1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học

38 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 38
Dung lượng 891,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác, với kiến thức về ngữ đồng vị người học sẽ dễ nhớ từ và suy luận được ngữ nghĩa của từ trong nội dung bài đọc một cách dễ dàng.. Bài nghiên cứu gồm có 5 chươn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN

ĐÁNH GIÁ TẦM QUAN TRỌNG CỦA KIẾN THỨC VỀ NGỮ ĐỒNG VỊ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Trinh

Phan Thị Kiều Trinh

Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hoài Minh

Trang 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

“…Ngữ đồng vị như một yếu tố cấu thành nên vốn từ vựng của bất cứ ngôn ngữ nào.”

(McCarthy 1990:12)

Theo Shehata (2008), từ “collocation” (ngữ đồng vị) bắt nguồn từ “collocare”,

nghĩa là thứ tự sắp xếp.Theo nhà nghiên cứu Hill (2000:53) trong mọi thứ chúng ta nghe, nói, đọc hoặc viết, thứ chiếm đến 70% nội dung đóchính là một số hình thức của

những cụm từ được sắp xếp với nhau còn gọi là ngữ đồng vị Để biết được ý nghĩa của

một từ hiệu quả nhất, người học cần biết được mối liên hệ của nó với những từ ngữ khác trong một câu Nói cách khác, với kiến thức về ngữ đồng vị người học sẽ dễ nhớ từ và suy luận được ngữ nghĩa của từ trong nội dung bài đọc một cách dễ dàng Ngoài

ra, ngữ đồng vị còn giữ một vai trò quan trọng trong việc tiếp thu một ngôn ngữ và góp phần phân biệt cách diễn đạt về ngôn ngữ giữa người nói bản xứ với những người khác

Một trong những khó khăn trong việc học ngữ đồng vị đó là người học không

có khả năng kết hợp từ Từ khí bắt đầu học ngoại ngữ, người học thường có thói quen chép đi chép lại các từ để nhớ, nhưng họ đã không ý thức được rằng việc học những từ riêng lẻ như vậy sẽ là hình thành nên một thói quen không tốt trong việc học từ vựng, trong khi từ vựng lại là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc học ngoại ngữ Phương pháp học này được rất nhiều người học áp dụng, vì người học không phải trải qua các giai đoạn như đặt câu để tạo ra ngữ cảnh cho từ, hay học những từ thường kết hợp với nhau Nhiều nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học như Bahns & Eldaw (1993), Shei & Pain (2000), Koya (2005), Shehata(2008), Ruzaka; Channell, Putseyes và Ostyn (1981); Allerton (1984) đã cho thấy rằng việc học ngữ đồng vị quả thật là một khó khăn cho người học Người học đã quen với việc học những từ đơn lẻ và ít ý thức đến việc học những cụm ngữ đồng vị (Farghal & Obiedant, 1995) Trong khi đó, vai trò của ngữ đồng vị được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằng rất quan trọng (DeCarrico, 2001; Richards & Rogers, 2001; Schmitt, 2000; 2002; Zimmerman, 1997)

Tuy xác định được tầm quan trọng đócủa ngữ đồng vị, nhưng thực sự những nghiên cứu về dạy và học ngữ đồng vị trong môi trường chuyên ngữ, cụ thể là ngành Tiếng Anh, Khoa Ngoại Ngữ,Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minhchưa được chú trọng Với mục đích tìm hiểu bản chất và tầm quan trọng của ngữ đồng vị đối với học

Trang 3

và phát triển kỹ năng nói chung, kỹ năng Đọc nói riêng, bài nghiên cứu được tiến hành nhằm:

(1) Tổng hợp chi tiết về lý thuyết nền tảng của ngữ đồng vị

(2) Đo lường tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị đối với sinh viên

học ngôn ngữ Từ đó, khẳng định mối liên hệ và mức độ ảnh hưởng của kiến thức ngữ đồng vị với kỹ năng Đọc hiểu

Tóm lại, dựa trên giả thuyết là ngữ đồng vị đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu và phát triển ngôn ngữ, bài nghiên cứu đi sâu vào đặc điểm của ngữ đồng vị và xây dựng phương pháp nhằm kiểm chứng mối quan hệ giữa kiến thức về ngữ đồng vị và kĩ năng đọc hiểu nơi người học.Kết quả của bài nghiên cứu sẽ cung cấp những dữ liệu cụ thể, giúp củng cố định hướng chú trọng giảng dạy ngữ đồng vị nhằm làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình và thành tốt phần thi Đọc hiểu trong kỳ thi

TOEFL (IPT, IBT…)

Bài nghiên cứu đượctiến hànhtừ tháng 11/2012đến tháng 3/2013 tại Khoa Ngoại Ngữ, cơ sở 422 Đào Duy Anh, P.9, Q.Phú Nhuận, TP HCM với mục đích đo lường kiến thức ngữ đồng vị của sinh viên trong môn Đọc hiểu, và đo lường sơ bộ trình độ Đọc hiểu của sinh viên trên bài thi TOEFL giấy Một bài kiểm tra về nghĩa từ vựng độc lập cũng được sử dụng nhằm có cứ liệu để so sánh và đánh giá Kết quả của các bài kiểm tra được đối chiếu để xác định mức độ tương quan.Các bài kiểm tra được tiến hành 1 lần vào ngày 12/03/2013.Đối tượng tham gia khảo sát gồm 113 sinh viên năm nhất đến từ 3 lớp khác nhau, thuộc chuyên ngành Tiếng Anh, Khoa Ngoại Ngữ, trường Đại Học Mở Thành phố Hồ Chí Minh

Bài nghiên cứu gồm có 5 chương, với nội dung được tóm tắt như sau:

- Chương I, nêu lên mục đích và ý nghĩa của bài nghiên cứu được xác định cụ thể

- Chương II, chương cơ sở lý thuyết sẽ cho người đọc nắm bắt đượckiến thức tổng quan và chính xác về ngữ đồng vị (định nghĩa, đặc điểm, phân loại, phân biệt ngữ đồng vị, những vấn đề và chiến lược trong việc học ngữ đồng vị)

- Chương III, với nội dung tập trung vào mô tả phương pháp nghiên cứu của đề tài, bao gồm đối tượng, công cụ và phương pháp phân tích

Trang 4

- Chương IV, nhóm nghiên cứu đưa ra kết quả và bình luận thông qua các bảng số liệu và biểu đồ có được

- Chương V, phần kết luận để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đã đưa ra Từ đó,nhóm nghiên cứu nêu lên những định hướng, đề xuất đối với những nghiên cứu khác liên quan đến đề tài này trong tương lai

Trang 5

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Ngữ đồng vị

2.1.1 Định nghĩa ‘ngữ đồng vị’

Firth (1957), cha đẻ của những nghiên cứu về ngữ đồng vị,định nghĩa ngữ đồng vị là tập hợp liên kết nhất định của các từ.Tương tự hai nhà nghiên cứu Nattinger và

De Carrico (1992) đã sử dụng thuật ngữ “cụm từ vựng” (lexical phrases) để nói đến

hiện tượng đa từ và cho rằng hiện tượng các cụm từ gồm những từ thường kết hợp với nhau xảy ra rất phổ biến trong văn viết và văn nói và chúng là chất liệu ngôn ngữ quan trọng để người học ngoại ngữ có thể phân tích và đi sâu vào các dạng cú pháp và từ vựng.Ellis (1996) nêu một định nghĩa khái quát, ngữ đồng vị là các cấu trúc đa từ hoặc nói một cách khác, là các chuỗi từ lặp lại nhiều lần trong ngôn ngữ.McCarten (2007) cũng cho rằng ngữ đồng vị là những cụm từ gồm hai hay nhiều từ kết hợp thường xuyên với nhau Nhưng những định nghĩa này rất chung chung và có thể gây nhầm lẫn với thành ngữ, từ ghép hoặc cụm kết hợp tự do.Howarth (1996) thì định nghĩa hẹp và

sâu hơn Ông dùng thuật ngữ ngữ đồng vị giới hạn (restricted collocations) để nói về ngữ đồng vị.Để phân biệt với cụm từ kết hợp tùy ý (free combinations), một cụm được

gọi là ngữ đồng vị giới hạn phải đáp ứng hai điều kiện: các từ phải kết hợp có kết cấu tạo thành cụm thông thường, và trong cụm này thì một thành tố được sử dụng không

theo nghĩa gốc và không thể thay thế bằng từ khác.Ví dụ, cụm từ catch a cold đáp ứng

được điều kiện thứ nhất, vì dễ dàng nhận ra là cụm thông thường Đồng thời, cụm từ

này còn đáp ứng điều kiệnthứ hai, từ “catch” không được sử dụng theo nghĩa gốc,khác với từ catch trong cụm catch a butterfly, đây là cụm kết hợp tùy ý O’Dell và

McCarthy (2008), ngữ đồng vị được định nghĩa là một cặp hoặc một nhóm từ thường

được sử dụng chung với nhau Ví dụ, chúng ta nói fast car thay vì quick car, nhưng chúng ta lại sử dụng a quick meal chứ không thể nói afast meal

2.1.2 Phân biệt ngữ đồng vị và các khái niệm tương tự

Theo cách phân biệt Asienstadt (1981), các ngữ đồng vị giới hạn được định nghĩa là một dạng kết hợp từ bao gồm hai hoặc nhiều từ, không có nghĩa thành ngữ, theo các dạng cấu trúc nhất định, bị giới hạn cả về ngữ nghĩa và tính sử dụng Theo Asienstadt (1979), O’Dell vàMachael McCarthy (2010) thì thành ngữ được phân loại

Trang 6

theo nhóm ngôn ngữ có công thức (formulaic) Nhóm ngôn ngữ này được ấn định các

hình thức diễn đạt cố định mà chỉ có thể hiểu và học nó theo một đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh chứ không phải là những từ đơn lẻ Aisenstadt (1979) đưa ra một sốví dụ

điển hìnhface the facts, face the truth, face the problem, face the circumstances và face the music Face the music nghĩa là hứng chịu hậu quả, rõ ràng không thể đoán nghĩa

dựa vào các từ đơn lẻ trong khi các cụm còn lại có thể được xem như ngữ đồng vị vì nghĩa của cụm có thể đoán được dựa vào các từ Hơn nữa, thành ngữ luôn có nghĩa cố định, không thể biến đổi nghĩa bằng cách thay đổi cấu trúc hay thay đổi thành phần cấu tạo Mặt khác, ngữ đồng vị lại có tính linh hoạt và có thể biển đổi theo các dạng khác nhau và các thành phần cấu tạo có thể thay thế được Ví dụ như hai cụm

từcommit a mistake/make a mistake đều có thể sử dụng được

Các kết hợp từ

trong Tiếng Anh

Bảng 2.1:Cách phân loại các cách kết hợp từ trong tiếng Anh (Asienstadt, 1979)

Tiếp theo, để phân biệt được ngữ đồng vị với cụm kết hợp tự do(free combinations), chúng ta có thể hiểu nôm na ngữ đồng vị giới hạn(restricted collocations)là trung gian giữa thành ngữvà cụm kết hợp tự do, chúng không “cứng

nhắc” như thành ngữ nhưng cũng không thể tùy ý kết hợp như cụm kết hợp tự do Aisenstadt (1979) đã đưa ra ví dụ để phân biệt hai khái niệm cụm kết hợp tự do và ngữ

đồng vị giới hạn Ví dụ, từ carry có nghĩa là nâng đỡ một vật nào đóhoặc di chuyển

vật từ nơi này sang nơi khác, từ này có thể kết hợp tùy ý với các danh từ chỉ những vật

có thể được di chuyển như carry abook/bag/chairđể diễn đạt cùng một nghĩa là

“mang” Đó chính là hiện tượng kết hợp tự do Tuy nhiên, carry còn có nghĩa là thuyết phục trong cụm carry conviction và có nghĩa ảnh hướng trong cụm carry weight Ví

dụ này cho ta thấy, cụm kết hợp tự do bao gồm một thành tố có thể kết hợp tự do với nhiều thành tố khác để diễn đạt cùng một nghĩa của từ vựng trong khi ngữ đồng vị giới hạn lại chứa một thành tố mà chỉ có thể kết hợp với một số từ nhất định để diễn đạt

Trang 7

nhiều nghĩa khác nhau khi kết hợp với những từ khác nhau.Nói tóm lại, ngữ đồng vị giới hạn khác với thành ngữ về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, khácvới cụm kết hợp tự do

về giới hạn kết hợp

Ngoài ra, có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các điều kiện phân biệt khác, như các nhà nghiên cứu Nattinger, DeCarrico (1992) và Carter (1987)đúc kết được ba đặc điểm để phân biệt thành ngữ, ngữ đồng vị và cụm kết hợp tự do đó là: (1) tính linh

hoạt (flexible), (2) tính cấu thành (institutionalized), (3) tính cấu trúc ngữ pháp (grammatical) Họ đã đưa ra một chuỗi các kết hợp từ mà một phía là các cụm từ bất

biến, phía còn lại là các hình vị kết hợp tự do và tất cả tính kết hợp linh hoạt xảy ra ở phần giữa

Thành ngữ Ngữ đồng vị Kết hợp ngữ Cụm kết hợp tự do

Từ đầu chuỗi nàyta thấy thành ngữ là cụm hoàn toàn không có tính cấu thành

và tính cấu trúc cú pháp Rõ ràng các cụm theblack sheep (đứa con vô tích sự) hoặc spill the beans (giữ bí mật) không thể đoán nghĩa được từ các thành phần từ cấu thành

Còn ở vị trí đầu bên kia của chuỗi là các kết hợp ngữ tự do, có thể dễ dàng hiểu được

nghĩa đen của từ dựa vào các phần tử chẳng hạn như see the river Cuối cùng, ở vị trí giữa chuỗi là ngữ đồng vị và kết hợp ngữ (colligations) với mức độ trung gian giữa

thành ngữ và cụm kết hợp tự do về các thuộc tính

Cowie (1994) cũng là một trong những nhà nghiên cứu về kết hợp ngữ Ông đưa ra các định nghĩa rất chính xác giúp nhận biết được ngữ đồng vị và phân biệt được

với các khái niệm khác Kết hợp ngữ có hai loại, một là composites, hai là formulae Formulae là sự kết hợp từ chủ yếu có tính kết hợp nhất định cao chẳng hạn như “How are you?”, “Good morning” (Cowie,1994) Còn ngữ đồng vị thuộc về nhóm composites, nghĩa là chúng có thể kết hợp linh hoạt hơn nhóm formalae Sau đó,

Cowie tiếp tục thiết lập nên hai điều kiện để phân biệt ngữ đồng vị với các khái niệm

khác, đó là tính trong suốt (transparency) và tính thay thế (commutability) Tính trong

suốt nghĩa là lớp nghĩa có thể đoán được dựa vào các từ cấu thành cụm Tính thay thế

có thể hiểu là các thành tố tạo nên kết hợp ngữ này có thể được thay thế bằng các thành tố khác Dựa trên cơ sở này, ông đã phân ra bốn loại kết hợp ngữ bao gồm cụm

Trang 8

kết hợp tự do (free combinations), ngữ đồng vị giới hạn (restricted collocations), thành ngữ ẩn dụ (figurative idioms) và thành ngữ thuần túy (pure idioms) Nadja Nesselhauf

(2005)cho rằng bốn loại mà Cowie đã phân biệt vẫn chưa thể coi là phân biệt rạch ròi giữa các khái niệm, nhưng dù sao dựa vào đó, chúng ta phần nào có thể thấy được mức độ nghĩa của các cụm kết hợp ngữ được sắp xếp thành chuỗi như sau:

Cụm kết hợp tự do Ngữ đồng vị giới hạnThành ngữ ẩn dụThành ngữ thuần túy

- Đối với cụm kết hợp tự do (ví dụ: catch the ball), các thành tố có thể được thay thế

tùy thuộc và nghĩa và tất cả các từ tạo thành cụm đều được sử dụng theo lớp nghĩa đen

- Ngữ đồng vị giới hạn (ví dụ: perform a task), các thành tố có thể được thay thế,

nhưng có một mức độ giới hạn về khả năng thay thế này Ít nhất một thành tố có nghĩa đen và ít nhất một thành tố không theo nghĩa gốc, và lớp nghĩa là trong suốt, nghĩa là có thể đoán được dựa vào sự kết hợp của các thành tố

- Thành ngữ ẩn dụ (ví dụ: do a U-turn (hoàn toàn thay đổi chính sách hoặc hành vi của ai đó))thìcác thành tố không thể được thay thế Nghĩa của thành ngữ ẩn dụ có lớp nghĩa bóng, nhưng ở một mức độ nào đó, vẫn có thể đoán được nghĩa của cụm

- Thành ngữ thuần túy (ví dụ: blow the gaff (tiết lộ bí mật)) có các thành tố hoàn toàn

không thể thay thế Nghĩa của cụm thành ngữ thuần túy có lớp nghĩa bóng hoàn toàn và không thể đoán được nghĩa

Khác với các nhà nghiên cứu khác, bên cạnh việc phân biệt ngữ đồng vị với thành ngữ và cụm kết hợp tự do, vàBenson và các tác giả khác (1986) còn đưa thêm

hai khái niệm từ ghép (compounds) và cụm kết hợp chuyển tiếp (transitional combinations) để phân biệt với ngữ đồng vị Ông đã phân biệt thành năm dạng như

sau, năm dạng này được sắp xếp từ cao xuống thấp về tính cố định như sau:

Từ ghép Thành ngữCụm kết hợp chuyển tiếp Ngữ đồng vịCụm kết hợp tự do

(Compounds) (Idioms)(Transitional combinations)(Collocations)(Free combinations)

Trang 9

- Từ ghéplà các cụm cố định nhất, không thể biến đổi Ví dụ về danh từ ghép như floppy disk (đĩa mềm) và aptitude test (kiểm tra khảo sát chất lượng), động từ ghép như break through (đâm, xuyên)

- Thành ngữ: là sự diễn đạt tương đối cố định và không chứa nghĩa trong từng thành tố Ví dụ,tokill two birds with one stone (một công đôi việc), to kich the bucket (chết), to spill the beans (giữ bí mật)…

- Cụm kết hợp chuyển tiếplà những cụm kết hợp mà nghĩa của chúng gần với nghĩa của các thành tố, có thể xem như cố định hơn và ít biến đổi hơn ngữ đồng vị Ví dụ: for old time’s sake (vì những hồi ức êm diệu hay đa cảm về quá khứ), the facts of life (sự thật cuộc đời), to be in a tight spot (trong hoàn cảnh khó khăn)

- Ngữ đồng vịlà cụm kết hợp không cố định lắm, thường xảy ra hiện tượng tái kết hợp của các thành tố và nghĩa của cả cụm được thể hiện bằng nghĩa của các thành tố Ví dụ: pure chance, to commit murder, close attention, keen competition

- Cụm kết hợp tự do là cụm có thể kêt hợp tùy ý với các từ khác nhau và nghĩa của chúng chính là nghĩa của các từ tạo thành Ví dụ, to recall an adventure, to analyze

a murder

Cùng quan điểm với Benson và các tác giả khác(1986), Cruse (1986)vàBahns (1993) còn thừa nhận rằng khác với thành ngữ, nghĩa của ngữ đồng vị có thể nhận biết thông qua nghĩa các từ cấu thành cụm So với cụm kết hợp tự do thì tần suất tái kết hợp của các từ trong ngữ đồng vị xảy ra nhiều hơn và chúng ta sẽ cảm thấy quen thuộc khi gặp những cụm này Hay nói một cách khác, có một khoảng cách chuyểntiếp giữa cụm kết hợp tự do và ngữ đồng vị, giữa ngữ đồng vị và thành ngữ , Cruse (1986) 2.1.3 Phân loại ngữ đồng vị

Có rất nhiều các nhà nghiên cứu (Bahns, 1993; Chang, 1997; Liu, 1999; Wang, 2001) đã nghiên cứu về ngữ đồng vị dựa trên lý thuyết của Benson (1986), đặc biệt về sự phân loại các loại ngữ đồng vị Benson và các tác giả khác (1986) đã phân loại ngữ

đồng vị ra thành hai loại, đó là nhóm từ vựng (lexical collocations)(Bảng 2.2) và nhóm ngữ pháp (grammatical collocations) (Bảng 2.3) Trong đó, nhóm từ vựng gồm các

ngữ đồng vị được cấu tạo bởi danh từ, tính từ, động từ và trạng từ Benson và các tác giả khác (1986) đã chia nhóm ngữ đồng vị này cụ thể như sau:

Trang 10

Stt Mẫu cấu trúc chung Ví dụ

1 1 2 V1 (chỉ sự tạo ra sản phẩm hoặc tạo ra cảm

giác) + N2 (đại từ hoặc cụm giới từ)

Compose music; make an impression

3 2 V (chỉ sự loại bỏ) + N Revoke a license; demolish

a house

4 3 5 Adj3 + N Strong tea; a rough

estimate

6 4 7 N + V Bees buzz; bombs explode

8 5 N1 + N2 A pack of dogs; a herd of

Bảng 2.2: Nhóm ngữ đồng vị ngữ nghĩa (Benson et al, 1986a)

Tiếp theo, Benson và các tác giả khác (1986) đưa ra các loại ngữ đồng vị ngữ pháp Các ngữ đồng vị trong nhóm này có đặc điểm đó là trong cụm luôn có một từ chi phối, chẳng hạn như danh từ, tính từ hoặc động từ, và một giới từ hoặc động từ nguyên

mẫu (infinitive) hay một mệnh đề Các loại ngữ đồng vị ngữ pháp được chia cụ thể như

sau:

2 2 N + to + Inf6 He was a fool to do it

would do his duty

4 4 Prep + N In advance; at anchor

5 5 Adj + Prep They are afraid of him

6 6 Predicate N + to + Inf It was stupid for them to

go

7 7 Adj + that + Clause She was afraid that she

would fail the exam

1 Động từ (Verb)

2 Danh từ (Noun)

3 Tính từ (Adjective)

4 Trạng từ (Adverb)

5 Giới từ (Preposition)

6 Động từ nguyên mẫu (Infinitive verb)

Trang 11

8 Có 19 mẫu trong loại này

a SVO to O7 (or) SVOO He sent a book to his

brother a book

b SVO to O They described the book to

her

c SVO for o (or) SVOO She bought a shirt for her

husband She bought her husband a shirt

d SV prep O8 (or) SVO prep O He came by train.We

meeting

e SV to inf They began to speak

television

h SVO to inf She asks me to come

i SVOV-ing I caught them stealing

o SV(O) adv He carried himself well

p SV(O) wh-word He wants what I want

q S (it) VO to inf (or) S (it) VO

that-clause

It surprised me to learn of her decision

It surprised me that our offer was rejected

r SVC (adjective or noun) She was enthusiastic

The flowers smell nice

Bảng 2.3: Nhóm ngữ đồng vị ngữ pháp (Benson 1986)

7 Tân ngữ (Object)

8 Tân ngữ của giới từ (prepositional object)

9 Bổ ngữ (complement)

Trang 12

Trong khi đó, với cùng mục đích, Lewis (2000) tìm cách phân loại ngữ đồng vị theo một số kết hợp khác (Bảng 2.4)

1 Adj + N a difficult decision

2

4 V + Adj + N revise the original plan

5 Compound N fire escape

6 Cụm hai danh từ (Binomial) backwards and forwards

7 Cụm ba danh từ (Trinomial) hook, line and sinker

9 V + Adv examine thoroughly

10 Adv + Adj extremely inconvenient

11 Cụm từ kết nối câu To put it another way

12 Cụm giới từ (multi-word

prepositional phrase)

a few years ago

13 Động ngữ (phrasal V) turn in

15 Cụm cố định (fixed phrase) On the other hand

16 Cụm cố định không hoàn toàn

(incomplete fixed phrase)

See you later/tomorrow/on Monday

19 Tục ngữ (part of a proverb): Too many cooks

20 Lời trích (part of a quotation) To be or not to be

Bảng 2.4: Cách phân loại ngữ đồng vị theo Lewis (2000)

2.2.1 Những vấn đề chung

Khó khăn tiếp của người học về ngữ đồng vị đó là người học không có khả năng nhận biết ngữ đồng vị trong một bài đọc Vấn đề đó là ngữ đồng vị không thu hút được sự chú ý của người học một cách hiệu quả (Hill, 2000; Conzett, 2000; Woolard, 2000; Lewis, 2001; Nakamura, 2003; Ying & Hendricks, 2004) và xuất hiện một cách

Trang 13

thông thường, không có đặc điểm gì khác biệt rõ rệt Thông thường khi đọc một đoạn văn nào đó, chúng ta thường chú ý đến những từ mới riêng lẻ mà không nhận ra được hay bỏ qua những từ quen thuộc thường đi chung với từ đó Vì thế, dù cho chúng ta có gặp một cụm ngữ đồng vị xuất hiện thường xuyên ở các văn bản khác nhau thì khả năng nhận biết và sử dụng nguyên cụm này với nhau là rất hạn chế

Thậm chí ngay trong lớp học, giáo viên cũng thường bỏ qua giai đoạn hướng dẫn học sinh học từ theo cụm, hay ngữ đồng vị Vì thế, khi gặp một bài đọc hiểu nào

đó, người học thường xem nhẹ phương pháp học này và cho rằng chỉ cẩn tra từ điển hết nghĩa tất cả các từ mới là ổn Có thể nói nhận thức của người học về tầm quan trọng của ngữ đồng vị cũng là một trong những khó khăn của người học trong việc luyện tập ngữ đồng vị Hơn nữa, theo Mackin (1978), tuy ngữ đồng vị rất quan trọng nhưng ông cho rằng thật không dễ dàng cho việc dạy và học hàng ngàn cụm ngữ đồng vị Đồng ý với quan điểm này còn có Rudzaka, Channell, Putseys và Ostyn, 1981; Allerton, 1984; Bahns 1993 Để làm rõ hơn về khó khăn này, nhiều nhà nghiên cứu còn tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu thực tiễn về cơ chế hình thành ngữ đồng vị cho

cả người bản ngữ và người học ngoại ngữ (Bahn, 1993; Bahns và Eldaw, 1993; Biskup, 1992; Caroli, 1998; Elyildirm, 1997; Ghadessy, 1989; Gitsaki, 1999; Granger, 1998; Greenbaum, 1970; Howard, 1993, 1998a, 1998b)

Cuối cùng, có thể nói rằng một khó khăn lớn về việc học ngữ đồng vị đó là định nghĩa về ngữ đồng vị vẫn còn chưa nhất quán trong các định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu Firth (1957) là người đầu tiên giới thiệu về ngữ đồng vị, tiếp sau đó thì có rất nhiều nhà nghiên cứu khác hình thành những định nghĩa khác nhau về ngữ đồng vị, chẳng hạn như Backlund (1973), Cruse (1986), Crystal (1985), Halliday (1966), McIntosh và Streven (1964), Ridout và Waldo-Clarke (1970), Seaton (1982) Cũng chính vì thế mà các nhà nghiên cứu khác nhau có cách phân biệt ngữ đồng vị với các khái niệm khác như thành ngữ, cụm kết hợp tự do là rất khác nhau khiến cho

người học vẫn chưa thể phân biệt rạch ròi giữa các khái niệm và có thể nhầm lẫn

Có khá nhiều giả thuyết và công trình nghiên cứu liên quan đến ngữ đồng vị, điều này đã hình thành nên những đặc điểm khác nhau của ngữ đồng vị, tùy thuộc vào mối quan tâm và quan điểm của mình mà các nhà nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của ngữ đồng vị Tuy nhiên, ba tính chất được đề cập sau đây được xem là ba tính chất thường gặp nhất mỗi khi nhắc đến ngữ đồng vị

Trang 14

2.2.2.1 Tính bất quy tắc của ngữ đồng vị

Việc học ngữ đồng vị tương đối khó khăn đối với người học ngoại ngữ (Nakhimove,1979) Trong hầu hết các trường hợp, người học không đơn giản là chỉ dịch từng từ một sang tiếng bản mẹ đẻ của mình Như chúng ta có thể thấy ở bảng 2.5,

việc dịch cụm từ “to open the door” không có gì khác trong tất cả năm ngôn ngữ khác nhau Ngược lại, khi dịch cụm từ “to break down/ force the door” lại là một vấn đề khi dịch cụm này trong năm ngôn ngữ trên Sự xuất hiện của từ “door” và “see” là một sự kết hợp tự do, trong khi sự kết hợp giữa từ “door” và “break” lại biến thành một ngữ đồng vị Người học không thể tự tạo nên cụm “to break down a door” cho dù

ngôn ngữ bản địa của họ là tiếng Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha hay Thổ Nhĩ Kỳ nếu họ không nhận thức được cấu thành của nó

Kiến thức vững chắc về cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa vẫn chưa đủ cho hiểu vàviệc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác vì ngữ đồng vị có tính bất quy tắc, chúng phải thực sự tồn tại ở cả hai ngôn ngữ mới có thể chuyển ngữ một cách chính xác (Bảng 2.5)

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To see the door

To break down/ force the door

To break down/ force the door

To break down/ force the door

To break down/ force the door

To break down/ force the door

To push the door through

To break the door

To hit/demolish the door

To fall the door

To break the door

Bảng 2.5: So sánh ngôn ngữ học của Ngữ đồng vị (Smadja, 1993)

Trang 15

short”, “to ease the jib” là đặc điểm của những ngữ đồng vị cụ thể trong một ngữ

cảnh nào đó Cả hai loại này thường xuất hiện trong các văn cảnh

2.2.1.3 Tính linh hoạt của ngữ đồng vị

Một vài dạng ngữ đồng vị rất linh hoạt, chúng có thể bị tách ra bởi một từ, đặc biệt là một tính từ Thông thường, những dạng ngữ đồng vị sau có thể tách được: (Bảng 2.6)

Bảng 2.6 Bảng các ngữ đồng vị linh hoạt (Fanit Rabeh,2009)

2.2.2 Chiến lược trong việc học ngữ đồng vị

2.2.2.1 Bảng ngữ đồng vị

Một trong những nghiên cứu ban đầu về việc giảng dạy ngữ đồng vị cho rằng người học không nhận ra hết được những chức năng của những từ vựng đã biết (Channell, 1981) bởi vì chúng chỉ được sử dụng để hình thành nên một số lượng ngữ đồng vị hạn chế Để có thể vượt qua được việc sử dụng ngữ đồng vị một cách rất hạn chế này, người học cần được tiếp xúc với một số lượng lớn các ngữ đồng vị phổ biến bất cứ khi nào giáo viên giảng dạy từ vựng Cụ thể bằng cách sử dụng Bảng ngữ đồng vị như ví dụ sau:

Bảng 2.7: Bảng ngữ đồng vị

Adj+N black market→ black illigal market

V+N exert an effort→ exert a great effort N+N (the of-gennitive) association of ideas→ association of some ideas

N+V bee buzz→ bees strongly buzz V+Prep long for→ long so much for

Trang 16

Bảng ngữ đồng vị đặc biệt thích hợp cho việc giảng dạy những cụm ngữ đồng vị kết hợp giữa tính từ - danh từ (Adj + N) và động từ - cụm danh từ (V + N) Ví dụ, bảng ngữ đồng vị có thể được sử dụng để biểu thị những cụm ngữ đồng vị kết hợp

giữa tính từ - danh từ, chẳng hạn như qualified physiotherapist Nó cũng phù hợp cho

việc phát triển nhận thức của người học về những hạn chế của sự kết hợp giữa động từ

với danh từ, chẳng hạn như get my tea, going on holiday và made him some tea sau khi

người học gặp phải chúng trong bài đọc nào đó

Tuy nhiên, phương pháp sử dụng bảng ngữ đồng vị này cũng có một số hạn chế Theo Nesselhauf (2005), bảng ngữ đồng vị bị hạn chế về tính hiệu quả bởi vì chúng chỉ cung cấp thông tin về hình thức của ngữ đồng vị, nhưng không có hướng dẫn cách để sử dụng chúng Người học chỉ có thể biết cách sử dụng ngữ đồng vị bằng cách học chúng trong ngữ cảnh Vì vậy, khi sử dụng bảng ngữ đồng vị, giáo viên cần nhận thấy những hạn chế của chúng và sử dụng chúng một cách hợp lí

khác nhau (Concordances)

Concordances là danh sách những ví dụ về các ngữ đồng vị được sử dụng trong nhữ cảnh khác nhau Sử dụng concordances có những lợi ích nhất định cho việc học ngữ đồng vị của người học ngoại ngữ Tuy nhiên, một vấn đề của Concordances đó là

danh mục những ví dụ của từ được tìm kiếm có thể tạo nên sự hoang mang cho người

học Ví dụ, danh mục các concordances khi tìm kiếm mục từ looking up sẽ cung cấp

nhiều cách sử dụng khác nhau

Đây là một công cụ hữu dụng cho việc giảng dạy ngữ đồng vị Ví dụ, khi tìm

kiếm mục từ looking up trong concordances, nó sẽ cung cấp nhiều cách sử dụng khác nhau và nghĩa của chúng (bảng 2.8) Trong khi phương pháp sử dụng concordances có

ảnh hưởng tích cực đến những người học ở trình độ cao, thì nó lại không thích hợp và

dễ gây hoang mang cho những người ở trình độ thấp hơn Vì vậy, mặc dù việc sử dụng

concordances có thể hữu ích nhưng giáo viên nên cân nhắc kĩ làm cách nào để sử dụng

chúng một cách hiệu quả nhất

Ví dụ về concordances đối với mục từ looking up:

Trang 17

Bảng 2.8: Danh sách ví dụ về các ngữ đồng vị cho mục từ looking up

(the Bank of English)

Từ điển ngữ đồng vị là một nguồn tài liệu có giá trị khác, đặc biệt đối với người học ở trình độ cao Giáo viên có thể thiết kế các hoạt động trong lớp sử dụng từ điển ngữ đồng vị cũng như cung cấp những chiến lược học tập độc lập để phát triển kiến thức của sinh viên về ngữ đồng vị Ví dụ, nếu người học gặp khó khăn trong việc hiểu

ill, the food stores were not in a good way either He paused, looking up into the

sky, eyes straining Was the object growing larger?

aving time to begin a new project," said Ninheimer, without looking up from the

notations he was making in the current issue of So

as one of the few remaining private homes `I say, things arelooking up a bit!

Father's flat in Paris wasn't nearly as grand as this."

ole bonne femme He was moved to Aldershot Things are looking up I've

landed a job in the kitchen of the officers' mess of th

r her." "Galilee built this house?" Niolopua nodded, still not looking up

"When?" "I don't know exactly A long time ago It was the

he said scarcely a word throughout the supper, seldom even looking up from her

plate There was no doubt as to the star of the eve

flower in the hedgerow; the drone of a jet overhead, and his looking up,

squinting against the brightness of the sky, to see it making

udents, telling a story about how God 's hands worked; then looking up and

seeing a stranger at the back of the room, and dying Hi

tower with a beautiful marble balcony rose from the castle Looking up, Jung

noticed the elegant figure of a regal woman sitting o

ead made public their findings for others to apply Life was looking up when, in

1906, Pierre died after being run over by a lumber

at the petri dish had not only not been contaminated, but, on looking up the

records, found that the climate in London in July to Aug

cher." The couple had returned from the park and were now looking up towards

the sky through a hole in the roof of the turf shed

heck for trachoma hung from the ceiling `God," Mark said, looking up at it,

`vicious." He began to compare the texts of the psalm

egory sat down to eat with his new family, not speaking, not looking up, worried

that no one would feed Oliver, that he would nevehis wings in intellectual

exploration He had spent his time looking up pointless information, memorizing

facts, and writing papers

Trang 18

cụm từ she’s made a fool of you, họ có thể tra cứu từ fool trong từ điển Mục từ fool trong từ điển Collins COBUILD Advaned Learner cung cấp thông tin và những ví dụ

như:

“If you make a fool of someone, you make them seem silly by telling people about

something stupid that they have done, or by tricking them Your brother is making afool of you… He’d been made a fool of.”

Từ điển ngữ đồng vị có một vài tác động tích cực đến người học Chẳng hạn những thông tin ngữ cảnh về cụm ngữ đồng vị được tìm kiếm bổ trợ cho việc hiểu thấu hết được nghĩa của cụm ngữ đồng vị đó cũng như thấy được mức độ hạn chế khi sử dụng nó Ngoài ra, loại từ điển đặc biệt này cũng cung cấp những cụm khác liên quan

đến cụm được tìm kiếm, chẳng hạn như từ fool còn có thêm more fool of you, play the fool và act the fool, điều này có tác động tích cực rất nhiều đối với người học ở trình

độ cao Tuy nhiên, để đạt được lợi ích tối ưu của việc sử dụng từ điển ngữ đồng vị, người học cần phải có một phương pháp hệ thống khi tiếp nhận thông tin tìm kiếm Nếu người học được hướng dẫn sử dụng từ điển này một cách hiệu quả, họ có thể học ngữ đồng vị một cách độc lập và có khả năng phát triển kiến thức về ngữ đồng vị của mình

2.2.2.4 Phương pháp ghi nhớ

Một chiến lược hữu hiệu để ghi nhớ những cụm từ cố định là học với cách thức

tương tự như học một từ vựng riêng lẻ, chẳng hạn như các cụm you can talk, what do you call it hay what’s he got to do with it? Nation (2001) đã liệt kê các bước ghi nhớ

như sau:

a Viết mỗi cụm từ lên một mặt của miếng giấy nhỏ cùng với lời dịch lên mặt kia

b Lặp lại cụm từ to rõ trong khi ghi nhớ

c Sử dụng những mẹo ghi nhớ như kỹ thuật từ khóa, đặt cụm từ vào câu, hình

dung các ví dụ về cụm từ và phân tích từng phần trong ví dụ đó

d Không kết hợp cụm từ với những từ tương đồng hay những nghĩa tương đồng

với nhau Chúng sẽ cản trở lẫn nhau

e Giữ sự thay đổi trật tự của các miếng giấy để tránh việc học hàng loạt Cách học

như thế này là một hoạt động hữu ích cho việc ghi nhớ các cụm từ cố định, mặc

dù phương pháp này có thể gặp khó khăn trong việc dịch nghĩa các cụm không

Trang 19

phổ biến và những cụm mang tính thành ngữ sang tiếng mẹ đẻ mà vẫn lưu giữ được nghĩa chính xác của chúng

2.3 Vai trò của ngữ đồng vị trong việc phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng ngôn ngữ

Chan & Liou (2005) giải thích việc dạy ngữ đồng vị trong những lớp học tiếng Anh thường không được quan tâm một cách đầyđủ, kết quả dẫn đến việc người học tiếng Anh sử dụng ngữ đồng vị rất kém Đồng thời, nghiên cứu của Nizonkiza (2012:202) cũng chứng minh được mối liên hệ giữa kiến thức ngữ đồng vị và sự thông thạo ngoại ngữ - sinh viên có năng lực ngôn ngữ cao hơn thường có kiến thức về đồng vị ngữ tốt hơn Tương tự,Conklin và Schmitt (2008) đã tìm ra “những chuỗi từ có tính công thức” sẽ được người tham gia đọc nhanh hơn những chuỗi không có Tóm lại ngữ đồng vị giúp cho quá trình xử lí ngôn ngữ hiệu quả hơn trong cả lúc tiếp thu và khi trình bày

Đối với việc phát triển vốn từ vựng, biết về một từ được xác định trong câu như thế nào thì hiệu quả hơn việc đơn giản chỉ biết nghĩa của chính bản thân từ đó nó Theo Thornbury (2002:116) thì khả năng triển khai một cụm từ sao cho chính xác và thích hợp là điều phân biệt lớn nhất giữa người học ngoại ngữ ở trình độ cao và những người ở trình độ trung Học ngữ đồng vị không chỉ nâng vốn từ vựng mà còn làm tăng sự lưu loát trong các kỹ năng Nattinger (1988) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên thảo luận về ngữ đồng vị Nhà nghiên cứu này nói rõ rằng ý nghĩa của một từ phụ thuộc hoàn toàn vào những từ đi kèm với nó, với sự hỗ trợ của những ngữ đồng vị người học sẽ dễ nhớ từ và suy luận được nghĩa của từ trong nội dung bài đọc một cách

dễ dàng Ông cũng cho biết rằng khái niệm ngữ đồng vị là cực kì quan trọng trong việc tiếp thu từ vựng nhưng trong thực tế, khả năng của nó đã không được tận dụng một cách toàn bộ

Tương tự, đối với sự phát triển các kỹ năng ngôn ngữ, đồng vị ngữ cũng đóng một vai trò quan trọng Khi đề cập đến mối liên hệ của đồng vị ngữ và kỹ năng nghe, Hongying (2005:82) cho biết bằng việc sử dụng kiến thức ngữ đồng vị trong khi nghe hiểu, những yếu tố thành phần có thể được xác định với quá trình hiểu được rút ngắn

đi, nhờ vào cụm từ vựng mà ngữ đồng vị mang lại.Ý nghĩa của ngữ đồng vị dường như xuyên suốt từ một phần câu này sang phần câu khác, và những yếu tố chắc chắn về ý

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:Cách phân loại các cách kết hợp từ trong tiếng Anh (Asienstadt, 1979) - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 2.1 Cách phân loại các cách kết hợp từ trong tiếng Anh (Asienstadt, 1979) (Trang 6)
Bảng 2.3: Nhóm ngữ đồng vị ngữ pháp (Benson 1986) - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 2.3 Nhóm ngữ đồng vị ngữ pháp (Benson 1986) (Trang 11)
Bảng 2.4: Cách phân loại ngữ đồng vị theo Lewis (2000) - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 2.4 Cách phân loại ngữ đồng vị theo Lewis (2000) (Trang 12)
Bảng 2.5: So sánh ngôn ngữ học của Ngữ đồng vị (Smadja, 1993) - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 2.5 So sánh ngôn ngữ học của Ngữ đồng vị (Smadja, 1993) (Trang 14)
Bảng 2.7: Bảng ngữ đồng vị - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 2.7 Bảng ngữ đồng vị (Trang 15)
Bảng 2.6 Bảng các ngữ đồng vị linh hoạt (Fanit Rabeh,2009) - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 2.6 Bảng các ngữ đồng vị linh hoạt (Fanit Rabeh,2009) (Trang 15)
Bảng  4.1trình  bày  số  liệu  thống  kê  điểm  số  của  bài  kiểm  tra  đọc  cho  03  lớp  tham gia - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
ng 4.1trình bày số liệu thống kê điểm số của bài kiểm tra đọc cho 03 lớp tham gia (Trang 25)
Bảng 4.3: Phân bố tần số theo số câu đúng trong bài đọc hiểu của nhóm G2 - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 4.3 Phân bố tần số theo số câu đúng trong bài đọc hiểu của nhóm G2 (Trang 26)
Bảng  4.2trên  cho  thấy  ở  G1,  với  tổng  số  là  35  sinh  viên  thì  có  14.3%  số  sinh  viên làm được kết quả thấp nhất với 9 câu đúng và chỉ 2.9% số sinh viên làm được kết  quả cao nhất là 24 câu đúng trong tổng số 30 câu hỏi trắc ngh - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
ng 4.2trên cho thấy ở G1, với tổng số là 35 sinh viên thì có 14.3% số sinh viên làm được kết quả thấp nhất với 9 câu đúng và chỉ 2.9% số sinh viên làm được kết quả cao nhất là 24 câu đúng trong tổng số 30 câu hỏi trắc ngh (Trang 26)
Bảng 4.4: Phân bố tần số theo số câu đúng trong bài đọc hiểu của nhóm G3 - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 4.4 Phân bố tần số theo số câu đúng trong bài đọc hiểu của nhóm G3 (Trang 27)
Bảng 4.5a: Số liệu miêu tả liên quan đến điểm số bài T ở G1 - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 4.5a Số liệu miêu tả liên quan đến điểm số bài T ở G1 (Trang 28)
Bảng 4.6a: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 4.6a Kết quả kiểm định phân phối chuẩn (Trang 29)
Dựa vào biểu đồ 4.2, bảng 4.6a, và bảng 4.6b ta thấy được, với số lượng cỡ mẫu  của  G2  là  37  sinh  viên  (N=37)(nhỏ  hơn  50),  dùng  kiểm  địnhShapiro-Wilk  với  Sig.=  0.017 (nhỏ hơn 0,05) - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
a vào biểu đồ 4.2, bảng 4.6a, và bảng 4.6b ta thấy được, với số lượng cỡ mẫu của G2 là 37 sinh viên (N=37)(nhỏ hơn 50), dùng kiểm địnhShapiro-Wilk với Sig.= 0.017 (nhỏ hơn 0,05) (Trang 30)
Bảng 4.6b: Số liệu miêu tả liên quan đến điểm số bài T ở G2 - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 4.6b Số liệu miêu tả liên quan đến điểm số bài T ở G2 (Trang 30)
Bảng 4.7a: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn - Đánh giá tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị trong việc phát triển kỹ năng đọc hiểu của sinh viên khoa ngoại ngữ trường đại học mở thành phố hồ chí minh nghiên cứu khoa học
Bảng 4.7a Kết quả kiểm định phân phối chuẩn (Trang 31)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w