứng nước trên cao sẽ bị nước mưa hòa lẫn
Cho đến nay, vẫn chưa có nghiên cứu nào cụ thể và chính xác nhất về sự xuất hiện của loài cây này tại Việt Nam, đặc biệt là tỉnh An Giang Cây thốt nốt được đưa vào danh sách cây công nghiệp lâu năm và là cây có đa tác dụng Các sản phẩm được tạo ra từ cây thốt nốt đã phục vụ đời sống của con người, trong
đó đồng bào Khmer là chủ yếu
2.1.3 Phân bố
Hiện nay, hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên là hai nơi có số lượng cây thốt nốt nhiều nhất theo thống kê toàn tỉnh An Giang Theo chi cục thống kê huyện Tri Tôn, tính đến năm 2017, toàn huyện có 56,2 ha trồng cây thốt nốt, sản lượng thu hoạch được là 1.237,3 tấn Chủ yếu ở thị trấn Tri Tôn (0,5 ha) , Ba Chúc (0,2 ha), xã Liên Trì (5,3 ha), Châu Lăng (0,6 ha), Lương Phi (98 ha), Núi Tô (6,0 ha), An Tức (12,3 ha), Cô Tô (4,8 ha), Ô Lâm (11,3 ha) Theo niên giám thống
kê năm 2016, tại huyện Tịnh Biên, diện tích cây thốt nốt chiếm 229 ha, chủ yếu tập trung tại Văn Giáo, Vĩnh Trung, An Cư, An Phú, Vĩnh Trung, An Nông, Nhơn Hưng
Trang 352.2 Sản phẩm từ cây thốt nốt
Cây thốt nốt - loại cây đa dụng, bởi hầu như các bộ phận từ cây thốt nốt đều được tận dụng tối đa, tạo ra các sản phẩm phục vụ cho đời sống con người Đối với người Khmer ở An Giang, các sản phẩm từ thốt nốt là một trong những cách tạo ra thu nhập, giảm nghèo cho họ
2.2.1 Trái thốt nốt
Trái thốt nốt có dạng tròn, màu đen tuyền, khi chín thơm như mùi mít Hầu như tất cả các phần của trái thốt nốt đều được người dân sử dụng triệt để, từ vỏ đến ruột
Bên trong lớp vỏ màu đen của trái thốt nốt là phần cơm có vị ngọt, béo, thơm và dẻo Khi chín, phần cơm này có mùi thơm như mùi mít chín Với phần
vỏ của trái thốt nốt già được người Khmer đem mài nhuyễn ra được thứ bột rồi lược lấy nước và pha với bột gạo tạo nên mùi thơm đặc trưng Còn phần cơm của trái khi già sẽ cứng và đục hơn, cũng được mài thành bột màu trắng như bột gạo nếp Sau đó, phần bột này được người Khmer tại đây mang đi làm bánh hoặc nấu chè, tạo ra vô số món bánh và chè mang hơi hướng văn hóa của người Khmer nói chung
Thứ nhất, bánh bò: Loại bánh thường dùng trái thốt nốt và đường thốt nốt chế biến là bánh bò, bánh lá thốt nốt Thông thường có 3 loại bánh bò thường xuyên bắt gặp khi đến du lịch tại An Giang đó là bánh bò nấu từ đường thốt nốt, bánh bò có thịt thốt nốt tươi bên trong và loại được gói một phần trong lá, ăn kèm nước cốt dừa Loại bánh này được nấu hoàn toàn bằng đường thốt nốt, với các màu sắc từ rau, quả tự nhiên tạo thành như màu cam – quả gấc, màu xanh –
lá dứa, màu vàng – màu đường thốt nốt khiến người xem kích thích và muốn nếm thử Khác với bánh bò thông thường, bánh bò ở đây có mùi vị đặc trưng từ thốt nốt, hình dạng của bánh đa dạng: có loại có hình dạng viên tròn, có loại được đúc vào khuôn bánh hoặc gói trong lá thốt nốt, lá chuối, lộ một phần bánh màu vàng rực rỡ Người bán tạo ra nhiều loại bánh có hình dạng, kích thước và kết hợp cùng các nguyên liệu khác tạo nên sự hấp dẫn và bắt mắt như dừa nạo khô, nước cốt dừa Bánh bò được đúc với các hình dạng khác nhau Có loại bánh được đúc bằng các khuôn nhỏ, đường kính 2 – 3 cm, có loại từ 3 -5 cm hoặc đúc vào khuôn lớn trên 20 cm Giá bán khác nhau đối với mỗi loại bánh bò có nguyên liệu và
Trang 36kích thước khác nhau, giá tương đối mềm, chỉ từ 10.000 - 30.000 đồng Thông thường, giá bánh bò chỉ từ 10.000 đồng, được bán tại các chợ hoặc các hàng quán ven đường huyện Tri Tôn và Tịnh Biên Sau khi Kênh thông thương của tỉnh An Giang đầu tư về quảng bá các sản phẩm đặc sản, du lịch tỉnh ngày càng phát triển thì bánh bò làm từ đường thốt nốt được nhiều người biết đến, do đó giá bán có khi tăng lên đến 30.000 đồng Cây thốt nốt cho trái quanh năm nên bà con đồng bào Khmer làm bánh thốt nốt quanh năm, nhưng có phần giảm số lượng vào mùa mưa do ảnh hưởng của thời tiết vào việc thu hoạch nước thốt nốt để nấu đường Thứ hai, bánh lá thốt nốt, để làm ra chiếc bánh lá thốt nốt nguyên liệu chính cần bột gạo, đường thốt kết hợp cùng nước cốt dừa và thịt thốt nốt tươi Nấu tất
cả các nguyên liệu với nhau cho đến khi thành một hỗn hợp sền sệt thì cho vào lá chuối gói lại và tạo thành hình chữ nhật rồi gói lại và hấp chín Khi ăn, chúng ta
mở lá chuối ra và rắc thêm sợi dừa nạo tạo sự hấp dẫn rồi thưởng thức Có thể thay dừa bằng đậu xanh khi nấu chín cũng rất ngon Theo sãi cả Chau Kim Siêng
(chùa Thốt Nốt, Tri Tôn) cho biết: “Bánh thốt nốt phải ăn loại bánh làm tại vùng
đồng bào Khmer ở, người Khmer làm mới đúng chất, mới ngon và có mùi đặc trưng, còn những nơi khác không ngon bằng”
Thứ ba, rau câu thốt nốt: Đây là sự kết hợp giữa đường thốt nốt, thạch rau câu và nước cốt dừa Rau câu thốt nốt được chế biến tương tự các loại rau câu thông dụng, điều tạo nên sự đặc biệt của nó là màu vàng nâu và mùi hương đặc trưng của đường thốt nốt Thông thường, sẽ trình bày rau câu thành 2 lớp, 1 lớp dừa và 1 lớp đường thốt nốt trong khuôn hình bông hoa đẹp mắt Đây là một trong những món dùng để tráng miệng phổ biến của người Khmer
Thứ tư, thạch thốt nốt: Phần cơm bên trong trái thốt nốt giống như phần cơm của trái dừa nước Chúng ở dạng thạch, màu trắng, dùng để ăn Phần “cơm” này được người dân gọt vỏ, ăn tươi, mùi vị ngọt thanh Kết hợp với nước thốt nốt tươi, phần cơm này được cắt nhỏ cho vào cùng với nước, thêm ít nước đá hoặc đóng chai ướp lạnh, sẽ tạo nên một món giải khát độc đáo của vùng Bảy Núi và
có thể dễ dàng bắt gặp ở các hàng quán trên đường, các khu du lịch Với những trái non, phần thịt sẽ mềm và trong hơn, trái càng già, phần thịt sẽ đục và cứng hơn Ngoài ra, phần cơm còn được cắt miếng hoặc thái sợi, hạt lựu và cho vào
Trang 37trong một số loại chè Phần cơm này còn được dùng trong nấu bánh bò thốt nốt, thường sẽ dùng loại cơm còn tươi để có vị ngọt thanh và mềm
Thứ năm, rượu thốt nốt: Do rất dễ bị lên men nên người Khmer đã tận dụng trái thốt nốt để lên tạo thành rượu chua thốt nốt, bia thốt nốt (đặc sản của người Khmer tại Campuchia) Món rượu chua thốt nốt được tạo nên từ vị chua đặc trưng của trái thốt nốt khi lên men, người ta phải chọn ra những trái thốt nốt có phần “cơm” già, chắc thịt và có vị ngọt hơi gắt chứ không chọn những trái thốt nốt quá non Trái thốt nốt sẽ được gọt sạch vỏ, bổ đôi và sau đó là đặt vào chậu làm bằng đất trong vòng từ 2 đến 3 ngày Sau thời gian ủ lên men sẽ cho ra loại rượu chua thốt nốt đặc trưng Người ta thường thích uống rượu chua thốt nốt sau bữa ăn hoặc uống vào những ngày trời hè oi bức, do rượu được lên men tự nhiên nên có vị thanh mát
Thứ sáu,chè thốt nốt: Chè là một món ăn thông dụng trong ẩm thực của nhiều nơi và nhiều tộc người Với nguyên liệu quan trọng nhất là đường cùng với các nguyên liệu khác nhau Chè thốt nốt là một sự kết hợp giữa “cơm” thốt nốt và nước cốt dừa, có thể thêm thạch rau câu, phổ tai (rong ninh nước), mít … nấu với đường thốt nốt tạo nên hương vị hòa quyện giữa vị ngọt thanh và béo ngậy, cùng với độ dẻo mềm của “cơm” thốt nốt Trong một số loại chè khác như chè Thái, chè Campuchia… cơm thốt nốt được dùng cùng một số nguyên liệu khác tạo nên
sự đa dạng màu sắc, hương vị và nét đặc trưng trong món ăn của người Khmer Một số cách nấu chè phối giữa thốt nót và cách nguyên liệu khác:
- Chè thốt nốt đậu xanh: Đậu xanh được bóc vỏ và nấu đến khi chín mềm thì cho thêm cơm thốt nốt tươi được gọt vỏ và cắt miếng nhỏ, có thể thêm một ít nước cốt dừa, mè rang để tạo màu sắc và hương vị hấp dẫn
- Chè thốt nốt hạt sen: Nấu chín hạt sen với đường phèn hoặc đường thốt nốt, sau đó cho thêm cơm thốt nốt tươi vào, có thể nấu với lá dứa tạo mùi thơm cho món chè này
- Chè thốt nốt với nước cốt dừa: Nước cốt dừa được nấu chín thành hợp chất sền sệt, sao đó cho cơm thốt nốt vào và rắc một ít mè rang, đậu phộng rang hoặc hạnh nhân thái lát (ít phổ biến)
Trang 382.2.2 Lá thốt nốt
Lá cây thốt nốt mọc thành chùm, xòe rộng như lá cọ, có thể dùng lá để gói bánh, lợp mái nhà, đan nón, đan rổ, làm thảm, làm ô (dù) … Đối với người Khmer, lá non còn có thể dùng để nấu canh như một loại rau Cuống bẹ lá, nếu
để nguyên thì dùng làm hàng rào, đập dập ra làm chổi, tách nhỏ ra và se lại thành dây thừng buộc rất chắc Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế và xã hội, đồng bào Khmer có điều kiện tiếp cận các sản phẩm tiến bộ, thay thế các sản phẩm thủ công thô sơ nên chúng ta chỉ còn thấy xuất hiện nhưng ít tại một số phum, sóc ở sâu trong các ngọn núi Chỉ còn một số rất ít các hộ gia đình còn duy trì sử dụng các sản phẩm được đan từ lá thốt nốt
Lá thốt nốt sau khi phơi khô còn được người Khmer ghép lại làm thành quạt, nhưng với trình độ còn hạn chế, kỹ thuật thô sơ nên sản phẩm làm ra thô và thiếu thẩm mỹ Sau này, với bàn tay của nghệ nhân Võ Văn Tạng (thị trấn Núi Sập, huyện Thoại Sơn) đã biến những chiếc lá ấy thành các tác phẩm nghệ thuật độc đáo Những tác phẩm được vẽ trên lá thốt nốt như ảnh chủ tịch Hồ Chí Minh
và chủ tịch Tôn Đức Thắng, khu tưởng niệm chủ tịch Tôn Đức Thắng… được chọn là những tác phẩm tiêu biểu tạo nên sự thành công và danh tiếng của nghệ nhân trong nghệ thuật vẽ tranh lá Các tác phẩm của nghệ nhân được bình chọn là sản phẩm tiêu biểu của Tây Nam bộ, ông được Sở Khoa học Công Nghệ tỉnh An Giang trao tặng giải “Sáng tạo kỹ thuật” năm 2012, đạt “Kỉ lục Việt Nam-Nghệ nhân làm tranh với chất liệu lá thốt nốt nhiều nhất” năm 2010, danh hiệu “Nghệ nhân ưu tú”
Để được một bức tranh từ lá thốt nốt, nguyên liệu quan trọng nhất là lá thốt nốt Những chiếc lá được chọn dùng phải là lá non, lấy từ các cây thốt nốt có tuổi thọ trên 20 năm Để chọn được những lá đạt yêu cầu phải đến hai huyện Tịnh Biên và Tri Tôn đặt mua với số lượng nhiều Với mỗi tàu lá mang về, chỉ sử dụng khoảng 20%, vì phải chặt bỏ hai phần đầu lá, lấy đoạn giữa lá và cắt cho thành từng mảnh nhỏ, ngang khoảng 3 cm và dài 50-60 cm Những mảnh lá sẽ được ghép lại với nhau bằng cách dùng keo dán, chúng sẽ trở những mảng lá lớn
để vẽ tranh trên đó Với kích thước sẽ tùy theo mong muốn, nội dung bức tranh cần vẽ mà dùng loại bút lửa có công suất phù hợp để tạo đường nét dày manh, màu sắc đậm nhạt Chỉ với sự thay đổi đường nét và mức độ đậm nhạt của màu
Trang 39sắc do thay đổi nhiệt độ tạo nên mà không dùng bất cứ loại sơn vẽ khác đã tạo nên sự mới lạ của bức tranh, dù không mang nhiều màu sắc hay nguyên liệu khác phối hợp, những tác phẩm được tạo trên lá thốt nốt cũng vô cùng sinh động, có hồn, giàu tính nghệ thuật Với sự hấp dẫn của tranh lá thốt nốt, sự đa dạng trong nội dung thể hiện, tranh lá thốt nốt ngày càng được nhiều người biết đến và đặt hàng Khách hàng bao gồm người trong nước và ngoài nước Các bức tranh từ lá thốt nốt thường được dùng làm quà tặng trong các dịp gặp mặt, tân gia, kỉ niệm hoặc làm quà lưu niệm cho khách nơi khác đến với An Giang Như nghệ nhân
Võ Văn Tạng chia sẻ: Lá thốt nốt có đặc tính là không bị mối mọt, các bức tranh trên lá thốt nốt có hạn sử dụng rất lâu, mà không cần dùng thêm hóa chất bảo quản Vì vậy rất được người dân và du khách yêu thích bởi vẻ đẹp tự nhiên, mộc mạc và sự bền bỉ qua thời gian Sau khi vẽ lên lá, chỉ cần dùng một lớp sơn bóng
để giữa màu sắc và tạo độ bóng cho bức tranh rồi cho vào khung tranh bảo quản, như vậy là có thể có một tuyệt phẩm tồn tại với thời gian Một số nội dung thường được khách hàng yêu cầu vẽ trên lá thốt nốt: Hình tượng Đức Phật A Di
Đà, phật Thích Ca Mâu Ni, Quán Thế Âm Bồ Tát, tam tinh Phúc Lộc Thọ, đức
mẹ Maria, chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ tịch Tôn Đức Thắng, phong cảnh quê hương, tranh thư pháp, chân dung, ảnh cưới, v.v
2.2.3 Thân cây thốt nốt
Thân cây thốt nốt có dạng thân tròn, dài, có cây dài đến 30 mét, vỏ rất cứng
và nặng Người dân Khmer, chủ yếu sống trong các phum, sóc dùng làm cột, kèo nhà Đặc tính của gỗ thốt nốt cũng kháng mối mọt và chắc nên được tận dụng làm gỗ xây nhà, dầm cầu, gỗ đóng bàn, ghế Thân thốt nốt cũng được tận dụng làm thành các sản phẩm thủ công mỹ nghệ như đũa, muỗng, chén, thước kẻ, móc khóa… tương tự như các sản phẩm thủ công được làm từ cây dừa ở tỉnh Bến Tre Với những cây lâu năm, người dân còn có thể đục đẽo và ghép thành thuyền Một
số thành phần người Khmer tại Tịnh Biên, Tri Tôn sinh sống vẫn còn tách biệt với người Kinh, sống chủ yếu khu vực gần các ngọn núi, nên điều kiện đi lại còn hạn chế Vì vậy thân cây thốt nốt còn dùng thay thế cho các cây cầu nhỏ bắt qua các con kênh nhỏ hoặc lối dẫn vào các cánh đồng
Chú Chau Hane - người Khmer tại xã Ô Lâm, huyện Tri Tôn chia sẻ: “cây thốt nốt tự phục vụ nó” bởi khi cây thốt nốt được lấy nước, chặt lá, hái quả …
Trang 40sau khi khai thác xong, phần vỏ của trái thốt nốt được phơi khô cũng như phần thân cây được dùng làm củi đốt, phục vụ cho việc nấu đường thốt nốt Vỏ và gỗ cháy rất tốt, tiện lợi và giá rất rẻ, giúp bà con đồng bào Khmer tiết kiệm rất nhiều chi phí sản xuất
2.2.4 Nước thốt nốt
Có thể nói, cấu tạo trái thốt nốt gần giống như trái dừa nước của một số tỉnh miền Tây Nam Bộ Vì vậy, công dụng từ cấu tạo của trái thốt nốt và trái dừa nước gần giống nhau Tuy nhiên, một điều đặc biệt khác nhau giữa trái thốt nốt
và trái dừa nước là phần nước
Nước dừa nước hoặc nước dừa sử dụng phần nước bên trong trái Nước thốt nốt không sử dụng phần nước bên trong trái, mà sử dụng phần nước từ hoa thốt nốt Vì vậy, nước thốt nốt được xem như một loại “mật” của hoa thốt nốt
Muốn lấy được nước thốt nốt, người thợ phải trèo lên thân cây cao không dưới 15 mét Cây thốt nốt thuộc dạng thân cây trơn, không nhánh, nên việc trèo lên rất vất vả, khó khăn Cây càng cao, càng lớn tuổi thì càng khó trèo Bởi cây thốt nốt giống như cây dừa, tuổi thọ càng cao, thân cây càng trơn láng và có độ nghiêng
Để leo lên cây thốt nốt lấy nước, người ta sẽ đặt một cây tre có nhánh (có chiều cao bằng cây thốt nốt hoặc nối các cây ngắn lại với nha) gắn liền lên thân cây thốt nốt để làm cái thang gọi là “cây đài” hoặc “đài tre” Đài phải được chú ý thay mới thường xuyên, nhất là khi mùa đường bắt đầu Vì thời gian thu hoạch dài, trả qua mưa gió, cây đài sẽ bị nước mưa ngấm vào, mắt tre bị mục, gây nguy hiểm cho thợ thu hoạch Công đoạn thu hoạch nước thốt nốt tốn rất nhiều thời gian Từ lúc chọn hoa cho đến khi thu hoạch được nước phải mất từ bảy đến tám ngày
Quá trình thu hoạch nức thốt nốt rất công phu: Trước tiên, người thợ sẽ trèo lên cây, chọn những bông hoa vừa tốt, vừa đẹp Vì những bông hoa đó sẽ cho nhiều nước hơn và ngon hơn Một buồng của cây thốt nốt đực có thể chọn được nhiều hoa để lấy nước Đối với thốt nốt cái, một buồng chỉ có thể chọn được tối
đa hai hoa để lấy nước, vì số hoa còn lại không cho ra sản lượng nước như yêu cầu Sau đó, người thợ sẽ dùng kẹp tre để kẹp hoa lấy nước Nếu kẹp mạnh tay hoặc nhẹ tay quá đều không tốt, hoa sẽ cho nước rất ít Kẹp tre dùng để kẹp hoa