Điều này lại trở thành một cơ hội để nước ta có thể học hỏi kinh nghiệm của những nước đã thành công, cũng như rút ra bài học từ những nước đã thất bại, gặp nhiều rủi ro trên con đường t
Trang 1BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
CHÍNH SÁCH TỰ DO HÓA LÃI SUẤT THỰC
TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Thảo
Người hướng dẫn: ThS Võ Minh Long
TP Hồ Chí Minh, 2013
Trang 2Trang
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HÓA LÃI
1.1.1 Khái niệm và các lý thuyết về bản chất của lãi suất 1
1.1.2.3 Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất 4
Trang 31.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỰ DO HÓA LÃI SUẤT 6
1.2.2 Các cơ chế điều hành lãi suất thông dụng ở Việt Nam và thế giới 7
1.2.3 Lộ trình và điều kiện đi đến tự do hóa lãi suất 9
1.3 MỤC TIÊU TỰ DO HÓA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI VIỆT NAM 11
1.4 KINH NGHIỆM TỰ DO HÓA LÃI SUẤT VỚI CÁC NƯỚC
1.4.3 Giám sát cẩn thận và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý 14
Trang 42.1 BỐI CẢNH CHUNG CỦA VIỆT NAM 17
2.2 LỊCH SỬ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM
2.2.1 Cơ chế ấn định lãi suất trực tiếp (1986-5/1992) 22
2.2.1.1 Quy định của Nhà nước về chính sách lãi suất 22
2.2.1.2 Thực trạng, diễn biến, thành công và bất cập của chính sách lãi
2.2.2 Cơ chế điều hành khung lãi suất (6/1992-1995) 27
2.2.2.1 Quy định của Nhà nước về chính sách lãi suất 27
2.2.2.2 Thực trạng, diễn biến, thành công và bất cập của chính sách lãi
2.2.3 Cơ chế điều hành lãi suất trần (1996 – 7.2000) 30
2.2.3.1 Quy định của Nhà nước về chính sách lãi suất 30
2.2.3.2 Thực trạng, diễn biến, thành công và bất cập của chính sách lãi
2.2.4 Cơ chế điều hành lãi suất cơ bản kèm biên độ (8.2000 – 5.2002) 33
2.2.4.1 Quy định của Nhà nước về chính sách lãi suất 33
2.2.4.2 Thực trạng, diễn biến, thành công và bất cập của chính sách lãi
2.2.5 Cơ chế lãi suất cho vay thoả thuận bằng đồng Việt Nam (6.2002 –
2.2.5.1 Quy định của Nhà nước về chính sách lãi suất 37
2.2.5.2 Thực trạng, diễn biến, thành công và bất cập của chính sách lãi
2.3 CHÍNH SÁCH ÁP TRẦN LÃI SUẤT GIAI ĐOẠN TỪ 2008
Trang 52.3.1 Nguyên nhân áp trần lãi suất 57
2.4.3 Yếu kém trong việc tái cơ cấu nền kinh tế 67
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT HƯỚNG CHÍNH SÁCH
LÃI SUẤT SANG HƯỚNG TỰ DO HÓA
74
3.1 NGUYÊN NHÂN CẢN TRỞ VIỆT NAM ĐẾN VỚI TỰ DO
3.2 GIẢI PHÁP RÚT RA TỪ KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC BẠN 78
3.2.1 Nới lỏng vai trò kiểm soát lãi suất của NN bằng các công cụ gián
3.2.2 Nâng cao nỗ lực quản lý, điều hành chính sách của NHNN 80
3.2.3 Hạn chế tín dụng ở những lĩnh vực không ưu tiên 81
Trang 63.2.5 Tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp 83
Trang 7Trang
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư 5
Hình 2.1 Diễn biến lạm phát ở Việt Nam thời kỳ 1980-2010 (%) 18
Hình 2.2 Tăng trưởng GDP thực của Việt Nam giai đoạn 1986-2012 19
Hình 2.3 Biểu đồ thể hiện giảm lãi suất (%) 32
Hình 2.4 Các lãi suất cơ bản trên thị trường giai đoạn 1998-2002 (%) 35
Hình 2.5 Biểu đồ lãi suất tiền gửi, tiền vay giai đoạn 2002-2008 39
Hình 2.6 Biểu đồ lạm phát và GDP Việt Nam giai đoạn 2002-2008 42
Hình 2.7 Chỉ số giá tiêu dùng của Việt Nam và một số nước khác 46
Hình 2.8 GDP ở Việt Nam năm 2008 so với cùng kì 2007 47
Hình 2.9 Đồ thị điều chỉnh lãi suất cơ bản, lãi suất tái cấp vốn và lãi
Hình 2.10 Biểu đồ lãi suất trung bình của NHTM và CPI năm 2008 49
Hình 2.11 Tăng trưởng tín dụng và cung tiền M2 (%) 52
Hình 2.12 Biểu đồ lạm phát ở Việt Nam những năm 2009-4/2012 60
Hình 2.13 Nợ xấu Ngân hàng Việt Nam từ 2009-2012 65
Hình 2.14 Lợi nhuận một số Ngân hàng so với cùng kỳ năm ngoái
Trang 8Hình 2.15 Tăng trưởng TD giai đoạn 2001-11/2012 (%) 67
Trang 9Trang
Bảng 2.2 Tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam những năm 1990-1998 (%) 29
Bảng 2.3 Diễn biến lãi suất bình quân các năm 1986-1995 (%) 29
Bảng 2.4 Điều chỉnh giảm lãi suất cơ bản từ 8/2000 đến 12/2002
Bảng 2.5 Lãi suất cơ bản từ 3/2004 đến 5/2008 38
Bảng 2.6 Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản giai đoạn 2002 – 2007 43
Bảng 2.7 Lịch sử hạ trần huy động của NHNN năm 2012 55
Bảng 2.8 Lịch sử thay đổi trần lãi suất cho vay của NHNN năm 2012 56
Trang 10BĐS Bất động sản BIDV Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng Trung ương
Trang 11BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Chính sách tự do hóa lãi suất Thực trạng và giải pháp
- Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thu Thảo
- Lớp: TN91 Khoa: Tài chính-Ngân hàng Năm thứ: 4/Số năm đào tạo:4
- Người hướng dẫn: Ths.Võ Minh Long
2 Mục tiêu đề tài: Giúp người đọc hình dung được sự khó khăn trong việc điều
hành chính sách lãi suất, cũng như bức tranh toàn cảnh lịch sử thay đổi cơ chế
lãi suất ở nước ta từ 1986-1/2013 Qua đó tái hiện lại nguyên nhân của chính
sách khống chế lãi suất vào năm 2008 Thực trạng nền kinh tế ở hiện tại có phải
là thời cơ chín mùi để tự do hóa lãi suất hay chưa Sau đó là những giải pháp đề
xuất từ tác giả
3 Tính mới và sáng tạo: Đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu về chính sách tự do
hóa lãi suất ở Việt Nam Tuy nhiên phần lớn đều dừng lại ở khoảng năm 2008
Riêng đề tài của tôi sẽ mang tính mới mẻ hơn khi cập nhật mới nhất đến tháng
1/2013 Cùng theo đó đề tài sẽ đi theo hướng phân tích những tồn động ở hiện
tại đã cản trở Việt Nam tự do hóa lãi suất cùn với những đề xuất góp phần khắc
phục những tồn động đã nêu ra
4 Kết quả nghiên cứu:
Sau qua trình nghiên cứu, đề tài đưa ra một số kết quả liên quan đến việc tự do
hóa lãi suất ở Việt Nam
Tự do hóa lãi suât là một xu thế tất yếu và Việt Nam không sớm thì muộn
cũng sẽ tự do hóa lãi suất
Nền kinh tế Việt Nam hiện tại còn nhiều những tồn động bất cập, chưa
phải là thời điểm thuận lợi và lý tưởng để tự do hóa lãi suất
Hạn chế nổi bật ở hiện tại gây cản trở Việt Nam tự do hóa lãi suất đó là nợ
xấu và bức tranh về ngành Ngân hàng vẫn chưa minh bạch
5 Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc
phòng và khả năng áp dụng của đề tài:
Kết quả nghiên cứu giúp người đọc có cái nhìn tổng quan về tình hình kinh tế
cuối năm 2012 và đầu năm 2013
Những giải pháp đưa ra góp phần khắc phục một số tồn động ở hiện tại Nổi bật
nhất đó là nợ xấu Vấn đề đã và đang thu hút nhiều ý kiến cũng như đóng góp đề
xuất trên các phương tiện thông tin đại chúng
6 Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ
tên tạp chí nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả
nghiên cứu (nếu có):
Trang 12Ngày 9 tháng 4 năm 2013
Sinh viên chịu trách nhiệm chính
thực hiện đề tài
(ký, họ và tên)
Nguyễn Thi Thu Thảo
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên
thực hiện đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
……….
Ngày tháng năm
Xác nhận của đơn vị
(ký tên và đóng dấu)
Người hướng dẫn
(ký, họ và tên)
Trang 13BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HCM
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
I SƠ LƯỢC VỀ SINH VIÊN:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu Thảo
Sinh ngày: 8 tháng 3 năm 1991
Nơi sinh: Long An
Lớp: TN91 Khóa: 2009-2013
Khoa: Tài chính-Ngân hàng
Địa chỉ liên hệ: 49/60 Trần Kế Xương, Phường 7, Quận Phú Nhuận, TP.HCM
Điện thoại: 01683262623 Email: nguyenthao8391@gmail.com
II QUÁ TRÌNH HỌC TẬP (kê khai thành tích của sinh viên từ năm thứ 1 đến năm
Ngành học: Tài chính-Ngân hàng Khoa: Tài chính-Ngân hàng
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Sinh viên 5 tốt cấp Trường, Học bổng khuyến khích học
tập học kì II
* Năm thứ 4:
Ngành học: Tài chính-Ngân hàng Khoa: Tài chính-Ngân hàng
Kết quả xếp loại học tập: Giỏi
Sơ lược thành tích: Đạt điểm 8 bảo vệ khóa luận đợt tháng 4/2013
Ảnh 4x6
Trang 15LỜI GIỚI THIỆU
1 Đặt vấn đề
Lãi suất là một biến số được các nhà chuyên môn dành nhiều sự quan tâm bởi
tầm quan trọng của nó đối với mọi mặt trong nền kinh tế Đầu tư, chi tiêu hay tiết
kiệm, lạm phát, tỷ giá và cầu tiền…đều chịu sự ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố lãi suất
Lãi suất chính là chi phí cơ hội của đầu tư Lãi suất biến động quyết định sự gia tăng
hay sụt giảm của đầu tư và tác động đến sự tăng trưởng của nền kinh tế Diễn biến của
lãi suất còn chi phối đến quyết định kinh tế của các chủ thể như để dành hay chi tiêu,
mua nhà, mua trái phiếu hay gửi ngân hàng lấy lãi Mặt khác, lãi suất còn là chiếc chìa
khóa vàng giúp cho NHNN điều tiết nền kinh tế, điều hành chính sách tiền tệ, ảnh
hưởng đến cung-cầu về vốn và luân chuyển các nguồn lực tài chính
Lãi suất là một công cụ khá nhạy cảm trong việc điều hành chính sách tiền tệ
Cùng với mục tiêu bao trùm của chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất cũng phải đảm
bảo những mục tiêu cốt lõi như ổn định giá trị đồng tiền quốc gia, thông qua đó là
kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và ổn định nền kinh tế vĩ mô
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra nhanh chóng mà toàn cầu hóa tài chính là
điển hình thì nước ta phải đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức Một trong những
thách thức rất lớn là việc kiểm soát tiền tệ bằng công cụ trực tiếp đã giảm hiệu quả và
không còn đảm bảo tính linh hoạt so với thị trường Vì thế để hội nhập hiệu quả và
thành công trên lĩnh vực tài chính, Việt Nam cần thay dần việc kiểm soát lãi suất bằng
các công cụ gián tiếp, điều này có nghĩa là cần tự do hóa lãi suất
Tự do hóa lãi suất là một bộ phận chủ yếu của tự do hóa tài chính Và cũng như
nhiều nước trên thế giới, tự do hóa tài chính, hay nói cách khác, tự do hóa lãi suất đối
với Việt Nam như một xu thế tất yếu Tuy có nhiều tranh luận quanh vấn đề tự do hóa
lãi suất, nhưng nó đã và đang diễn ra mạnh mẽ ở các nước đang phát triển trên thế giới
nói chung và ở nước ta nói riêng Tự do hóa lãi suất là cả một quá trình, một con
đường dài đầy chông gai, như McKinnon (1993) cũng đã ví von quá trình này như một
con đường đầy mìn, và bạn sẽ không biết trước được bước tiếp theo có phải là bước đi
cuối cùng hay không
Trang 16Việt Nam là một nước đang phát triển và đã trải qua hơn hai thập kỉ hội nhập
quốc tế Thời gian tuy khá dài nhưng vẫn còn muộn hơn so với nhiều nước khác trên
thế giới Điều này lại trở thành một cơ hội để nước ta có thể học hỏi kinh nghiệm của
những nước đã thành công, cũng như rút ra bài học từ những nước đã thất bại, gặp
nhiều rủi ro trên con đường tự do hóa lãi suất Là một nước đi sau, chúng ta nên nắm
bắt cơ hội để học hỏi, để tiến sâu hơn trên con đường hội nhập, đặc biệt là trên lĩnh
vực tài chính Và tự do hóa lãi suất_ hạt nhân của tự do hóa tài chính, là một trong
những mục tiêu mà chúng ta cần đạt được trên lộ trình đổi mới và hội nhập
Chính sách tự do lãi suất, lãi suất được điều chỉnh theo quy luật cung-cầu, sẽ
không làm mất đi tính ưu việt của lãi suất, trong khi những biện pháp kiểm soát hành
chính cứng nhắc không làm được Chính sách này cũng đã được những công trình
nghiên cứu trước minh chứng rằng sẽ giúp đồng vốn lưu thông trên thị trường tài chính
sâu hơn, linh hoạt hơn và hiệu quả hơn
Như vậy, quá trình tự do hóa lãi suất không chỉ đơn thuần là mục tiêu vĩ mô, mà
nó còn là một xu thế chung và khách quan đối với các nước trên thế giới, và tất nhiên
Việt Nam không thể đặt mình nằm ngoài xu thế này Hơn hai mươi năm đổi mới, Việt
Nam, từ một nước bao cấp đã, đang và sẽ phát triển hơn nữa trên con đường hướng
đến nền kinh tế thị trường thực thụ Chính sách lãi suất của Nhà nước cũng theo đà ấy,
đã chuyển dần từ cơ chế kiểm soát trực tiếp, áp khung lãi suất, rồi đến ấn định lãi suất
cơ bản cộng với biên độ, và giữa năm 2002, nước ta đã cơ bản tự do hóa lãi suất Lộ
trình tự do hóa lãi suất thuận lợi lúc bấy giờ đã mở ra cho các nhà kinh tế những dự
đoán tươi đẹp về tương lai-mà ở đó, tất cả các yếu tố đều vận động dưới sự điều tiết
của cơ chế thị trường
Tuy nhiên, con đường tự do hóa lãi suất không quá suôn sẻ Bằng chứng là vào
cuối năm 2008, NHNN đã ra Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành
lãi suất cơ bản bằng VNĐ, lãi suất kinh doanh không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do
NHNN công bố Theo sau Quyết định đó, năm 2011, trần lãi suất cố định ở mức
14%/năm và từ đầu năm 2012 đến nay, NHNN đã đưa trần lãi suất giảm liên tục Nửa
đầu năm 2012 là khoảng thời gian báo chí và các cuộc hội thảo về kinh tế bàn luận sôi
nổi về lãi suất và đã có rất nhiều luồng ý kiến trái chiều xoay quanh chính sách lãi suất
này Như vậy, sau bao nhiêu năm bước đi theo lộ trình tự do hóa lãi suất, khi Việt Nam
đang tiến đến gần hơn với quy luật của thị trường, thì Nhà nước ta lại quay lại với
Trang 17chính sách áp trần giống như thời kì năm 1996 đến 8/2000 Phải chăng Việt Nam đang
đi ngược lại với quy trình tự do hóa lãi suất mà bao năm qua đã và đang cố gắng hoàn
thiện?
Chính do tầm quan trọng của chính sách lãi suất cả trong lý luận lẫn thực tiễn,
cộng với sự tranh luận về chính sách lãi suất đã và đang diễn ra sôi nổi trên các
phương tiện truyền thông thời gian vừa qua đã thôi thúc tôi viết đề tài này
Bàn về lãi suất không còn là một chủ đề mới mẻ, và đã có nhiều, nếu không nói
là quá nhiều công trình nghiên cứu về chính sách lãi suất của Việt Nam Tuy vậy, mỗi
một thời kì, mỗi một thời điểm, viêc nghiên cứu sẽ có những giá trị riêng biệt Vì vậy,
tôi mong muốn những kết quả nghiên cứu này sẽ cộng hưởng, giúp người đọc có thể
đối chiếu và tổng hợp những quan điểm về chính sách lãi suất của Viêt Nam so với
những công trình nghiên cứu trước đây qua từng thời kì nhất định
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mong muốn thông qua đề tài có thể nghiên cứu được:
Tầm quan trọng của công cụ lãi suất đối với nền kinh tế
Quá trình thay đổi để hoàn thiện chính sách lãi suất của Việt Nam, ưu
nhược điểm của mỗi cơ chế lãi suất qua từng giai đoạn
Và cuối cùng đi vào làm rõ vấn đề thay đổi cơ chế điều hành lãi suất,
khống chế bằng lãi suất cơ bản và đi đến áp trần lãi suất bằng biện pháp hành chính của Nhà nước như hiện nay Nguyên nhân, bất cập cũng như những thành công đạt được
Dự đoán chính sách trong tương lai, bỏ áp trần, giữ lại áp trần, tiếp tục
hạ trần hay không, nên và không nên
3 Câu hỏi nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu sau cùng sẽ giúp người đọc giải quyết những câu hỏi sau:
1 Lịch sử thay đổi cơ chế điều hành lãi suất từ 1986 đến nay?
2 Quá trình hoàn thiện chính sách lãi suất của Việt Nam có những điểm
mạnh và những hạn chế nào?
Trang 183 Tại sao từ năm 2008 đến nay, Nhà nước ta lại thay đổi chính sách lãi
suất, đi ngược với lộ trình tự do hóa? Những thành công và bất cập của
sự thay đổi này là gì?
4 Thời điểm hiện nay đã là chín muồi để tự do hóa lãi suất chưa? Và Việt
Nam đang đứng ở đâu trên con đường gian nan hướng đến tự do hóa lãi suất?
5 Những đề xuất sau kết quả nghiên cứu từ kinh nghiệm các nước trong và
ngoài khu vực, áp dụng phù hợp với điều kiện của Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Lịch sử thay đổi cơ chế điều hành lãi suất, ưu nhược điểm mỗi cơ chế sẽ
được chia làm nhiều giai đoạn, từ năm 1986 đến nay
Liên hệ kinh nghiệm các nước bạn trong khu vực Đông Nam Á
Thời gian nghiên cứu, lấy số liệu từ 1986 đến 1/2013
5 Phương pháp nghiên cứu
Nhằm để triển khai đề tài, bài nghiên cứu sẽ sử dụng phương pháp định tính, so
sánh, phân tích, tổng hợp là chính
Tổng hợp thông tin kinh nghiệm các nước bạn, so sánh với điều kiện
kinh tế của Việt Nam để rút ra bài học và một số đề xuất
Tổng hợp tình hình kinh tế trong quá khứ của Việt Nam, phân tích sự
hiệu quả và tính thiết thực của sự thay đổi chính sách lãi suất trong thời gian qua
So sánh các biến số kinh tế, liên hệ với cơ chế điều hành lãi suất lúc bấy
giờ giữa các năm, nhằm rút ra những khiếm khuyết trong thực hiện chính sách lãi suất ở Việt Nam
6 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài chủ yếu nghiên cứu công cụ lãi suất và chính sách lãi suất của NHNN
Nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ giữa NN-NH-DN và đôi lúc xét đến tâm ly
của người dân gửi tiền
Trang 197 Nội dung nghiên cứu
Nội dung đề tài nghiên cứu được chia làm 3 chương:
Chương I nêu lên cơ sở ly luận về lãi suất, tầm quan trọng và vai trò của
lãi suất đối với nền kinh tế; tự do hóa lãi suất, điều kiện và bài học kinh nghiệm từ một số nước bạn về con đường tự do hóa lãi suất
Chương II nêu lên lịch sử thay đổi cơ chế điều hành chính sách lãi suất ở
Việt Nam (1986-1/2013), diễn biến và thực trạng chính sách lãi suất từng giai đoạn kinh tế Nguyên nhân và những vấn đề xung quanh cơ chế áp trần lãi suất như hiện nay Thực trạng nền kinh tế Việt Nam sau năm
2012 vừa qua và những dự đoán trong năm 2013 hiện tại
Chương III phân tích về những yếu điểm, hạn chế còn tồn tại dựa theo
những thực trạng đã phân tích ở chương II, cùng với đó là những đề xuất cho chính sách lãi suất của Nhà nước
Trang 20CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN LÃI SUẤT VÀ TỰ DO HÓA LÃI
SUẤT
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ LÃI SUẤT
1.1.1 Khái niệm và các lý thuyết về bản chất của lãi suất
Lãi suất được định nghĩa theo Wikipedia là giá của quyền được sử dụng vốn vay
trong một khoảng thời gian nhất định, mà người sử dụng phải trả cho người cho vay Hay
lãi suất được hiểu theo nghĩa chung nhất là giá cả của tín dụng
Trong nền kinh tế, luôn luôn tồn tại những chủ thể có vốn nhàn rỗi; và những chủ
thể thiếu vốn, đang rất cần vốn để phát triển kinh doanh, hay đơn giản là để thỏa mãn một
hay một số nhu cầu nào đó của mình Và chính vì những mong muốn đó, thị trường tài
chính ra đời giúp thông suốt nguồn vốn từ người thừa sang người thiếu vốn
Lãi suất ở đây chính là cái giá mà người đi vay phải trả cho người cho vay để được
quyền sử dụng số vốn mà bản chất không thuộc sỡ hữu của mình Ở đây, “vốn” được
xem như một hàng hóa đặc biệt, và lãi suất là một loại giá cả đặc biệt Nó hình thành trên
cơ sở giá trị sử dụng của vốn, tức lợi nhuận hay sự thỏa mãn đối với người đi vay mà
nguồn vốn vay này mang lại Lãi suất không giống như các loại giá cả thông thường, mà
được thể hiện dưới dạng phần trăm trên tổng số vốn vay Con số này chính là số tiền
người đi vay phải trả, đồng thời cũng là lợi tức mà người cho vay được hưởng trong
khoảng thời gian nhất định chuyển giao quyền sở hữu vốn
Lãi suất có vai trò quan trọng trong nền kinh tế và cũng chịu ảnh hưởng của nhiều
nhân tố Do đó, lãi suất là một công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô quan trọng được Nhà
nước rất quan tâm và quản lý rất chặt chẽ Mọi diễn biến của lãi suất đều thu hút nhiều sự
quan tâm không chỉ của các nhà chức trách, chuyên môn mà còn có cả người dân và các
doanh nghiệp Chính lẽ đó mà lãi suất luôn được cập nhật mọi thông tin nhanh chóng trên
các phương tiện thông tin đại chúng
Tuy nhiên, với điều kiện hội nhập, phát triển sâu rộng của thị trường tài chính thế
giới, buộc các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam phải thay đổi để thích nghi,
thực hiện công cuộc tự do hóa, trong đó có tự do hóa lãi suất
1.1.2 Phân loại lãi suất
1.1.2.1 Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng
Trang 21Lãi suất tiền gửi ngân hàng:
NH có nhiều hình thức tiền gửi khác nhau và tùy thuộc vào từng loại hình
(Tiền gửi hay tiền gửi tiết kiệm) cũng như các yếu tố khác (Loại tiền gửi, kỳ hạn
hay không kỳ hạn, quy mô tiền gửi, rút tiền trước hạn,…) mà có một mức lãi suất
nhất định Lãi suất ở đây là lãi suất mà các cá nhân, tổ chức nhận được khi gửi tiền
ở NH Đối với NH thì đây là chi phí
Lãi suất tiền vay ngân hàng:
Tương tự như trên, đây sẽ là mức lãi suất NH áp dụng cho các khoản vay
của KH Tùy thuộc vào đặc điểm của từng khoản vay như kỳ hạn, loại tiền, loại
hình cho vay, quy mô số tiền, quan hệ giữa KH với NH cùng một số yếu tố khác
liên quan đến tài chính của KH mà NH sẽ đưa ra mức lãi suất hợp lý Đối với NH
thì đây là thu nhập
Lãi suất chiết khấu:
Đây là mức lãi suất NH áp dụng khi cho KH vay dưới hình thức chiết khấu
thương phiếu hay các GTCG khác khi chưa đến hạn thanh toán
Lãi suất tái chiết khấu:
Là mức lãi suất NHTW áp dụng đối với NHTM khác khi chiết khấu GTCG
chưa đến hạn Tái chiết khấu là một trong những hình thức cung ứng nguồn vốn
cho NHTM và lãi suất tái chiết khấu được NHTW ấn định phụ thuộc vào mục tiêu
của chính sách tiền tệ Vì thế lãi suất tái chiết khấu thường thấp hơn lãi suất chiết
khấu Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần hạn chế tín dụng, NHTW cũng có
thể ấn định mức lãi suất tái chiết khấu bằng hoặc cao hơn lãi suất chiết khấu
Lãi suất tái chiết khấu 7% (cập nhật ngày 24/12/2012_ NHNN VN)
Lãi suất liên ngân hàng:
Là lãi suất cho vay mà các NHTM áp dụng lẫn nhau Khi có nhu cầu về vốn,
ngoài tái chiết khấu, các NHTM cũng có thể vay lẫn nhau Vì thế, lãi suất này hình
thành trên cơ sở cung cầu về vốn và phụ thuộc nhiều vào lãi suất tái chiết khấu
Lãi suất cơ bản:
“ Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN
VN trong ngắn hạn Theo Luật NHNN, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt
Nam, do NHNN công bố, làm cơ sở cho các TCTD ấn định lãi suất kinh doanh
Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi
Trang 22suất nghiệp vụ thị trường mở của NHNN, lãi suất huy động đầu vào của TCTD và
xu hướng biến động cung-cầu vốn Theo Luật Dân sự, các tổ chức tín dụng không
được cho vay với lãi suất cao gấp rưỡi lãi suất cơ bản.” (Wikipedia)
Hiện nay lãi suất cơ bản đang được áp dụng là 9% theo quyết định số 2868/QĐ-NHNN 29/11/2010 áp dụng từ 1/12/1010
Lãi suất tái cấp vốn:
Lãi suất tái cấp vốn khá giống với lãi suất tái chiết khấu Trong khi đối tượng của lãi suất tái chiết khấu là GTCG, tức là NHTM cần vốn, dùng GTCG
chưa đến hạn đổi lấy lượng tiền mặt và gởi lại cho NHTW một phần nhỏ
Còn với lãi suất tái cấp vốn, ở đây lại là các khoản cho vay của NHTM
NHTM lấy những khoản cho vay chưa đến hạn để đổi lấy tiền mặt, và lãi suất tái
cấp vốn là “giá” mà NHTM phải trả cho NHTW trong việc “mua bán” đó
Lãi suất này cũng được Nhà nước ấn định theo CSTT từng thời kỳ
Lãi suất tái cấp vốn 9% (cập nhật ngày 24/12/2012_ NHNN VN)
1.1.2.2 Căn cứ vào giá trị của tiền lãi
Lãi suất danh nghĩa:
Là lãi suất chưa loại trừ tỷ lệ lạm phát Lãi suất này thường được công bố trên hợp đồng và là lãi suất danh nghĩa chứ chưa phải là thu nhập thực tế trên phần
lãi của người cho vay
Lãi suất thực:
Là lãi suất đã loại trừ tỷ lệ lạm phát và là phần thu nhập thực tế trên phần lãi
mà người cho vay nhận được Do đã được điều chỉnh theo yếu tố lạm phát, nên lãi
suất thực, chứ không phải lãi suất danh nghĩa, sẽ ảnh hưởng đến các quyết định
của chủ thể kinh tế, như đầu tư cái gì và đầu tư như thế nào
Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát
Lãi suất hiệu dụng:
Lãi suất công bố trên hợp đồng thường có đơn vị tính là %/năm Tuy nhiên trong thực tế, có những khoản vay tính lãi theo quý hoặc 6 tháng một lần Do đó,
lãi suất thật sự phải trả sẽ lớn hơn so với lãi suất công bố, và lãi suất này là lãi suất
hiệu dụng
Trang 231.1.2.3 Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất
Lãi suất cố định:
Đây là trường hợp lãi suất tính lãi sẽ là cố định và không đổi trong suốt thời hạn cho vay Ưu điểm của nó là ổn định, giúp cho cả NH và người đi vay chủ
động hơn trong việc chi trả lãi
Lãi suất thả nổi:
Trường hợp này lãi suất sẽ thay đổi theo cung-cầu của thị trường Trong thời hạn cho vay, lãi suất có thể tăng hoặc giảm phụ thuộc vào thị trường Do đó, cả
NH lẫn KH đều có thể tăng hoặc giảm lợi nhuận cũng như những rủi ro khác mà
khó có thể kiểm soát được
1.1.2.4 Căn cứ vào loại tiền cho vay
Lãi suất nội tệ: Lãi suất áp dụng cho đồng tiền đi vay (cho vay) là đồng
nội tệ
Lãi suất ngoại tệ: Lãi suất áp dụng cho đồng tiền đi vay (cho vay) là đồng
ngoại tệ
1.1.3 Vai trò của lãi suất trong nền kinh tế
Lãi suất là một công cụ nhạy cảm trong việc điều hành CSTT, điều tiết nền kinh tế
vĩ mô Với công cụ lãi suất trong tay, Nhà nước có thể mở rộng hay thu hẹp TD, thu hút
huy động vốn, kích thích nền kinh tế phát triển, hay điều chỉnh tỷ lệ lạm phát Tuy tác
động của nó là rõ ràng nhưng bất cứ chính sách điều hành nào cũng có một độ trễ nhất
định Do vậy, điều hành chính sách lãi suất cần một sự tỉnh táo và khéo léo để tránh phải
đối mặt với những hậu quả không mong muốn
Để hiểu được biến số kinh tế quan trọng, phạm trù khá phức tạp này, chúng ta cần
tìm hiểu về mối liên hệ giữa lãi suất với những biến số kinh tế quan trọng khác
1.1.3.1 Lãi suất với đầu tư
Mỗi một đồng vốn chảy vào nền kinh tế đều thúc đẩy nền kinh tế phát triển Vì vậy,
đầu tư là một biến số quan trọng và có ảnh hưởng chặt chẽ đến sự tăng trưởng kinh tế
Một quyết định đầu tư chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó, như đã nói ở
trên, lãi suất thực là một trong những yếu tố chủ yếu NĐT có quyết định đầu tư hay
không phụ thuộc vào thu nhập thực tế nhận được sau quá trình đầu tư ( Lợi nhuận sau khi
Trang 24loại trừ tỷ lệ lạm phát và các chi phí phát sinh) có thỏa mãn nhu cầu và phù hợp với dự
tính hay không
Ngoài ra, lãi suất còn là giá cả của vốn Vì thế, khi lãi suất tăng, làm giảm lợi
nhuận các dự án đầu tư, hoặc có thể làm dự án lỗ Do đó, lãi suất chính là chi phí cơ hội
của đầu tư, nên khi chi phí cơ hội thấp thì đầu tư tất yếu sẽ tăng và ngược lại Như vậy,
đầu tư và lãi suất là hai biến số có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau, có thể biểu thị bằng đồ
thị
Hình 1.1 Mối quan hệ giữa lãi suất và đầu tư
1.1.3.2 Lãi suất với tiết kiệm và tiêu dùng
Thu nhập của một cá nhân hay hộ gia đình luôn bao gồm hai thành phần là tiết
kiệm và chi tiêu Tỷ lệ của hai thành phần này thay đổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố ( thu
nhập, sở thích, nhu cầu hay một số sự kiện đặc biệt…) và một yếu tố quan trọng hơn nữa,
đó chính là lãi suất
Khi lãi suất tiền gửi cao thì người dân sẽ tăng gửi tiền tiết kiệm vào NH lấy lãi và
ngược lại, tiêu dùng sẽ giảm Tương tự, nếu lãi suất tiền gửi thấp, tiêu dùng tăng và tiết
kiệm sẽ giảm
1.1.3.3 Lãi suất với lạm phát
Lãi suất và lạm phát là hai biến số có quan hệ chặt chẽ với nhau Lạm phát là một
trong những biến số cần sự kiểm soát của NHNN và là một trong những mục tiêu quan
trọng của CSTT Do vậy, lãi suất là một công cụ hiệu quả giúp điều tiết CSTT và trong
đó có chỉ số tiêu dùng CPI
Khi lạm phát tăng cao, nhằm thu hẹp TD, NHNN sẽ tăng lãi suất tái chiết khấu,
buộc các NHTM phải tăng lãi suất chiết khấu cũng như các lãi suất TD khác, dẫn đến lạm
phát giảm Ngoài ra, do lãi suất tái chiết khấu tăng, để duy trì nguồn vốn, NHTM phải
tăng lãi suất huy động, dẫn đến giảm số lượng tiền lưu thông, điều này cũng góp phần
Trang 25kiềm chế lạm phát Quan điểm này cũng đã được minh chứng cả trong lý luận lẫn thực
tiễn
1.1.3.4 Lãi suất với tỷ giá
Khi lãi suất nội tệ tăng nhanh hơn lãi suất ngoại tệ thì tỷ giá giảm, tức đồng nội tệ
lên giá Ngược lại, tỷ giá sẽ tăng nếu lãi suất đồng nội tệ giảm nhanh hơn lãi suất ngoại
tệ
Mối liên hệ mật thiết trên giữa lãi suất và tỷ giá được thể hiện qua phương trình:
i D = i F + ∆e e
Trong đó: i D là lãi suất nội tệ, i F là lãi suất ngoại tệ, ∆e e là tỷ lệ tăng tỷ giá dự tính
của đồng ngoại tệ (GS.TS Nguyễn Văn Tiến [2012], tr 256)
1.1.3.5 Lãi suất với sự phân bổ vốn
Trong kinh doanh, các chủ thể kinh tế luôn đứng trước nhiều sự lựa chọn, đầu tư
mua sắm hay gửi tiền NH, vay tiền để đầu tư hay sử dụng nguồn vốn CSH, lưỡng lự giữa
các yếu tố đầu vào có thể thay thế lẫn nhau, chính vì thế chúng ta cần lựa chọn và đưa
ra quyết định đầu tư sao cho hiệu quả bởi vì nguồn lực là có hạn Và lãi suất là một trong
những yếu tố giúp NĐT có thể đưa ra quyết định trong việc phân bổ nguồn vốn
Bằng cách xem xét phần chênh lệch giữa LN và CP phải bỏ ra, chúng ta có thể lựa
chọn cơ hội đầu tư nào là hiệu quả Và lãi suất ở đây đóng vai trò như là giá cả Giữa hai
sự lựa chọn có thể thay thế lẫn nhau, thì đầu tư vào “hàng hóa” có “giá cả” thấp hơn sẽ
nhận được lợi tức lớn hơn, nghĩa là việc phân bổ nguồn lực sẽ hiệu quả hơn
1.1.3.6 Lãi suất với NHTM
NHTM là một trung gian tài chính giúp dẫn vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu Và lãi
suất là một công cụ giúp NHTM có thể hoạt động hiệu quả và trôi chảy Một mức lãi suất
huy động hợp lý sẽ giúp thu hút người dân gửi tiền nhàn rỗi vào NH để hưởng lãi Và
một mức lãi suất cho vay phải cao hơn lãi suất huy động để mang lại lợi nhuận cho NH
cũng như bù đắp những rủi ro, nhưng vẫn phải phù hợp, không quá cao để người dân có
thể lựa chọn hình thức vay tiền NH thay vì những phương án khác
Như vậy, với công cụ lãi suất, thông qua NH có thể thu hẹp, hay mở rộng TD, góp
phần điều tiết nền kinh tế theo mục tiêu của CSTT
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TỰ DO HÓA LÃI SUẤT
Trang 261.2.1 Khái niệm cơ chế điều hành lãi suất
Ở mỗi Quốc gia, tùy thuộc vào địa vị pháp lý của NHTW, mục tiêu của CSTT và
các biến số kinh tế vĩ mô khác…, mà NHTW sẽ sử dụng những cơ chế điều hành lãi suất
phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế-xã hội
Cơ chế điều hành lãi suất có thể hiểu là tổng hợp những biện pháp, công cụ hay
chính sách cụ thể được NHTW sử dụng nhằm điều tiết lãi suất trên thị trường hướng theo
mục tiêu của CSLS, hay rộng hơn là CSTT sao cho phù hợp với từng thời kỳ kinh tế khác
nhau
Ngoài ra, quá trình tự do hóa lãi suất còn là hạt nhân của quá trình tự do hóa tài
chính, do đó để cho phù hợp với bối cảnh và áp lực hội nhập, quá trình tự do hóa lãi suất
sẽ diễn ra là một phần trong lộ trình tự do hóa tài chính, và mỗi quốc gia sẽ có một lộ
trình phù hợp cho riêng mình
1.2.2 Các cơ chế điều hành lãi suất thông dụng ở Việt Nam và thế giới
1.2.2.1 Cơ chế kiểm soát trực tiếp
Cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp thường sử dụng những chính sách và các công
cụ hành chính cứng nhắc Vì thế, cơ chế điều hành lãi suất này thường chỉ phù hợp và
được áp dụng phổ biến ở những đất nước có hệ thống tài chính chưa phát triển Với cách
thức điều hành này, NHTW sẽ quản lý trực tiếp lãi suất, hướng lãi suất đi theo đúng con
đường đã định trước, phù hợp với các mục tiêu của CSTT
Các cơ chế điều hành lãi suất trực tiếp phổ biến:
Cơ chế ấn định lãi suất: Lãi suất cố định được NHNN công bố và buộc tất
cả các NHTM và các TCTD phải áp dụng một cách tuyệt đối
Cơ chế khống chế lãi suất: Khác với cơ chế ấn định lãi suất, NN quản lý
trực tiếp lãi suất bằng cách đưa ra trần và sàn lãi suất, tức là lãi suất tối đa và
lãi suất tối thiểu Tùy theo từng bối cảnh kinh tế-xã hội và mục tiêu khác mà
NN có thể áp dụng đồng thời cả trần và sàn lãi suất hoặc một trong hai
1.2.2.2 Cơ chế tự do hóa lãi suất
Cơ chế tự do hóa lãi suất hay còn gọi là cơ chế kiểm soát lãi suất gián tiếp NN sẽ
quản lý lãi suất lỏng lẻo hơn bằng các công cụ kiểm soát gián tiếp thông qua NHTM và
các TCTD khác
Trang 27Bằng cách ấn định lãi suất tái chiết khấu hay tái cấp vốn và các lãi suất TD khác
của NHNN đối với các TCTD Còn lãi suất huy động cũng như các lãi suất TD đối với
dân chúng sẽ do NHTM tự ấn định dựa theo cung-cầu thị trường, lạm phát, bối cảnh kinh
tế-xã hội, lãi suất trên thị trường Quốc tế,…
Cụ thể hơn, với cơ chế tự do hóa lãi suất, Nhà nước sẽ tận dụng những công cụ
kiểm soát gián tiếp mang tính định hướng thị trường như dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết
khấu, nghiệp vụ thị trường mở, hợp đồng mua lại,…
Dự trữ bắt buộc: Là tỷ lệ phần trăm mà các NHTM phải giữ lại trên số dư
vốn huy động của mình nhằm hạn chế rủi ro Đây cũng là một công cụ của CSTT Với dự trữ bắt buộc, nếu tăng, tức là NHTW muốn thu hẹp TD, hạn chế khả năng cho vay của các NHTM, buộc các NHTM phải tăng lãi suất cho vay Còn nếu giảm dự trữ bắt buộc, NHTW đang muốn mở rộng TD, đẩy mạnh tăng trưởng, dẫn đến hạ lãi suất cho vay
Lãi suất tái chiết khấu: Như đã giới thiệu ở trên, việc tăng hay giảm lãi
suất tái chiết khấu của NHTW cũng góp phần thu hẹp hay mở rộng TD, dẫn đến tăng hay hạ lãi suất cho vay
Nghiệp vụ thị trường mở: Đây là hình thức mua bán chứng khoán của
NHTW trên thị trường tiền tệ Khi NHTW bán ra chứng khoán có giá sẽ làm giảm cung tiền và làm tăng lãi suất Ngược lại, nếu NHTW mua vào chứng khoán co giá, điều này sẽ kích thích cung tiền tăng lên và làm cho lãi suất trên thị trường tiền tệ giảm
Hợp đồng mua lại: là hợp đồng bán chứng khoán cho một người môi giới,
người này sẽ đồng ý bán lại số chứng khoán này vào một thời điểm nhất định với giá thỏa thuận tại thời điểm ký hợp đồng Hợp đồng mua lại thường
sử dụng trong thời gian ngắn, thường là một ngày, tuy nhiên cũng có trường hợp nhiều hơn một ngày Khoảng chênh lệch giữa giá vào thời điểm ký hợp đồng và giá vào thời điểm mua lại chính là lợi nhuận nhận được Thực chất hợp đồng mua lại là hình thức cho vay có đảm bảo và tài sản thế chấp ở đây
là các chứng khoán có giá
Cơ chế tự do hóa lãi suất phù hợp với những nước có hệ thống tài chính phát triển
NN chỉ đóng vai trò định hướng cho lãi suất theo mục tiêu của CSTT và để cho lãi suất
phản ánh đúng nhu cầu của thị trường
Trang 281.2.3 Lộ trình và điều kiện đi đến tự do hóa lãi suất
Khi nền kinh tế-tài chính thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ và sâu rộng, thì cơ
chế điều hành lãi suất các nước tất yếu sẽ dần được tự do hóa để phù hợp với tiến trình
hội nhập Tuy nhiên, tự do hóa lãi suất đối với các nước đang phát triển, hay có hệ thống
tài chính còn non yếu, quả là một thử thách
Chính vì thế, tự do hóa lãi suất cần đi theo một trình tự hợp lý, tránh gây ra những
đổ vỡ to lớn Trước hết, để tự do hóa lãi suất, các nước đang phát triển cần có những
động thái khéo léo để chuyển mình từ kiểm soát trực tiếp sang kiểm soát gián tiếp Sau
đây là một số điều kiện cần, tuy không hẳn là tất cả nhưng là cơ bản để có thể tự do hóa
Các biến số kinh tế ổn định, CSTT không quá nhiều mục tiêu cần giải quyết
Người dân, DN, NH đã quen với cơ chế thị trường, tránh những xáo trộn,
mất ổn định về tâm lý
Nói về mặt lý thuyết, có vẻ như để tự do hóa lãi suất rất đơn giản Tuy nhiên, để
bước vào quá trình tự do hóa lãi suất một cách thuận lợi và không gặp nhiều rủi ro, thì
nền kinh tế-xã hội nước nhà, hệ thống tài chính, cơ cấu NH, lòng tin và tâm lý của người
dân,…phải mạnh và vững Tất cả đều là những bước đệm quan trọng để một nước đang
phát triển có thể thuận lợi tiến đến tự do hóa lãi suất, mà không gặp phải những thất bại
hay những bước đi sai lầm đáng tiếc Tự do hóa lãi suất nói riêng và tự do hóa tài chính
nói chung là cả một quá trình gian nan, góp nhặt từng thời cơ chứ không thể tiến hành
quá gấp gáp, hay nôn nóng, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển, trong đó có
Việt Nam
1.2.4 Ưu nhược điểm của tự do hóa lãi suất
1.2.4.1 Ưu điểm
Trang 29Tự do hóa lãi suất là một xu hướng tất yếu, vì lẽ đó, bản thân nó sẽ mang lại nhiều
lợi ích cho nền kinh tế-tài chính nước nhà
Dựa theo nghiên cứu “Tại sao phải tự do hóa lãi suất?” của Trường Đại học kinh tế
Quốc dân, thì lãi suất được thả nổi sẽ mang lại những mặt tích cực sau:
Đảm bảo điều chỉnh tự động và tức thì, do đó giảm rủi ro đối với những sai lầm về chính sách
Truyền tải các tín hiệu chính sách và tác động tới tất cả các bộ phận của nền kinh tế
Đảm bảo việc phân bổ tiền tệ và TD tối ưu trên cơ sở lãi suất, mức độ rủi ro tương đối và LN thu được
Đảm bảo nhất quán giữa CSTT, ngân sách và tỷ giá
Làm cho áp lực thị trường tiền tệ thể hiện rõ tức thì
Hỗ trợ và bổ sung cho việc quản lý tỷ giá hối đoái
Làm giảm sự nhạy cảm chính trị đối với những thay đổi lãi suất
Cho phép NHTW rút về sau thị trường mà không mất khả năng kiểm soát
Trên đây là những lợi ích trước mắt cũng như như cái hay lâu dài ta sẽ có được, và
đó cũng chính là lý do vì sao các nước nên tự do hóa lãi suất Đó không chỉ đơn thuần là
cái lợi nên ta phải theo, mà nó là một xu hướng tất yếu và khách quan, buộc ta phải thay
đổi để tiến sâu vào quá trình hội nhập, tiến sâu vào thị trường thế giới để cùng nhau phát
triển
1.2.4.2 Nhược điểm
Bên cạnh những tích cực mà tự do hóa lãi suất mang lại, quá trình này cũng tiềm
ẩn không ít rủi ro Tự do hóa có thể gây ra sự mong manh, dễ vỡ về tài chính do những
yếu kém vẫn còn tồn tại nhiều ở các nước đang phát triển
Ngoài ra, lãi suất là một công cụ của CSTT, do đó, khi chuyển từ kiểm soát trực
tiếp sang tự do hóa lãi suất, NN đã mất đi một công cụ đắc lực để hỗ trợ điều tiết nền
kinh tế
Thêm vào đó, khi lãi suất được tự do hóa sẽ xuất hiện sự cạnh tranh giữa các ngân
hàng không tương xứng, có thể làm tổn thương các ngân hàng nhỏ hơn và thậm chí đẩy
một trong số đó ra khỏi vòng xoáy kinh doanh
Trang 30Tóm lại, nền kinh tế, hệ thống tài chính có thể gặp khủng hoảng nếu mắc những
sai lầm trên con đường tiến đến tự do hóa lãi suất Về những sai lầm yếu kém này sẽ
được phân tích sâu hơn ở phần sau trong chương II_Thực trạng chính sách lãi suất ở Việt
Nam
1.3 MỤC TIÊU TỰ DO HÓA LÃI SUẤT ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Không nằm ngoài xu hướng chung, Việt Nam cũng đã và đang dần hoàn thiện mọi
mặt để sẵn sàng tiến đến tự do hóa lãi suất Tự do hóa lãi suất là hạt nhân của tự do hóa
tài chính và tự do hóa tài chính lại là tất yếu của quá trình tự do hóa toàn cầu Vì vậy, tự
do hóa lãi suất sẽ là một trong những bước đi giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn với thị
trường thế giới, nhất là trong lĩnh vực tài chính Không những đối với các nước đang phát
triển khác trên thế giới, mà đối với Việt Nam, tự do hóa lãi suất cũng mang đến nhiều lợi
ích và có những nguyên nhân tất yếu đưa Việt Nam đến gần hơn với quy luật của thị
trường
Thứ nhất, lãi suất được xem là giá cả Vì thế, tự do hóa lãi suất là để cho “giá cả”
được vận động theo cơ chế thị trường Điều này giúp “thuận mua, vừa bán”, vừa được
lòng KH, lại vừa được ý các NH Quá trình dẫn vốn sẽ từ đó mà hoạt động một cách linh
hoạt hơn, sâu hơn và hiệu quả hơn
Thứ hai, tự do hóa lãi suất sẽ giúp lãi suất đi sát hơn với thị trường và gần hơn với
lãi suất trên thị trường thế giời, từ đó thu hút nguồn vốn huy động cả trong và ngoài
nước, hạn chế được nợ nước ngoài, nguồn vốn huy động dồi dào đẩy mạnh hoạt động đầu
tư, góp phần thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, tự do hóa lãi suất đảm bảo được tính linh động nhanh chóng, tránh những
vướng mắc mâu thuẫn trong chính sách Với cơ chế kiểm soát trực tiếp, NN không thể
phân bổ nguồn vốn hiệu quả cho hàng ngàn nhu cầu phát sinh, trong khi nguồn lực không
phải là vô hạn Do đó, tốt nhất hãy để thị trường tự quyết định
Thứ tư, theo quan điểm của Mc Kinnon và Shaw thì biểu hiện của một nền kinh tế
có cơ chế kiềm chế tài chính là: huy động vốn chủ yếu và sự thiếu hụt vốn; phân bổ vốn
không hiệu quả, sự tồn tại của thị trường tài chính phi chính thức Ông còn cho rằng kiềm
chế tài chính, bóp méo thị trường gây ra những cản trở cho sự tăng trưởng và phát triển
nền kinh tế
Trang 31Thứ năm, Việt Nam bước vào hội nhập Quốc tế, cơ chế kiểm soát lãi suất trực
tiếp đã lộ ra không ít nhược điểm:
Việc quản lý trực tiếp lãi suất làm tăng số lượng NH chính sách và và
TCTD phi chính thức, làm suy giảm chức năng trung gian tài chính của hệ thống NHTM
Kiểm soát chặt chẽ một biến số quá phức tạp có thể xuất hiện sự kém cỏi
trong quản lý Mặt khác, hễ thứ gì đó bị kiềm kẹp quá gắt gao, tự khắc sẽ có lách luật Các tổ chức kinh tế cũng như TCTD sẽ cạnh tranh và hoạt động không lành mạnh, hay nằm ngoài hoạt động chính thức
McKinnon (1973,1991) cũng ủng hộ quan điểm, tự do hóa lãi suất hoạt
động tốt trong môi trường cạnh tranh Vì thế, kiểm soát lãi suất trực tiếp sẽ kiềm hãm sự cạnh tranh trong hệ thống NH
Trong quá trình đổi mới, nước ta đã từng thả nổi lãi suất, từng chạm đến rất gần
với cơ chế thị trường Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế vĩ mô và một số nguyên nhân khác
nên NN ta quyết định quay lại với việc khống chế lãi suất vào năm 2008, đưa vào cơ chế
lãi suất mới, cơ chế kiểm soát bằng lãi suất cơ bản Hiện nay, mỗi ngày những tranh luận
xung quanh vấn đề ‘khi nào sẽ tự do hóa lãi suất’ vẫn tốn không ít giấy mực của báo chí
và Việt Nam vẫn đang chờ đợi thời cơ chín muồi để có thể tự do hóa lãi suất Trong thời
gian này, Việt Nam đang cố gắng hoàn thiện và cải cách những thiếu sót, đến đúng thời
cơ, tất yếu sẽ tự do hóa
1.4 KINH NGHIỆM TỰ DO HÓA LÃI SUẤT VỚI CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
Việt Nam tuy đã hội nhập hơn hai thập kỷ qua, nhưng vẫn là một nước đi sau
trong vấn đề tự do hóa tài chính nói chung và tự do hóa lãi suất nói riêng Có thể nói đây
là cơ hội để Việt Nam có thể nhìn nhận những người bạn đi trước và lựa chọn cho mình
một lộ trình và hướng đi phù hợp, hạn chế tối đa những rủi ro do quá trình tự do hóa lãi
suất có thể mang lại
Con đường tự do hóa lãi suất cũng đã ghi dấu thành công của nhiều nước như Đài
Loan, Singapore; và cũng có những nước lâm vào khủng hoảng như Phillipine,
Chille, Achentina,… Tuy nhiên, bài học kinh nghiệm nhận được từ các nước có nhiều
điểm tương đồng với Việt Nam như các nước ở châu Á, và những điểm hay trong quá
Trang 32trình tự do hóa lãi suất của các nước châu Mỹ Latinh sẽ giúp ích nhiều cho Việt Nam
trong bối cảnh hiện nay
Những năm 80, hầu như các nước đều áp dụng cơ chế kiểm soát lãi suất trực tiếp
Ấn định một mức lãi suất cố định, lập khung khống chế lãi suất như trần cho vay hay sàn
huy động, hoặc những hình thức tương tự là những chính sách phổ biến của NHNN các
quốc gia vào thời gian này
Nhận thấy nhiều bất lợi trong cơ chế này, vào những năm 80-90, các nước dần dần
chuyển sang tự do hóa lãi suất để phù hợp hơn với bối cảnh thị trường tài chính thế giới
phát triển nhanh chóng Tuy nhiên, thành công hay thất bại, và cả việc thành công ở mức
độ nào cũng không giống nhau Hần hết xác suất thành công đều phụ thuộc đến nhiều yếu
tố như trình tự, cách thức tự do hóa; khuôn khổ Pháp lý, hệ thống Ngân hàng và môi
trường cạnh tranh,…
Sau đây là một số bài học kinh nghiệm rút ra từ những trải nghiệm của các nước
bạn, chắc hẳn nó sẽ giúp ích nhiều cho con đường tự do hóa lãi suất ở Việt Nam
(Nguồn: Dịch từ MDE )
1.4.1 Chính sách tự do hóa tuần tự:
Để tự do hóa lãi suất, mỗi quốc gia đã chọn cho mình một cách đi riêng, đặc trưng
là hai chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” và tự do hóa dần dần và tuần tự
Tuy nhiên, lựa chọn chính sách tự do hóa nhanh chóng, vội vàng với mong muốn
đến được với tự do hóa lãi suất trong thời gian ngắn có vẻ không mấy thực tiễn Bài học
của các nước châu Mỹ La Tinh, những nước áp dụng chiến lược tự do hóa lãi suất nhanh,
đã chỉ ra rõ ràng rằng việc để tiến đến tự do hóa lãi suất trong một thời gian ngắn là rất
khó khăn, trong khi vẫn còn tồn tại những hạn chế trong cơ cấu như nền kinh tế vĩ mô
mất cân bằng, hệ thống tài chính, quản lý, giám sát không đủ nguồn lực, và những khuôn
khổ cứng nhắc, đó là những đặc trưng luôn hiện hữu ở những nước đang phát triển
Chính vì thế, bài học cho các nước đang phát triển nằm ở chiến lược đạt mục tiêu
một cách dần dần và tuần tự của các nước như Hàn Quốc và Indonesia, trong cuộc khủng
hoảng ở châu Á vào những năm 90 Sự kiện này đã cho thấy để tự do hóa lãi suất thành
công, Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác nên có những trình tự hợp lý và
đầy đủ để không xuất hiện những bất ổn về tài chính, khả năng thành công sẽ cao hơn so
với việc quá nôn nóng để đạt được mục tiêu
Trang 331.4.2 Nền kinh tế vĩ mô mất cân bằng và ổn định:
Như đã nói ở trên, các nước đang phát triển tiến đến tự do hóa lãi suất trong khi
nền kinh tế vĩ mô bất ổn là một điều rất nguy hại Theo nghiên cứu của trang web
mde.edu.vn thì trong nền kinh tế vĩ mô mất cân bằng, lãi suất thực cao sẽ có ảnh hưởng
nhỏ đến hành vi tiết kiệm của cá nhân Vấn đề có thể trở nên xấu hơn trong trường hợp
lãi suất thực cao sẽ tác động đến sự phân phối lại đáng kể trong thu nhập, từ con nợ trở
thành chủ nợ Nghiên cứu cũng cho thấy sự xuất hiện các vấn đề nợ xấu cộng với sự sẵn
sàng tiết kiệm có thể dẫn đến tình trạng mất cân bằng nền kinh tế vĩ mô, điều này dẫn đến
sự căng thẳng về tài chính và đẩy lãi suất thực lên cao
1.4.3 Giám sát cẩn thận và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý:
Giám sát nghiêm ngặt và quy định đầy đủ về khuôn khổ Pháp lý là hai vấn đề cần
chú trọng và tăng cường trong các hoạt động của NH và thị trường TD nhằm giảm thiểu
rủi ro Các nghiên cứu cho thấy rằng sức khỏe ngành NH là quan trọng và sẽ hiệu quả
hơn trong công tác cải cách chính sách lãi suất, hạn chế rủi ro bất ổn về tài chính
1.4.4 Môi trường cạnh tranh trong NH:
Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, môi trường cạnh tranh không lành mạnh trong
ngành NH và việc cấp TD quá dễ dãi là nguyên nhân gây nên nợ xấu phổ biến ở những
nước đang phát triển Nghiên cứu trên MDE còn cho thấy, điều này có liên quan đến việc
giám sát không hiệu quả trong NH Tuy nhiên, những vấn đề này vẫn chưa hoàn toàn giải
thích được vấn đề nợ xấu Đó còn do tình trạng nền kinh tế vĩ mô mất cân bằng và chính
sách tự do hóa chưa được hoàn thiện
McKinnon (1973,1991) đưa ra một lời khuyên rằng tự do hóa lãi suất sẽ được đảm
bảo tốt hơn trong môi trường NH cạnh tranh, và thực tế, điều này đã được minh chứng
trong thực tiễn các nước châu Mỹ Latinh và châu Á
1.4.5 Trình tự tự do hóa tài khoản vốn:
Thả nổi lãi suất và tự do hóa dòng vốn là một phần của chính sách cải cách kinh
tế Tuy nhiên, MDE cho rằng, việc tăng lên các dòng vốn trong thị trường vố của NH
(trường hợp phổ biến ở các nước đang phát triển) có thể tạo ra “bong bóng” nền kinh tế
Trang 34và méo mó giá vốn, kinh nghiệm đã được minh chứng ở các nước châu Mỹ Latinh và
châu Á Thông qua tình trạng lãi suất không ổn định, tự do hóa các dòng vốn có thể phá
vỡ sự cân bằng của nền kinh tế vĩ mô, tỷ giá hối đoái, tài khoản vốn và cán cân thanh
toán Kết quả của sự bất ổn kinh tế vĩ mô có thể ngăn cản mục tiêu tự do hóa lãi suất Xác
suất thành công cũng từ đó mà tiêu tan
1.4.6 Vấn đề phân phối TD:
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường khó khăn để tiếp cận được vốn, kinh nghiệm
của các nước phát triển là thường có những TCTD của Chính phủ để bù đắp những khoản
này Tuy nhiên, việc hỗ trợ lãi suất và yếu kém trong quản lý lại tạo nên gánh nặng về chi
phí
Ngoài ra, với các nước đang phát triển, vẫn thường tồn tại tình trạng, những doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh, tạo nhiều công ăn việc làm mới và đem về nhiều lợi nhuận
thì khó tiếp cận được vốn TD, trong khi những doanh nghiệp Nhà nước hiệu quả đầu tư
thấp thì tiếp cận vốn rất dễ dàng Do đó, vốn cần được được phân bổ theo nguyên tắc
công bằng bởi thị trường thay vì phân bổ bởi Chính phủ
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Việt Nam đã mở cửa và hội nhập Quốc tế một thời gian dài, và khoảng thời gian
đó là minh chứng rõ ràng nhất cho những nỗ lực mà Việt Nam đã đặt ra để hội nhập
thành công Trong các chính sách nhằm tự do hóa, thì tự do hóa lãi suất là một trong
những trình tự cần thiết và quan trọng để Việt Nam có thể tiến sâu vào thị trường thế
giới, nhất là trong lĩnh vực tài chính Và đó cũng là một xu hướng tất yếu mà Việt Nam
nói riêng và các nước đang phát triển nói chung cần điều chỉnh để phù hợp với sự phát
triển ngày càng mạnh mẽ và sâu rộng của thị trường tài chính thế giới
Việc giảm dần sự can thiệp của Chính phủ lên công cụ lãi suất là rất cần thiết
Không chỉ Việt Nam, mà các nước đang phát triển khác cũng vậy, tự do hóa lãi suất
mang lại nhiều lợi ích và cũng không ít rủi ro Vì thế, Việt Nam nên tận dụng cơ hội là
người đi sau, tiếp thu và học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển cũng như các nước
đang phát triển có nhiều điểm tương đồng với ta
Ngoài ra, Việt Nam cần chọn cho mình một phương án phù hợp Chính sách tự do
hóa một các tuần tự và dần dần là hợp lý đối với điều kiện của Việt Nam Và để xác suất
đạt được mục tiêu cao, chúng ta cần phải cải cách và đổi mới một số vấn đề vẫn còn tồn
động trong ngành NH cũng như nền kinh tế vĩ mô
Với chương I của đề tài, người đọc có thể hiểu được vai trò của công cụ lãi suất
đối với nền kinh tế, những lý do khách quan mà Việt Nam cần phải tự do hóa lãi suất
Thêm vào đó là những cơ chế điều hành lãi suất phổ biến và những bài học kinh nghiệm
dành cho Việt Nam cũng như các nước đang phát triển
Chương II của đề tài sẽ phân tích những thực trạng và tình hình điều hành lãi suất
ở Việt Nam Nguyên nhân của chính sách khống chế lãi suất hiện nay và Việt Nam đang
đứng đâu trên con đường tự do hóa lãi suất Liệu thời cơ chín muồi đã đến?
Trang 36CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT Ở VIỆT
NAM (1986-11/2012)
2.1 BỐI CẢNH CHUNG CỦA VIỆT NAM
Sau khi giành được chủ quyền dân tộc, Việt Nam đã phải trải qua một thời kỳ khó
khăn để khắc phục những hậu quả do chiến tranh để lại Xuất phát điểm thấp, cộng với sự
tàn phá của chiến tranh đã làm cho khoảng cách lạc hậu của Việt Nam so với các nước
khác trên thế giới ngày càng xa Thêm vào đó là những sai lầm, yếu kém trong quản lý đã
đưa Việt Nam đến với cơn khủng hoảng những năm trước 1986 Ngày nay, trải qua bao
thăng trầm lịch sử, bao chính sách đổi mới của Nhà nước, Việt Nam đã gia nhập và là
thành viên của nhiều tổ chức kinh tế như AFTA, WTO, APEC, ASEAN, FAO
Việc mở cửa và gia nhập vào các tổ chức kinh tế Thế giới là những quyết định
không hề dễ dàng, nếu không nói là Việt Nam đã quá thận trọng Mở cửa và hội nhập
Quốc tế trong bối cảnh bất ổn trong nền kinh tế có thể khiến Việt Nam phải gánh lấy
những hậu quả khôn lường, nhưng nếu đóng cửa, “tự sinh tự diệt” có lẽ Việt Nam còn
phải đối mặt với những khó khăn, khủng hoảng trầm trọng hơn nữa Ý thức được điều đó
cùng với sự thất bại trong quản lý những năm đầu sau chiến tranh, NN đã đưa ra kế
hoạch phục vụ cho việc đổi mới tư duy Trung ương, nổi bật là kết quả Hội nghị Trung
ương 6 khóa IV đã giúp nền kinh tế Việt Nam lúc bấy giờ có một chút khởi sắc, thể hiện
trong sự tăng trưởng GDP Tuy nhiên, Việt Nam lại phải đối mặt với những thách thức
mới sau những sai lầm trong tổng điều chỉnh giá-lương-tiền đó là tỷ lệ lạm phát tăng lên
rất cao vào năm 1986.(Wikipedia)
Trang 37Hình 2.1 Diễn biến lạm phát ở Việt Nam thời kỳ 1980-2010 (%)
(Nguồn: Wikipedia, Wikipedia dựa theo Trần Anh (2011)) Như Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cũng đã từng phát ngôn
tại Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII rằng:“Người ta tìm ra bộ 3 bất khả thi giữa tăng
trưởng, lạm phát và tỉ giá, ông đó được quốc tế cho giải thưởng Nobel Vậy mà hiện nay
chúng ta phải vừa làm sao kiềm chế được lạm phát mà vẫn phải tăng trưởng Tôi đã có
lần nói đùa với Chủ tịch Quốc hội là em chỉ cần nửa giải thưởng Nobel cũng được”.(Dân
trí)
Như vậy, ở các thời kỳ kinh tế, giai đoạn lịch sử khác nhau, có hai mục tiêu vĩ mô
quan trọng mà Nhà nước luôn phải cân nhắc đó là tăng trưởng kinh tế và lạm phát Nhìn
chung, qua các giai đoạn kinh tế, Việt Nam không thể dung hòa được đồng thời cả hai
biến số này, vì thế luôn có sự đánh đổi trong các quyết định của Nhà nước, mà thể hiện rõ
ràng nhất là ở các chính sách lãi suất qua từng thời kỳ
Trong lịch sử phát triển và đổi mới của Việt Nam, có hai bước ngoặc lớn và nổi
bật Đó là sự chuyển tiếp từ thời kỳ kế hoạch hóa tập trung, hay còn gọi là thời kỳ bao
cấp sang cơ chế thị trường, mà lúc bấy giờ vẫn còn hạn chế bằng sự quản lý của Nhà
nước Bước ngoặc thứ hai là cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính 2007-2010 đã ảnh hưởng
không ít đến nền kinh tế Việt Nam, cũng như chính sách điều hành lãi suất của Nhà nước
Trang 38Bằng quyết định số 16/2008/QĐ – NHNN của NHNN, cơ chế điều hành lãi suất của Việt
Nam đã chính thức chuyển từ cơ chế thỏa thuận sang khống chế lãi suất bằng cách áp
trần
Ở giai đoạn chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường từ năm
1986-2006, Việt Nam không ngừng tăng tốc trong việc mở cửa và hội nhập Mục tiêu vĩ
mô lớn nhất lúc bấy giờ có lẽ là kéo Việt Nam ra khỏi sự đình đốn trì trệ sau chiến tranh,
kiềm chế lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và cải thiện GDP Mạo hiểm trong quyết
định mở cửa, gia nhập các tổ chức kinh tế thế giới đã mang đến cho Việt Nam một thời
gian dài khó khăn, tuy nhiên bên cạnh đó cũng gặt hái khá nhiều thành công Tốc độ tăng
trưởng kinh tế, cụ thể là GDP dần được cải thiện và lạm phát cũng được kiềm chế, đỉnh
cao là giai đoạn 1991-1997, GDP duy trì ở mức cao, có thể xem là cao nhất trong suốt
những năm đổi mới ở nước ta giai đoạn 1986-2012, lạm phát tuy vẫn còn cao nhưng đã
giảm nhiều so với giai đoạn trước đó Nước ta đã thoát dần khỏi tình trạng khủng hoảng,
trì trệ, suy thoái, bắt đầu cho những năm đổi mới với những kế hoạch, bước đầu cho công
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hình 2.2 Tăng trưởng GDP thực của Việt Nam giai đoạn 1986-2012
(Nguồn: Wikipedia, Wikipedia lấy theo Trần Anh (2011))
Mở cửa, gia nhập các tổ chức kinh tế lớn của thế giới đồng nghĩa với việc Việt
Nam phải hội nhập Quốc tế trên nhiều lĩnh vực, và quan trọng hơn hết đó là hội nhập về
tài chính Điều này thể hiện rất rõ nét qua lịch sử thay đổi cơ chế điều hành lãi suất ở
nước ta từ năm 1986 đến năm 2000, từ kiểm soát trực tiếp lãi suất, đến khống chế bằng
Trang 39khung, điều chỉnh theo lãi suất cơ bản và cuối cùng đi đến thỏa thuận về lãi suất, Việt
Nam đã thực sự tiến đến rất gần, rất gần với quy luật của thị trường
Giai đoạn “hoàn kim” của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay có thể xem
là giai đoạn 2000-2005 GDP trong giai đoạn này không ngừng tăng trưởng cao và liên
tục, chỉ số giá tiêu dùng CPI cũng tăng rất thấp, theo Ths Hà Thị Hương Lan (2012) thì
đây có thể xem như là giai đoạn thiểu phát
Tuy nhiên, những con số đáng mơ ước này không duy trì được lâu, 2007 có thể
xem là năm mở đầu cho khủng hoảng, Việt Nam rơi vào vòng xoáy của lạm phát một
cách mất ổn định và có tính chu kỳ, mà đỉnh cao là vào tháng 8/2008 (28,23%) và 8/2011
(23,02%) Điều này cũng đã được Ths Hà Thị Hương Lan (2012) nhắc đến trong nghiên
cứu của mình
Đây cũng có thể xem là hậu quả của chính sách nới lỏng tiền tệ, nhằm kích thích
đầu tư và tăng trưởng kinh tế, tất nhiên bên cạnh đó, không thể phủ nhận những thành tựu
Việt Nam đã đạt được Và đây cũng là một nguyên nhân trọng yếu dẫn đến bước ngoặc
thứ hai, Việt Nam đã đi ngược lại với quy luật của thị trường, từ thỏa thuận lãi suất, Việt
Nam đã quay đầu trở lại với con đường khống chế khung lãi suất
Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới vào năm 2007 đã ảnh hưởng đến mọi mặt nền
kinh tế Việt Nam nhiều hơn dự đoán Điều này khiến cho một vài chính sách lúc bấy giờ
không phù hợp Lạm phát tăng trở lại là thách thức lớn cho chính sách lãi suất lúc này
Nhà nước phải ưu tiên chính sách nhằm mục tiêu kiềm chế lạm phát là chính, thay vì tăng
trưởng kinh tế như giai đoạn trước, chỉ giữ tốc độ tăng tăng trưởng ở mức hợp lý
Chính sách thắt chặt tiền tệ vào năm 2008 tuy đã có tác động khá tích cực đến lạm
phát, tuy nhiên lại gây ra khó khăn lớn cho các doanh nghiệp trong việc tiếp cận vốn,
nhiều doanh nghiệp thua lỗ và dẫn đến phá sản hay giải thể (Wikipedia), nợ xấu Ngân
hàng và nhiều hạn chế khác làm cho nền kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn
Năm 2009-2010, Việt Nam được đánh giá là Quốc gia ổn định tốt trong khu vực,
GDP nước ta lúc bấy giờ chỉ đứng sau Trung Quốc, dù những biến số vĩ mô như GDP,
CPI không phải là những con số lý tưởng Việt Nam giai đoạn này có nhiều khởi sắc, lấy
lại sự ổn định, và dự đoán là đang dần vượt qua cơn bão khó khăn thời kì này
Tuy nhiên, lạm phát tăng đỉnh điểm lần hai vào năm 2011, Nhà nước buộc phải
tiếp tục thắt chặt tiền tệ, và lạm phát là mục tiêu vĩ mô quan trọng lúc bấy giờ, vì thế Nhà
nước đã chính thức áp trần lãi suất huy động vào tháng 3/2011
Trang 40Do chính sách thắt chặt tiền tệ, kiềm hãm đầu tư một thời gian dài khiến tốc độ
tăng trưởng kinh tế Việt Nam rất thấp, và thấp hơn cả kế hoạch, dù con số kế hoạch đặt ra
không phải cao Vì thế, dù trong bối cảnh lạm phát vẫn chưa giảm, hay vẫn tăng chậm,
NHNN vẫn đưa ra những chính sách dần nới lỏng tiền tệ, kích thích tăng trưởng tín dụng,
tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận được vốn, và sử dụng vốn hiệu quả Động thái
giảm trần lãi suất từ đầu năm 2012 đến nay quả là những quyết định táo bạo Mặc cho
tranh cãi trong dư luận, những luồng ý kiến trái chiều xung quanh chính sách lãi suất của
Nhà nước, cùng với một thực tế là lạm phát vẫn chưa có dấu hiệu giảm Tuy nhiên, sau
nửa năm đầu 2012, những khởi sắc đầu tiên từ chính sách lãi suất của Nhà nước đã dần
thuyết phục những nhà làm chuyên môn lẫn người dân, ngân hàng và doanh nghiệp
Năm 2012 có thể nói là năm đối mặt với nhiều ảnh hưởng từ chính sách thắt chặt
tiền tệ của Nhà nước, nhiều vấn đề xoay quanh chính sách này được đặt ra và không
ngừng cập nhật trên các phương tiện truyền thông đại chúng; tháo gỡ khó khăn cho doanh
nghiệp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tiếp tục kiềm chế lạm phát và cải cách hệ thống
ngân hàng Bên cạnh đó, vấn đề lớn liên quan đến chính sách lãi suất của NHNN được
đặt ra mỗi ngày đó là, khi nào Việt Nam có thể tự do hóa lãi suất?
Với bối cảnh hội nhập của Việt Nam hiện nay, việc để cho lãi suất tự vận động
theo quy luật cung-cầu, phản ánh đúng nhu cầu của thị trường là một vấn đề hiển nhiên,
không sớm thì muộn Trong tình trạng hệ thống ngân hàng vẫn còn tồn đọng những yếu
kém, ảnh hưởng của lạm phát, khó khăn về vốn của doanh nghiệp, thì việc tự do hoàn
toàn lãi suất có lẽ là mạo hiểm, vì hoàn toàn có thể xuất hiện những bất ổn mà ta không
lường trước được Vì thế cũng không thể trách vì sao Nhà nước vẫn còn thận trọng, chần
chừ trong việc tự do hóa lãi suất
Tự do hóa lãi suất thật sự sẽ mang đến nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam, tuy
nhiên, đó là khi Việt Nam đã sẵn sàng trên mọi phương diện, đủ mạnh mẽ để vượt qua
những khó khăn mà tự do hóa có thể sẽ mang lại, để Việt Nam có thể nhận được trọn vẹn
phần lợi ích của chính sách này mà không phải đánh đổi, hay hy sinh quá lớn cho hậu quả
của nó
2.2 LỊCH SỬ THAY ĐỔI CHÍNH SÁCH LÃI SUẤT Ở VIỆT NAM QUA CÁC
THỜI KỲ