Nói cách khác, với kiến thức về ngữ đồng vị người học sẽ dễ nhớ từ và suy luận được ngữ nghĩa của từ trong nội dung bài đọc một cách dễ dàng.. Bài nghiên cứu gồm có 5 chươn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CỦA SINH VIÊN
ĐÁNH GIÁ TẦM QUAN TRỌNG CỦA KIẾN THỨC VỀ NGỮ ĐỒNG VỊ TRONG VIỆC PHÁT TRIỂN KỸ NĂNG ĐỌC HIỂU CỦA SINH VIÊN KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Bích Trinh
Phan Thị Kiều Trinh
Người hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Hoài Minh
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN
“…Ngữ đồng vị như một yếu tố cấu thành nên vốn từ vựng của bất cứ ngôn ngữ nào.”
(McCarthy 1990:12)
Theo Shehata (2008), từ “collocation” (ngữ đồng vị) bắt nguồn từ “collocare”,
nghĩa là thứ tự sắp xếp.Theo nhà nghiên cứu Hill (2000:53) trong mọi thứ chúng ta nghe, nói, đọc hoặc viết, thứ chiếm đến 70% nội dung đóchính là một số hình thức của
những cụm từ được sắp xếp với nhau còn gọi là ngữ đồng vị Để biết được ý nghĩa của
một từ hiệu quả nhất, người học cần biết được mối liên hệ của nó với những từ ngữ khác trong một câu Nói cách khác, với kiến thức về ngữ đồng vị người học sẽ dễ nhớ từ và suy luận được ngữ nghĩa của từ trong nội dung bài đọc một cách dễ dàng Ngoài
ra, ngữ đồng vị còn giữ một vai trò quan trọng trong việc tiếp thu một ngôn ngữ và góp phần phân biệt cách diễn đạt về ngôn ngữ giữa người nói bản xứ với những người khác
Một trong những khó khăn trong việc học ngữ đồng vị đó là người học không
có khả năng kết hợp từ Từ khí bắt đầu học ngoại ngữ, người học thường có thói quen chép đi chép lại các từ để nhớ, nhưng họ đã không ý thức được rằng việc học những từ riêng lẻ như vậy sẽ là hình thành nên một thói quen không tốt trong việc học từ vựng, trong khi từ vựng lại là một yếu tố cực kỳ quan trọng trong việc học ngoại ngữ Phương pháp học này được rất nhiều người học áp dụng, vì người học không phải trải qua các giai đoạn như đặt câu để tạo ra ngữ cảnh cho từ, hay học những từ thường kết hợp với nhau Nhiều nhà nghiên cứu về ngôn ngữ học như Bahns & Eldaw (1993), Shei & Pain (2000), Koya (2005), Shehata(2008), Ruzaka; Channell, Putseyes và Ostyn (1981); Allerton (1984) đã cho thấy rằng việc học ngữ đồng vị quả thật là một khó khăn cho người học Người học đã quen với việc học những từ đơn lẻ và ít ý thức đến việc học những cụm ngữ đồng vị (Farghal & Obiedant, 1995) Trong khi đó, vai trò của ngữ đồng vị được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận rằng rất quan trọng (DeCarrico, 2001; Richards & Rogers, 2001; Schmitt, 2000; 2002; Zimmerman, 1997)
Tuy xác định được tầm quan trọng đócủa ngữ đồng vị, nhưng thực sự những nghiên cứu về dạy và học ngữ đồng vị trong môi trường chuyên ngữ, cụ thể là ngành Tiếng Anh, Khoa Ngoại Ngữ,Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minhchưa được chú trọng Với mục đích tìm hiểu bản chất và tầm quan trọng của ngữ đồng vị đối với học
Trang 3và phát triển kỹ năng nói chung, kỹ năng Đọc nói riêng, bài nghiên cứu được tiến hành nhằm:
(1) Tổng hợp chi tiết về lý thuyết nền tảng của ngữ đồng vị
(2) Đo lường tầm quan trọng của kiến thức về ngữ đồng vị đối với sinh viên
học ngôn ngữ Từ đó, khẳng định mối liên hệ và mức độ ảnh hưởng của kiến thức ngữ đồng vị với kỹ năng Đọc hiểu
Tóm lại, dựa trên giả thuyết là ngữ đồng vị đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tiếp thu và phát triển ngôn ngữ, bài nghiên cứu đi sâu vào đặc điểm của ngữ đồng vị và xây dựng phương pháp nhằm kiểm chứng mối quan hệ giữa kiến thức về ngữ đồng vị và kĩ năng đọc hiểu nơi người học.Kết quả của bài nghiên cứu sẽ cung cấp những dữ liệu cụ thể, giúp củng cố định hướng chú trọng giảng dạy ngữ đồng vị nhằm làm phong phú thêm vốn từ vựng của mình và thành tốt phần thi Đọc hiểu trong kỳ thi
TOEFL (IPT, IBT…)
Bài nghiên cứu đượctiến hànhtừ tháng 11/2012đến tháng 3/2013 tại Khoa Ngoại Ngữ, cơ sở 422 Đào Duy Anh, P.9, Q.Phú Nhuận, TP HCM với mục đích đo lường kiến thức ngữ đồng vị của sinh viên trong môn Đọc hiểu, và đo lường sơ bộ trình độ Đọc hiểu của sinh viên trên bài thi TOEFL giấy Một bài kiểm tra về nghĩa từ vựng độc lập cũng được sử dụng nhằm có cứ liệu để so sánh và đánh giá Kết quả của các bài kiểm tra được đối chiếu để xác định mức độ tương quan.Các bài kiểm tra được tiến hành 1 lần vào ngày 12/03/2013.Đối tượng tham gia khảo sát gồm 113 sinh viên năm nhất đến từ 3 lớp khác nhau, thuộc chuyên ngành Tiếng Anh, Khoa Ngoại Ngữ, trường Đại Học Mở Thành phố Hồ Chí Minh
Bài nghiên cứu gồm có 5 chương, với nội dung được tóm tắt như sau:
- Chương I, nêu lên mục đích và ý nghĩa của bài nghiên cứu được xác định cụ thể
- Chương II, chương cơ sở lý thuyết sẽ cho người đọc nắm bắt đượckiến thức tổng quan và chính xác về ngữ đồng vị (định nghĩa, đặc điểm, phân loại, phân biệt ngữ đồng vị, những vấn đề và chiến lược trong việc học ngữ đồng vị)
- Chương III, với nội dung tập trung vào mô tả phương pháp nghiên cứu của đề tài, bao gồm đối tượng, công cụ và phương pháp phân tích
Trang 4- Chương IV, nhóm nghiên cứu đưa ra kết quả và bình luận thông qua các bảng số liệu và biểu đồ có được
- Chương V, phần kết luận để trả lời cho câu hỏi nghiên cứu đã đưa ra Từ đó,nhóm nghiên cứu nêu lên những định hướng, đề xuất đối với những nghiên cứu khác liên quan đến đề tài này trong tương lai
Trang 5CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
2.1 Ngữ đồng vị
2.1.1 Định nghĩa ‘ngữ đồng vị’
Firth (1957), cha đẻ của những nghiên cứu về ngữ đồng vị,định nghĩa ngữ đồng vị là tập hợp liên kết nhất định của các từ.Tương tự hai nhà nghiên cứu Nattinger và
De Carrico (1992) đã sử dụng thuật ngữ “cụm từ vựng” (lexical phrases) để nói đến
hiện tượng đa từ và cho rằng hiện tượng các cụm từ gồm những từ thường kết hợp với nhau xảy ra rất phổ biến trong văn viết và văn nói và chúng là chất liệu ngôn ngữ quan trọng để người học ngoại ngữ có thể phân tích và đi sâu vào các dạng cú pháp và từ vựng.Ellis (1996) nêu một định nghĩa khái quát, ngữ đồng vị là các cấu trúc đa từ hoặc nói một cách khác, là các chuỗi từ lặp lại nhiều lần trong ngôn ngữ.McCarten (2007) cũng cho rằng ngữ đồng vị là những cụm từ gồm hai hay nhiều từ kết hợp thường xuyên với nhau Nhưng những định nghĩa này rất chung chung và có thể gây nhầm lẫn với thành ngữ, từ ghép hoặc cụm kết hợp tự do.Howarth (1996) thì định nghĩa hẹp và
sâu hơn Ông dùng thuật ngữ ngữ đồng vị giới hạn (restricted collocations) để nói về ngữ đồng vị.Để phân biệt với cụm từ kết hợp tùy ý (free combinations), một cụm được
gọi là ngữ đồng vị giới hạn phải đáp ứng hai điều kiện: các từ phải kết hợp có kết cấu tạo thành cụm thông thường, và trong cụm này thì một thành tố được sử dụng không
theo nghĩa gốc và không thể thay thế bằng từ khác.Ví dụ, cụm từ catch a cold đáp ứng
được điều kiện thứ nhất, vì dễ dàng nhận ra là cụm thông thường Đồng thời, cụm từ
này còn đáp ứng điều kiệnthứ hai, từ “catch” không được sử dụng theo nghĩa gốc,khác với từ catch trong cụm catch a butterfly, đây là cụm kết hợp tùy ý O’Dell và
McCarthy (2008), ngữ đồng vị được định nghĩa là một cặp hoặc một nhóm từ thường
được sử dụng chung với nhau Ví dụ, chúng ta nói fast car thay vì quick car, nhưng chúng ta lại sử dụng a quick meal chứ không thể nói afast meal
2.1.2 Phân biệt ngữ đồng vị và các khái niệm tương tự
Theo cách phân biệt Asienstadt (1981), các ngữ đồng vị giới hạn được định nghĩa là một dạng kết hợp từ bao gồm hai hoặc nhiều từ, không có nghĩa thành ngữ, theo các dạng cấu trúc nhất định, bị giới hạn cả về ngữ nghĩa và tính sử dụng Theo Asienstadt (1979), O’Dell vàMachael McCarthy (2010) thì thành ngữ được phân loại
Trang 6theo nhóm ngôn ngữ có công thức (formulaic) Nhóm ngôn ngữ này được ấn định các
hình thức diễn đạt cố định mà chỉ có thể hiểu và học nó theo một đơn vị ngôn ngữ hoàn chỉnh chứ không phải là những từ đơn lẻ Aisenstadt (1979) đưa ra một sốví dụ
điển hìnhface the facts, face the truth, face the problem, face the circumstances và face the music Face the music nghĩa là hứng chịu hậu quả, rõ ràng không thể đoán nghĩa
dựa vào các từ đơn lẻ trong khi các cụm còn lại có thể được xem như ngữ đồng vị vì nghĩa của cụm có thể đoán được dựa vào các từ Hơn nữa, thành ngữ luôn có nghĩa cố định, không thể biến đổi nghĩa bằng cách thay đổi cấu trúc hay thay đổi thành phần cấu tạo Mặt khác, ngữ đồng vị lại có tính linh hoạt và có thể biển đổi theo các dạng khác nhau và các thành phần cấu tạo có thể thay thế được Ví dụ như hai cụm
từcommit a mistake/make a mistake đều có thể sử dụng được
Các kết hợp từ
trong Tiếng Anh
Bảng 2.1:Cách phân loại các cách kết hợp từ trong tiếng Anh (Asienstadt, 1979)
Tiếp theo, để phân biệt được ngữ đồng vị với cụm kết hợp tự do(free combinations), chúng ta có thể hiểu nôm na ngữ đồng vị giới hạn(restricted collocations)là trung gian giữa thành ngữvà cụm kết hợp tự do, chúng không “cứng
nhắc” như thành ngữ nhưng cũng không thể tùy ý kết hợp như cụm kết hợp tự do Aisenstadt (1979) đã đưa ra ví dụ để phân biệt hai khái niệm cụm kết hợp tự do và ngữ
đồng vị giới hạn Ví dụ, từ carry có nghĩa là nâng đỡ một vật nào đóhoặc di chuyển
vật từ nơi này sang nơi khác, từ này có thể kết hợp tùy ý với các danh từ chỉ những vật
có thể được di chuyển như carry abook/bag/chairđể diễn đạt cùng một nghĩa là
“mang” Đó chính là hiện tượng kết hợp tự do Tuy nhiên, carry còn có nghĩa là thuyết phục trong cụm carry conviction và có nghĩa ảnh hướng trong cụm carry weight Ví
dụ này cho ta thấy, cụm kết hợp tự do bao gồm một thành tố có thể kết hợp tự do với nhiều thành tố khác để diễn đạt cùng một nghĩa của từ vựng trong khi ngữ đồng vị giới hạn lại chứa một thành tố mà chỉ có thể kết hợp với một số từ nhất định để diễn đạt
Trang 7nhiều nghĩa khác nhau khi kết hợp với những từ khác nhau.Nói tóm lại, ngữ đồng vị giới hạn khác với thành ngữ về mặt ngữ nghĩa và ngữ pháp, khácvới cụm kết hợp tự do
về giới hạn kết hợp
Ngoài ra, có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các điều kiện phân biệt khác, như các nhà nghiên cứu Nattinger, DeCarrico (1992) và Carter (1987)đúc kết được ba đặc điểm để phân biệt thành ngữ, ngữ đồng vị và cụm kết hợp tự do đó là: (1) tính linh
hoạt (flexible), (2) tính cấu thành (institutionalized), (3) tính cấu trúc ngữ pháp (grammatical) Họ đã đưa ra một chuỗi các kết hợp từ mà một phía là các cụm từ bất
biến, phía còn lại là các hình vị kết hợp tự do và tất cả tính kết hợp linh hoạt xảy ra ở phần giữa
Thành ngữ Ngữ đồng vị Kết hợp ngữ Cụm kết hợp tự do
Từ đầu chuỗi nàyta thấy thành ngữ là cụm hoàn toàn không có tính cấu thành
và tính cấu trúc cú pháp Rõ ràng các cụm theblack sheep (đứa con vô tích sự) hoặc spill the beans (giữ bí mật) không thể đoán nghĩa được từ các thành phần từ cấu thành
Còn ở vị trí đầu bên kia của chuỗi là các kết hợp ngữ tự do, có thể dễ dàng hiểu được
nghĩa đen của từ dựa vào các phần tử chẳng hạn như see the river Cuối cùng, ở vị trí giữa chuỗi là ngữ đồng vị và kết hợp ngữ (colligations) với mức độ trung gian giữa
thành ngữ và cụm kết hợp tự do về các thuộc tính
Cowie (1994) cũng là một trong những nhà nghiên cứu về kết hợp ngữ Ông đưa ra các định nghĩa rất chính xác giúp nhận biết được ngữ đồng vị và phân biệt được
với các khái niệm khác Kết hợp ngữ có hai loại, một là composites, hai là formulae Formulae là sự kết hợp từ chủ yếu có tính kết hợp nhất định cao chẳng hạn như “How are you?”, “Good morning” (Cowie,1994) Còn ngữ đồng vị thuộc về nhóm composites, nghĩa là chúng có thể kết hợp linh hoạt hơn nhóm formalae Sau đó,
Cowie tiếp tục thiết lập nên hai điều kiện để phân biệt ngữ đồng vị với các khái niệm
khác, đó là tính trong suốt (transparency) và tính thay thế (commutability) Tính trong
suốt nghĩa là lớp nghĩa có thể đoán được dựa vào các từ cấu thành cụm Tính thay thế
có thể hiểu là các thành tố tạo nên kết hợp ngữ này có thể được thay thế bằng các thành tố khác Dựa trên cơ sở này, ông đã phân ra bốn loại kết hợp ngữ bao gồm cụm
Trang 8kết hợp tự do (free combinations), ngữ đồng vị giới hạn (restricted collocations), thành ngữ ẩn dụ (figurative idioms) và thành ngữ thuần túy (pure idioms) Nadja Nesselhauf
(2005)cho rằng bốn loại mà Cowie đã phân biệt vẫn chưa thể coi là phân biệt rạch ròi giữa các khái niệm, nhưng dù sao dựa vào đó, chúng ta phần nào có thể thấy được mức độ nghĩa của các cụm kết hợp ngữ được sắp xếp thành chuỗi như sau:
Cụm kết hợp tự do Ngữ đồng vị giới hạnThành ngữ ẩn dụThành ngữ thuần túy
- Đối với cụm kết hợp tự do (ví dụ: catch the ball), các thành tố có thể được thay thế
tùy thuộc và nghĩa và tất cả các từ tạo thành cụm đều được sử dụng theo lớp nghĩa đen
- Ngữ đồng vị giới hạn (ví dụ: perform a task), các thành tố có thể được thay thế,
nhưng có một mức độ giới hạn về khả năng thay thế này Ít nhất một thành tố có nghĩa đen và ít nhất một thành tố không theo nghĩa gốc, và lớp nghĩa là trong suốt, nghĩa là có thể đoán được dựa vào sự kết hợp của các thành tố
- Thành ngữ ẩn dụ (ví dụ: do a U-turn (hoàn toàn thay đổi chính sách hoặc hành vi của ai đó))thìcác thành tố không thể được thay thế Nghĩa của thành ngữ ẩn dụ có lớp nghĩa bóng, nhưng ở một mức độ nào đó, vẫn có thể đoán được nghĩa của cụm
- Thành ngữ thuần túy (ví dụ: blow the gaff (tiết lộ bí mật)) có các thành tố hoàn toàn
không thể thay thế Nghĩa của cụm thành ngữ thuần túy có lớp nghĩa bóng hoàn toàn và không thể đoán được nghĩa
Khác với các nhà nghiên cứu khác, bên cạnh việc phân biệt ngữ đồng vị với thành ngữ và cụm kết hợp tự do, vàBenson và các tác giả khác (1986) còn đưa thêm
hai khái niệm từ ghép (compounds) và cụm kết hợp chuyển tiếp (transitional combinations) để phân biệt với ngữ đồng vị Ông đã phân biệt thành năm dạng như
sau, năm dạng này được sắp xếp từ cao xuống thấp về tính cố định như sau:
Từ ghép Thành ngữCụm kết hợp chuyển tiếp Ngữ đồng vịCụm kết hợp tự do
(Compounds) (Idioms)(Transitional combinations)(Collocations)(Free combinations)
Trang 9- Từ ghéplà các cụm cố định nhất, không thể biến đổi Ví dụ về danh từ ghép như floppy disk (đĩa mềm) và aptitude test (kiểm tra khảo sát chất lượng), động từ ghép như break through (đâm, xuyên)
- Thành ngữ: là sự diễn đạt tương đối cố định và không chứa nghĩa trong từng thành tố Ví dụ,tokill two birds with one stone (một công đôi việc), to kich the bucket (chết), to spill the beans (giữ bí mật)…
- Cụm kết hợp chuyển tiếplà những cụm kết hợp mà nghĩa của chúng gần với nghĩa của các thành tố, có thể xem như cố định hơn và ít biến đổi hơn ngữ đồng vị Ví dụ: for old time’s sake (vì những hồi ức êm diệu hay đa cảm về quá khứ), the facts of life (sự thật cuộc đời), to be in a tight spot (trong hoàn cảnh khó khăn)
- Ngữ đồng vịlà cụm kết hợp không cố định lắm, thường xảy ra hiện tượng tái kết hợp của các thành tố và nghĩa của cả cụm được thể hiện bằng nghĩa của các thành tố Ví dụ: pure chance, to commit murder, close attention, keen competition
- Cụm kết hợp tự do là cụm có thể kêt hợp tùy ý với các từ khác nhau và nghĩa của chúng chính là nghĩa của các từ tạo thành Ví dụ, to recall an adventure, to analyze
a murder
Cùng quan điểm với Benson và các tác giả khác(1986), Cruse (1986)vàBahns (1993) còn thừa nhận rằng khác với thành ngữ, nghĩa của ngữ đồng vị có thể nhận biết thông qua nghĩa các từ cấu thành cụm So với cụm kết hợp tự do thì tần suất tái kết hợp của các từ trong ngữ đồng vị xảy ra nhiều hơn và chúng ta sẽ cảm thấy quen thuộc khi gặp những cụm này Hay nói một cách khác, có một khoảng cách chuyểntiếp giữa cụm kết hợp tự do và ngữ đồng vị, giữa ngữ đồng vị và thành ngữ , Cruse (1986) 2.1.3 Phân loại ngữ đồng vị
Có rất nhiều các nhà nghiên cứu (Bahns, 1993; Chang, 1997; Liu, 1999; Wang, 2001) đã nghiên cứu về ngữ đồng vị dựa trên lý thuyết của Benson (1986), đặc biệt về sự phân loại các loại ngữ đồng vị Benson và các tác giả khác (1986) đã phân loại ngữ
đồng vị ra thành hai loại, đó là nhóm từ vựng (lexical collocations)(Bảng 2.2) và nhóm ngữ pháp (grammatical collocations) (Bảng 2.3) Trong đó, nhóm từ vựng gồm các
ngữ đồng vị được cấu tạo bởi danh từ, tính từ, động từ và trạng từ Benson và các tác giả khác (1986) đã chia nhóm ngữ đồng vị này cụ thể như sau:
Trang 10Stt Mẫu cấu trúc chung Ví dụ
1 1 2 V1 (chỉ sự tạo ra sản phẩm hoặc tạo ra cảm
giác) + N2 (đại từ hoặc cụm giới từ)
Compose music; make an impression
3 2 V (chỉ sự loại bỏ) + N Revoke a license; demolish
a house
4 3 5 Adj3 + N Strong tea; a rough
estimate
6 4 7 N + V Bees buzz; bombs explode
8 5 N1 + N2 A pack of dogs; a herd of
Bảng 2.2: Nhóm ngữ đồng vị ngữ nghĩa (Benson et al, 1986a)
Tiếp theo, Benson và các tác giả khác (1986) đưa ra các loại ngữ đồng vị ngữ pháp Các ngữ đồng vị trong nhóm này có đặc điểm đó là trong cụm luôn có một từ chi phối, chẳng hạn như danh từ, tính từ hoặc động từ, và một giới từ hoặc động từ nguyên
mẫu (infinitive) hay một mệnh đề Các loại ngữ đồng vị ngữ pháp được chia cụ thể như
sau:
2 2 N + to + Inf6 He was a fool to do it
would do his duty
4 4 Prep + N In advance; at anchor
5 5 Adj + Prep They are afraid of him
6 6 Predicate N + to + Inf It was stupid for them to
go
7 7 Adj + that + Clause She was afraid that she
would fail the exam
1 Động từ (Verb)
2 Danh từ (Noun)
3 Tính từ (Adjective)
4 Trạng từ (Adverb)
5 Giới từ (Preposition)
6 Động từ nguyên mẫu (Infinitive verb)
Trang 118 Có 19 mẫu trong loại này
a SVO to O7 (or) SVOO He sent a book to his
brother a book
b SVO to O They described the book to
her
c SVO for o (or) SVOO She bought a shirt for her
husband She bought her husband a shirt
d SV prep O8 (or) SVO prep O He came by train.We
meeting
e SV to inf They began to speak
television
h SVO to inf She asks me to come
i SVOV-ing I caught them stealing
o SV(O) adv He carried himself well
p SV(O) wh-word He wants what I want
q S (it) VO to inf (or) S (it) VO
that-clause
It surprised me to learn of her decision
It surprised me that our offer was rejected
r SVC (adjective or noun) She was enthusiastic
The flowers smell nice
Bảng 2.3: Nhóm ngữ đồng vị ngữ pháp (Benson 1986)
7 Tân ngữ (Object)
8 Tân ngữ của giới từ (prepositional object)
9 Bổ ngữ (complement)
Trang 12Trong khi đó, với cùng mục đích, Lewis (2000) tìm cách phân loại ngữ đồng vị theo một số kết hợp khác (Bảng 2.4)
1 Adj + N a difficult decision
2
4 V + Adj + N revise the original plan
5 Compound N fire escape
6 Cụm hai danh từ (Binomial) backwards and forwards
7 Cụm ba danh từ (Trinomial) hook, line and sinker
9 V + Adv examine thoroughly
10 Adv + Adj extremely inconvenient
11 Cụm từ kết nối câu To put it another way
12 Cụm giới từ (multi-word
prepositional phrase)
a few years ago
13 Động ngữ (phrasal V) turn in
15 Cụm cố định (fixed phrase) On the other hand
16 Cụm cố định không hoàn toàn
(incomplete fixed phrase)
See you later/tomorrow/on Monday
19 Tục ngữ (part of a proverb): Too many cooks
20 Lời trích (part of a quotation) To be or not to be
Bảng 2.4: Cách phân loại ngữ đồng vị theo Lewis (2000)
2.2.1 Những vấn đề chung
Khó khăn tiếp của người học về ngữ đồng vị đó là người học không có khả năng nhận biết ngữ đồng vị trong một bài đọc Vấn đề đó là ngữ đồng vị không thu hút được sự chú ý của người học một cách hiệu quả (Hill, 2000; Conzett, 2000; Woolard, 2000; Lewis, 2001; Nakamura, 2003; Ying & Hendricks, 2004) và xuất hiện một cách
Trang 13thông thường, không có đặc điểm gì khác biệt rõ rệt Thông thường khi đọc một đoạn văn nào đó, chúng ta thường chú ý đến những từ mới riêng lẻ mà không nhận ra được hay bỏ qua những từ quen thuộc thường đi chung với từ đó Vì thế, dù cho chúng ta có gặp một cụm ngữ đồng vị xuất hiện thường xuyên ở các văn bản khác nhau thì khả năng nhận biết và sử dụng nguyên cụm này với nhau là rất hạn chế
Thậm chí ngay trong lớp học, giáo viên cũng thường bỏ qua giai đoạn hướng dẫn học sinh học từ theo cụm, hay ngữ đồng vị Vì thế, khi gặp một bài đọc hiểu nào
đó, người học thường xem nhẹ phương pháp học này và cho rằng chỉ cẩn tra từ điển hết nghĩa tất cả các từ mới là ổn Có thể nói nhận thức của người học về tầm quan trọng của ngữ đồng vị cũng là một trong những khó khăn của người học trong việc luyện tập ngữ đồng vị Hơn nữa, theo Mackin (1978), tuy ngữ đồng vị rất quan trọng nhưng ông cho rằng thật không dễ dàng cho việc dạy và học hàng ngàn cụm ngữ đồng vị Đồng ý với quan điểm này còn có Rudzaka, Channell, Putseys và Ostyn, 1981; Allerton, 1984; Bahns 1993 Để làm rõ hơn về khó khăn này, nhiều nhà nghiên cứu còn tiến hành nhiều cuộc nghiên cứu thực tiễn về cơ chế hình thành ngữ đồng vị cho
cả người bản ngữ và người học ngoại ngữ (Bahn, 1993; Bahns và Eldaw, 1993; Biskup, 1992; Caroli, 1998; Elyildirm, 1997; Ghadessy, 1989; Gitsaki, 1999; Granger, 1998; Greenbaum, 1970; Howard, 1993, 1998a, 1998b)
Cuối cùng, có thể nói rằng một khó khăn lớn về việc học ngữ đồng vị đó là định nghĩa về ngữ đồng vị vẫn còn chưa nhất quán trong các định nghĩa khác nhau của các nhà nghiên cứu Firth (1957) là người đầu tiên giới thiệu về ngữ đồng vị, tiếp sau đó thì có rất nhiều nhà nghiên cứu khác hình thành những định nghĩa khác nhau về ngữ đồng vị, chẳng hạn như Backlund (1973), Cruse (1986), Crystal (1985), Halliday (1966), McIntosh và Streven (1964), Ridout và Waldo-Clarke (1970), Seaton (1982) Cũng chính vì thế mà các nhà nghiên cứu khác nhau có cách phân biệt ngữ đồng vị với các khái niệm khác như thành ngữ, cụm kết hợp tự do là rất khác nhau khiến cho
người học vẫn chưa thể phân biệt rạch ròi giữa các khái niệm và có thể nhầm lẫn
Có khá nhiều giả thuyết và công trình nghiên cứu liên quan đến ngữ đồng vị, điều này đã hình thành nên những đặc điểm khác nhau của ngữ đồng vị, tùy thuộc vào mối quan tâm và quan điểm của mình mà các nhà nghiên cứu tập trung vào nghiên cứu những khía cạnh khác nhau của ngữ đồng vị Tuy nhiên, ba tính chất được đề cập sau đây được xem là ba tính chất thường gặp nhất mỗi khi nhắc đến ngữ đồng vị
Trang 142.2.2.1 Tính bất quy tắc của ngữ đồng vị
Việc học ngữ đồng vị tương đối khó khăn đối với người học ngoại ngữ (Nakhimove,1979) Trong hầu hết các trường hợp, người học không đơn giản là chỉ dịch từng từ một sang tiếng bản mẹ đẻ của mình Như chúng ta có thể thấy ở bảng 2.5,
việc dịch cụm từ “to open the door” không có gì khác trong tất cả năm ngôn ngữ khác nhau Ngược lại, khi dịch cụm từ “to break down/ force the door” lại là một vấn đề khi dịch cụm này trong năm ngôn ngữ trên Sự xuất hiện của từ “door” và “see” là một sự kết hợp tự do, trong khi sự kết hợp giữa từ “door” và “break” lại biến thành một ngữ đồng vị Người học không thể tự tạo nên cụm “to break down a door” cho dù
ngôn ngữ bản địa của họ là tiếng Pháp, Đức, Ý, Tây Ban Nha hay Thổ Nhĩ Kỳ nếu họ không nhận thức được cấu thành của nó
Kiến thức vững chắc về cấu trúc cú pháp và ngữ nghĩa vẫn chưa đủ cho hiểu vàviệc dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác vì ngữ đồng vị có tính bất quy tắc, chúng phải thực sự tồn tại ở cả hai ngôn ngữ mới có thể chuyển ngữ một cách chính xác (Bảng 2.5)
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To see the door
To break down/ force the door
To break down/ force the door
To break down/ force the door
To break down/ force the door
To break down/ force the door
To push the door through
To break the door
To hit/demolish the door
To fall the door
To break the door
Bảng 2.5: So sánh ngôn ngữ học của Ngữ đồng vị (Smadja, 1993)
Trang 15short”, “to ease the jib” là đặc điểm của những ngữ đồng vị cụ thể trong một ngữ
cảnh nào đó Cả hai loại này thường xuất hiện trong các văn cảnh
2.2.1.3 Tính linh hoạt của ngữ đồng vị
Một vài dạng ngữ đồng vị rất linh hoạt, chúng có thể bị tách ra bởi một từ, đặc biệt là một tính từ Thông thường, những dạng ngữ đồng vị sau có thể tách được: (Bảng 2.6)
Bảng 2.6 Bảng các ngữ đồng vị linh hoạt (Fanit Rabeh,2009)
2.2.2 Chiến lược trong việc học ngữ đồng vị
2.2.2.1 Bảng ngữ đồng vị
Một trong những nghiên cứu ban đầu về việc giảng dạy ngữ đồng vị cho rằng người học không nhận ra hết được những chức năng của những từ vựng đã biết (Channell, 1981) bởi vì chúng chỉ được sử dụng để hình thành nên một số lượng ngữ đồng vị hạn chế Để có thể vượt qua được việc sử dụng ngữ đồng vị một cách rất hạn chế này, người học cần được tiếp xúc với một số lượng lớn các ngữ đồng vị phổ biến bất cứ khi nào giáo viên giảng dạy từ vựng Cụ thể bằng cách sử dụng Bảng ngữ đồng vị như ví dụ sau:
Bảng 2.7: Bảng ngữ đồng vị
Adj+N black market→ black illigal market
V+N exert an effort→ exert a great effort N+N (the of-gennitive) association of ideas→ association of some ideas
N+V bee buzz→ bees strongly buzz V+Prep long for→ long so much for
Trang 16Bảng ngữ đồng vị đặc biệt thích hợp cho việc giảng dạy những cụm ngữ đồng vị kết hợp giữa tính từ - danh từ (Adj + N) và động từ - cụm danh từ (V + N) Ví dụ, bảng ngữ đồng vị có thể được sử dụng để biểu thị những cụm ngữ đồng vị kết hợp
giữa tính từ - danh từ, chẳng hạn như qualified physiotherapist Nó cũng phù hợp cho
việc phát triển nhận thức của người học về những hạn chế của sự kết hợp giữa động từ
với danh từ, chẳng hạn như get my tea, going on holiday và made him some tea sau khi
người học gặp phải chúng trong bài đọc nào đó
Tuy nhiên, phương pháp sử dụng bảng ngữ đồng vị này cũng có một số hạn chế Theo Nesselhauf (2005), bảng ngữ đồng vị bị hạn chế về tính hiệu quả bởi vì chúng chỉ cung cấp thông tin về hình thức của ngữ đồng vị, nhưng không có hướng dẫn cách để sử dụng chúng Người học chỉ có thể biết cách sử dụng ngữ đồng vị bằng cách học chúng trong ngữ cảnh Vì vậy, khi sử dụng bảng ngữ đồng vị, giáo viên cần nhận thấy những hạn chế của chúng và sử dụng chúng một cách hợp lí
khác nhau (Concordances)
Concordances là danh sách những ví dụ về các ngữ đồng vị được sử dụng trong nhữ cảnh khác nhau Sử dụng concordances có những lợi ích nhất định cho việc học ngữ đồng vị của người học ngoại ngữ Tuy nhiên, một vấn đề của Concordances đó là
danh mục những ví dụ của từ được tìm kiếm có thể tạo nên sự hoang mang cho người
học Ví dụ, danh mục các concordances khi tìm kiếm mục từ looking up sẽ cung cấp
nhiều cách sử dụng khác nhau
Đây là một công cụ hữu dụng cho việc giảng dạy ngữ đồng vị Ví dụ, khi tìm
kiếm mục từ looking up trong concordances, nó sẽ cung cấp nhiều cách sử dụng khác nhau và nghĩa của chúng (bảng 2.8) Trong khi phương pháp sử dụng concordances có
ảnh hưởng tích cực đến những người học ở trình độ cao, thì nó lại không thích hợp và
dễ gây hoang mang cho những người ở trình độ thấp hơn Vì vậy, mặc dù việc sử dụng
concordances có thể hữu ích nhưng giáo viên nên cân nhắc kĩ làm cách nào để sử dụng
chúng một cách hiệu quả nhất
Ví dụ về concordances đối với mục từ looking up:
Trang 17Bảng 2.8: Danh sách ví dụ về các ngữ đồng vị cho mục từ looking up
(the Bank of English)
Từ điển ngữ đồng vị là một nguồn tài liệu có giá trị khác, đặc biệt đối với người học ở trình độ cao Giáo viên có thể thiết kế các hoạt động trong lớp sử dụng từ điển ngữ đồng vị cũng như cung cấp những chiến lược học tập độc lập để phát triển kiến thức của sinh viên về ngữ đồng vị Ví dụ, nếu người học gặp khó khăn trong việc hiểu
ill, the food stores were not in a good way either He paused, looking up into the
sky, eyes straining Was the object growing larger?
aving time to begin a new project," said Ninheimer, without looking up from the
notations he was making in the current issue of So
as one of the few remaining private homes `I say, things arelooking up a bit!
Father's flat in Paris wasn't nearly as grand as this."
ole bonne femme He was moved to Aldershot Things are looking up I've
landed a job in the kitchen of the officers' mess of th
r her." "Galilee built this house?" Niolopua nodded, still not looking up
"When?" "I don't know exactly A long time ago It was the
he said scarcely a word throughout the supper, seldom even looking up from her
plate There was no doubt as to the star of the eve
flower in the hedgerow; the drone of a jet overhead, and his looking up,
squinting against the brightness of the sky, to see it making
udents, telling a story about how God 's hands worked; then looking up and
seeing a stranger at the back of the room, and dying Hi
tower with a beautiful marble balcony rose from the castle Looking up, Jung
noticed the elegant figure of a regal woman sitting o
ead made public their findings for others to apply Life was looking up when, in
1906, Pierre died after being run over by a lumber
at the petri dish had not only not been contaminated, but, on looking up the
records, found that the climate in London in July to Aug
cher." The couple had returned from the park and were now looking up towards
the sky through a hole in the roof of the turf shed
heck for trachoma hung from the ceiling `God," Mark said, looking up at it,
`vicious." He began to compare the texts of the psalm
egory sat down to eat with his new family, not speaking, not looking up, worried
that no one would feed Oliver, that he would nevehis wings in intellectual
exploration He had spent his time looking up pointless information, memorizing
facts, and writing papers
Trang 18cụm từ she’s made a fool of you, họ có thể tra cứu từ fool trong từ điển Mục từ fool trong từ điển Collins COBUILD Advaned Learner cung cấp thông tin và những ví dụ
như:
“If you make a fool of someone, you make them seem silly by telling people about
something stupid that they have done, or by tricking them Your brother is making afool of you… He’d been made a fool of.”
Từ điển ngữ đồng vị có một vài tác động tích cực đến người học Chẳng hạn những thông tin ngữ cảnh về cụm ngữ đồng vị được tìm kiếm bổ trợ cho việc hiểu thấu hết được nghĩa của cụm ngữ đồng vị đó cũng như thấy được mức độ hạn chế khi sử dụng nó Ngoài ra, loại từ điển đặc biệt này cũng cung cấp những cụm khác liên quan
đến cụm được tìm kiếm, chẳng hạn như từ fool còn có thêm more fool of you, play the fool và act the fool, điều này có tác động tích cực rất nhiều đối với người học ở trình
độ cao Tuy nhiên, để đạt được lợi ích tối ưu của việc sử dụng từ điển ngữ đồng vị, người học cần phải có một phương pháp hệ thống khi tiếp nhận thông tin tìm kiếm Nếu người học được hướng dẫn sử dụng từ điển này một cách hiệu quả, họ có thể học ngữ đồng vị một cách độc lập và có khả năng phát triển kiến thức về ngữ đồng vị của mình
2.2.2.4 Phương pháp ghi nhớ
Một chiến lược hữu hiệu để ghi nhớ những cụm từ cố định là học với cách thức
tương tự như học một từ vựng riêng lẻ, chẳng hạn như các cụm you can talk, what do you call it hay what’s he got to do with it? Nation (2001) đã liệt kê các bước ghi nhớ
như sau:
a Viết mỗi cụm từ lên một mặt của miếng giấy nhỏ cùng với lời dịch lên mặt kia
b Lặp lại cụm từ to rõ trong khi ghi nhớ
c Sử dụng những mẹo ghi nhớ như kỹ thuật từ khóa, đặt cụm từ vào câu, hình
dung các ví dụ về cụm từ và phân tích từng phần trong ví dụ đó
d Không kết hợp cụm từ với những từ tương đồng hay những nghĩa tương đồng
với nhau Chúng sẽ cản trở lẫn nhau
e Giữ sự thay đổi trật tự của các miếng giấy để tránh việc học hàng loạt Cách học
như thế này là một hoạt động hữu ích cho việc ghi nhớ các cụm từ cố định, mặc
dù phương pháp này có thể gặp khó khăn trong việc dịch nghĩa các cụm không
Trang 19phổ biến và những cụm mang tính thành ngữ sang tiếng mẹ đẻ mà vẫn lưu giữ được nghĩa chính xác của chúng
2.3 Vai trò của ngữ đồng vị trong việc phát triển ngôn ngữ và các kỹ năng ngôn ngữ
Chan & Liou (2005) giải thích việc dạy ngữ đồng vị trong những lớp học tiếng Anh thường không được quan tâm một cách đầyđủ, kết quả dẫn đến việc người học tiếng Anh sử dụng ngữ đồng vị rất kém Đồng thời, nghiên cứu của Nizonkiza (2012:202) cũng chứng minh được mối liên hệ giữa kiến thức ngữ đồng vị và sự thông thạo ngoại ngữ - sinh viên có năng lực ngôn ngữ cao hơn thường có kiến thức về đồng vị ngữ tốt hơn Tương tự,Conklin và Schmitt (2008) đã tìm ra “những chuỗi từ có tính công thức” sẽ được người tham gia đọc nhanh hơn những chuỗi không có Tóm lại ngữ đồng vị giúp cho quá trình xử lí ngôn ngữ hiệu quả hơn trong cả lúc tiếp thu và khi trình bày
Đối với việc phát triển vốn từ vựng, biết về một từ được xác định trong câu như thế nào thì hiệu quả hơn việc đơn giản chỉ biết nghĩa của chính bản thân từ đó nó Theo Thornbury (2002:116) thì khả năng triển khai một cụm từ sao cho chính xác và thích hợp là điều phân biệt lớn nhất giữa người học ngoại ngữ ở trình độ cao và những người ở trình độ trung Học ngữ đồng vị không chỉ nâng vốn từ vựng mà còn làm tăng sự lưu loát trong các kỹ năng Nattinger (1988) là một trong những nhà nghiên cứu đầu tiên thảo luận về ngữ đồng vị Nhà nghiên cứu này nói rõ rằng ý nghĩa của một từ phụ thuộc hoàn toàn vào những từ đi kèm với nó, với sự hỗ trợ của những ngữ đồng vị người học sẽ dễ nhớ từ và suy luận được nghĩa của từ trong nội dung bài đọc một cách
dễ dàng Ông cũng cho biết rằng khái niệm ngữ đồng vị là cực kì quan trọng trong việc tiếp thu từ vựng nhưng trong thực tế, khả năng của nó đã không được tận dụng một cách toàn bộ
Tương tự, đối với sự phát triển các kỹ năng ngôn ngữ, đồng vị ngữ cũng đóng một vai trò quan trọng Khi đề cập đến mối liên hệ của đồng vị ngữ và kỹ năng nghe, Hongying (2005:82) cho biết bằng việc sử dụng kiến thức ngữ đồng vị trong khi nghe hiểu, những yếu tố thành phần có thể được xác định với quá trình hiểu được rút ngắn
đi, nhờ vào cụm từ vựng mà ngữ đồng vị mang lại.Ý nghĩa của ngữ đồng vị dường như xuyên suốt từ một phần câu này sang phần câu khác, và những yếu tố chắc chắn về ý