Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài Bài nghiên cứu tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên,
Trang 1KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015
Trang 2KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HỒ CHÍ MINH
Giáo viên hướng dẫn
Th.s Trương Vỹ Quyền
Thành viên nghiên cứu
Lê Quốc Huỳnh (chủ nhiệm đề tài)
Nguyễn Thị Thu Hà Thái Tôn Thiên Phát
Võ Lê Ngân Thảo
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 3 năm 2015
Trang 33
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU 5
DANH MỤC VIẾT TẮT 6
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7
THÔNG TIN VỀ SINH VIÊN CHỊU TRÁCH NHIỆM CHÍNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI 10
LỜI CẢM ƠN 11
MỞ ĐẦU 12
Chương 1 Tổng quan tình hình dạy và học tiếng Trung khoa Ngoại ngữ trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh 15
1.1 Đặc trưng của ngành tiếng Trung 15
1.2 Chương trình đào tạo 16
1.3 Đối tượng đào tạo 18
1.4 Những hiện tượng và khó khăn tồn tại 19
Chương 2 Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 21
2.1 Cơ sở lí thuyết 21
2.2 Phương pháp nghiên cứu 31
Chương 3 Phân tích và diễn giải cứ liệu khảo sát 35
3.1 Động cơ học tập 35
3.2 Những khó khăn cần khắc phục 46
3.3 Những yếu tố khác 64
Chương 4 BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC 68
4.1 Kĩ năng ngôn ngữ 68
4.2 Kiến thức chuyên ngành 73
4.3 Các yếu tố khác 75
Chương 5 78
KẾT LUẬN 78
5.1 Các kết luận chính 78
Trang 44
5.2 Một số kiến nghị đối với sinh viên, giảng viên về việc dạy và học tiếng Trung
chuyên ngành 80
5.3 Thành công và hạn chế của đề tài 80
5.4 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 55
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng:
Bảng 1: Tương lai ngành tiếng Trung 36
Bảng 2: Mức độ tổ chức hoạt động ngoại khóa của nhà trường 38
Bảng 3: Thành tích ảnh hưởng đến quá trình học tập 39
Bảng 4: Thái độ của gia đình trong việc học tiếng Trung của sinh viên 40
Bảng 5: Sự hứng thú của sinh đối với tiếng Trung 41
Bảng 6: Sinh viên tự nguyện theo học ngành tiếng Trung 42
Bảng 7: Lí do sinh viên chọn ngành tiếng Trung 43
Bảng 8: Suy nghĩ từ bỏ tiếng Trung của sinh viên trong quá trình học tập 44
Bảng 9: Tổng hợp những khó khăn trong kĩ năng ngôn ngữ 49
Bảng 10: Tổng hợp những khó khăn trong kiến thức chuyên ngành 62
Bảng 11: Tổng hợp những khó khăn khác 65
Biểu đồ: Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm thời gian sinh viên học tiếng Trung 37
Biểu đồ 2: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm các nhân tố ảnh hưởng đến thái độ học tập của sinh viên 45
Trang 77
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP HCM
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
I Thông tin chung
- Tên đề tài: Khảo sát động cơ học tập và khó khăn cần khắc phục cỉa sinh viên chuyên
ngành tiếng Trung khoa Ngoại ngữ trường Đh Mở Tp Hồ Chí Minh
- Sinh viên thực hiện: Lê Quốc Huỳnh
Nguyễn Thị Thu Hà Thái Tôn Thiên Phát
Võ Lê Ngân Thảo
- Lớp: DH12HV01 - DH12HV02 Khoa: Ngoại ngữ
Năm thứ: 03
Số năm đào tạo: 04
- Người hướng dẫn: Thạc sĩ Trương Vỹ Quyền
II Mục tiêu đề tài
Đề tài nghiên cứu thực hiện với mục tiêu: Một là, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ học tập của sinh viên Hai là, phân tích những khó khăn trong quá trình học tập của sinh viên qua từng giai đoạn Ba là, đưa ra một số biện pháp khắc phục và phương pháp học tập hiệu quả giúp sinh viên có thể tiếp thu nhanh trong quá trình học
III Tính mới và sáng tạo
Kết quả nghiên cứu sẽ là đóng góp nghiên cứu khoa học đầu tiên tại trường đại học Mở
Tp HCM về khảo sát động cơ học tập và khó khăn cần khắc phục của sinh viên chuyên ngành tiếng Trung một cách tổng quan nhất
Và trong chừng mực nhất định, kết quả nghiên cứu là kênh thông tin để các thầy cô làm công tác quản lý, thầy cô tham gia giảng dạy hay các đơn vị quản lý có liên quan trong trường có thêm thông tin xử lý, điều chỉnh hay hoàn thiện tốt hơn về việc dạy và học
Trang 88
chuyên ngành tiếng Trung Đồng thời, đây cũng là tài liệu cho các bạn sinh viên tham khảo
để rút ra kinh nghiệm và phương pháp học tập đúng đắn cho bản thân
IV Kết quả nghiên cứu
Từ phần phân tích và diễn giải những cứ liệu thu được, cho thấy động cơ học tập là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình học tập của sinh viên Bên cạnh đó cũng cho thấy rằng đa số sinh viên đều gặp phải khó khăn khi tiếp thu kĩ năng ngôn ngữ ( nghe, nói, đọc, viết) và kiến thức chuyên ngành
Sinh viên chỉ chú trọng trong việc tham gia các hoạt động học tập trên lớp, không quan tâm lắm việc tham gia các họat động ngoại khóa để nâng cao khả năng ngôn ngữ và kiến thức cho bản thân Hơn nữa, đa số sinh viên đều chưa tìm ra phương pháp học tập hiệu quả
V Đóng góp về mặt kinh tế - xã hội, giáo dục và đào tạo, an ninh, quốc phòng và khả năng áp dụng của đề tài
Bài nghiên cứu tìm ra những yếu tố ảnh hưởng đến động cơ học tập của sinh viên, chỉ
ra những khó khăn sinh viên găp phải trong quá trình học tập thông qua gian đoạn tiếp nhận kĩ năng ngôn ngữ và giai đoạn tiếp thu kiến thức chuyên ngành Kết quả nghiên phần nào làm rõ được thực trạng học tập chuyên ngành tiếng Trung của sinh viên Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ là một kênh thông giúp nhà trường, giảng viên có cái nhìn thực
tế những hoạt động học tập của sinh viên, từ đó đưa ra những biện pháp quản lý, giảng dạy phù hợp để nâng cao chất lượng học tập
VI Công bố khoa học của sinh viên từ kết quả nghiên cứu của đề tài (ghi rõ tên tạp chí
nếu có) hoặc nhận xét, đánh giá của cơ sở đã áp dụng các kết quả nghiên cứu (nếu có):
Trang 99
Nhận xét của người hướng dẫn về những đóng góp khoa học của sinh viên thực hiện
đề tài (phần này do người hướng dẫn ghi):
Đề tài nghiên cứu “ Khảo sát động cơ học tập và khó khăn cần khắc phục của sinh viên chuyên ngành tiếng Trung khoa Ngoại ngữ trường Đh Mở Tp HCM “ là một đề tài mới, đồng thời cũng tồn tại độ khó nhất định trong quá trình nghiên cứu Nhóm sinh viên thực hiện đã từng bước cụ thể hóa các hiện tượng, kết hợp với các số liệu khảo sát được để từng bước mô tả các khó khăn gặp phải trong quá trình học tập, đây là một đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc có giá trị tham khảo cho sinh viên, giảng viên giảng dạy, nhất là nó được khảo sát ở góc độ người học Nhóm sinh viên thực hiện đã làm việc hăng say với tất
cả niềm say mê trong nghiên cứu khoa học
Trang 10I Sơ lược về sinh viên
Họ và tên: Lê Quốc Huỳnh
Sinh ngày: 10/04/1993
Nơi sinh: Hà Tĩnh
Lớp: DH12HV02 Khóa: 2012 - 2016
Khoa: Ngoại ngữ
Địa chỉ liên hệ: 426/11 Hà Huy Giáp, Phường Thạnh Lộc, Quận12, Tp HCM
Điện thoại: 0972837260 Email: huynhrookie@gmail.com
II Quá trình học tập
• Năm thứ 1
Ngành học: Ngôn ngữ Trung Quốc Khoa: Ngoại ngữ
Kết quả xếp loại học tập: 6.80 Loại : Trung bình - khá
• Năm thứ 2
Ngành học: Ngôn ngữ Trung Quốc Khoa: Ngoại ngữ
Kết quả xếp loại học tập: 7.55 Loại : Khá
Ngày 11 tháng 3 năm 2015
Xác nhận của đơn vị Sinh viên chịu trách nhiệm
(ký, họ và tên)
Lê Quốc Huỳnh
Trang 1111
LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô, Ban lãnh đạo nhà trường và Ban lãnh đạo khoa Ngoại ngữ trường Đh Mở Tp Hồ Chí Minh đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi giúp chúng tôi thực hiện xong bài nghiên cứu này
Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Lý Uy Hân – giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn “ Nghiên cứu khoa học ” đã cung cấp cho chúng tôi những kiến thức quý báu trong quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt chúng tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy Trương Vỹ Quyền, người tận tình hướng dẫn chúng tôi hoàn thành bài nghiên cứu Cám ơn thầy trong suốt thời gian qua dù có nhiều công việc bận rộn nhưng thầy luôn dành thời gian hướng dẫn, giúp chúng tôi tìm ra những hướng đi mới và phương hướng giải quyết tốt nhất
để chúng tôi hoàn thành đề tài
Lời cuối cùng, chúng tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên khóa 2013, 2012, 2011 đã dành thời gian giúp chúng tôi hoàn thành bảng khảo sát, giúp chúng tôi tìm hiểu rõ hơn về động cơ học tập và những khó khăn cần khắc phục của sinh viên chuyên ngành tiếng Trung
Sinh viên thực hiện
Lê Quốc Huỳnh
Trang 1212
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, tiếng Trung là một trong những ngôn ngữ phổ biến trên toàn thế giới, một
số nước Châu Á như Malaysia, Singapore cũng sử dụng tiếng Trung Hơn thế nữa tiếng Trung là một trong bảy ngôn ngữ được sử dụng tại Liên Hợp Quốc Nắm bắt được xu thế này, nhiều trường đại học của Mỹ, Anh, Canada, Hàn Quốc… đã đưa ngành tiếng Trung vào hệ thống đào tạo giáo dục Tại Việt Nam, rất nhiều trường đại học trên toàn quốc đã đưa tiếng Trung vào đào tạo và hằng năm đều thu hút được hàng trăm nghìn thí sinh đăng
kí dự thi và theo học Bên cạnh đó theo thống kê đến năm 2012 Trung Quốc có 842 dự án đầu tư vào Việt Nam với vốn đầu tư trên 4,3 tỷ USD ( Tổng cục thống kê )1, nhưng hiện nay lượng sinh viên tốt nghiệp ngành tiếng Trung từ các trường Đại học vẫn chưa đáp ứng
đủ nhu cầu tuyển dụng của các công ty xí nghiệp có sử dụng tiếng Trung, từ đó cho thấy đây là những thuận lợi dành cho sinh viên theo học ngành tiếng Trung
Bên cạnh đó, một hiện thực cho thấy dường như tiếng Trung không phải là ngôn ngữ dễ học, nhiều sinh viên sau khi nhập học một thời gian thường có dấu hiệu chán nản, muốn từ bỏ vì độ khó của chuyên ngành Mặt khác, xuất phát từ những khó khăn trong quá trình học tập của bản thân, chúng tôi thấy rằng đây là một đề tài thiết thực đối với sinh viên
Vì Vậy, nhóm chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài này mong muốn có những đóng góp khoa học và thực tiễn nhất định khi đề tài hoàn thành
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực hiện nhằm giải quyết các phương diện sau đây:
- Một là, tìm ra những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến động cơ học tập của sinh viên
- Hai là, phân tích những khó khăn trong quá trình học tập của sinh viên qua từng giai đoạn
- Đưa ra một số biện pháp khắc phục và phương pháp học tập hiệu quả giúp sinh viên
có thể tiếp thu nhanh trong quá trình học
1 http://www.cc.lhu.edu.vn/21/22185/Lua-chon-Nganh-ngon-ngu-Trung-Quoc-su-dau-tu-dung-dan-cho-tuong-lai.html
Trang 1313
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Sinh viên chuyên ngành tiếng Trung
- Phạm vi nghiên cứu: Công trình nghiên cứu của chúng tôi được thực hiện tại khoa Ngoại ngữ trường Đh Mở Tp Hồ Chí Minh với những sinh viên đang theo học ngành tiếng Trung theo hệ đào tạo Đại học chính quy ( niên khóa: 2011, 2012,
2013 ) Cụ thể:
+ Một lớp sinh viên năm 2 ( DH13HV01 ) với 33 phiếu
+ Hai lớp sinh viên năm 3 ( DH12HV01 và DH12HV02 ) với 40 phiếu
+ Một lớp sinh viên năm 4 ( DH11HV01 ) với 34 phiếu
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
- Về mặt khoa học
Cung cấp những số liệu thực nghiệm về các nhân tố tác động đến động cơ học tiếng Trung của sinh viên chuyên ngành, đồng thời mong muốn đóng góp vào việc cải thiện được những khó khăn trong việc đào tạo và học tiếng Trung Đồng thời kết quả nghiên cứu
sẽ là những đóng góp khoa học thiết thực mang tính tham khảo cho việc Dạy và Học của ngành tiếng Trung nói riêng và khoa Ngoại ngữ nói chung tại trường Đh Mở Tp Hồ Chí Minh
- Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn cung cấp những thông tin cần thiết cho các thầy cô làm công tác quản lí, giảng viên tham gia giảng dạy hay các đơn vị quản lí của nhà trường trong việc xử lí, điều chỉnh, hoàn thiện tốt hơn trong việc đào tạo và giảng dạy chuyên ngành tiếng Trung Bên cạnh đó, chúng tôi hi vọng đề tài là kênh tư liệu cho sinh viên chuyên ngành tham khảo, từ đó đưa ra những cơ sở và phương pháp học tập hợp lí để khắc phục những khó khăn trong quá trình học tập
5 Bố cục của đề tài
Ngoài phần mở đầu, đề tài được chia làm năm chương:
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH DẠY VÀ HỌC TIẾNG TRUNG CỦA KHOA NGOẠI NGỮ TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỞ TP.HỒ CHÍ MINH
CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trang 1414
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VÀ DIỄN GIẢI CỨ LIỆU KHẢO SÁT CHƯƠNG 4: BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN
Trang 1515
Chương 1 Tổng quan tình hình dạy và học tiếng Trung khoa Ngoại ngữ trường Đại học Mở Tp Hồ Chí Minh
1.1 Đặc trưng của ngành tiếng Trung
Trường Đh Mở TP HCM được thành lập theo quyết định số 451/ TCCB ngày 15/6/1990 của Bộ Giáo dục và Đào tạo với tên gọi là Viện Đào tạo mở rộng Tp Hồ Chí Minh, đến năm 1993 trường đổi tên là Đh Mở bán công Tp Hồ Chí Minh Từ năm 2006, theo quyết định số 146/ 2006/ QĐ- TTg ngày 22/ 6/ 2006 của Thủ tướng chính phủ, trường được chuyển sang trường công lập thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, mang tên trường Đh Mở
Tp Hồ Chí Minh Khoa Ngoại ngữ được thành lập vào tháng 9/1990 với tôn chỉ là “Học tập mở” Khoa tổ chức đào tạo hệ Đại học chính quy bao gồm các chuyên ngành: ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Nhật, ngôn ngữ Trung Quốc Ngành tiếng Trung của khoa Ngoại ngữ trường Đh Mở Tp Hồ Chí Minh được chính thức đưa vào giảng dạy vào năm 2005 với mục tiêu đào tạo là: “…đào tạo những cử nhân Tiếng Trung Quốc có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất chính trị, đạo đức, tác phong nghề nghiệp và có sức khoẻ tốt để có thể làm việc hiệu quả trong các ban ngành có yếu tố tiếng Trung… đáp ứng yêu cầu của xã hội và của nền kinh tế trong quá trình hội nhập quốc tế.”1
Điểm đặc sắc trong chương trình cử nhân tiếng Trung là đa phần các môn chuyên ngành đều được giảng dạy bằng tiếng Trung phổ thông, do đó sinh viên chẳng những được trang bị lượng kiến thức phù hợp, mà khả năng ngoại ngữ cũng được hoàn thiện theo từng giai đoạn
Về chương trình đào tạo riêng của ngành tiếng Trung, ta có thể hiểu được đây là một chuyên ngành đào tạo về ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc Người học sẽ được trang bị kiến thức về văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội, chính trị, môi trường thiên nhiên,… của khu vực văn hóa Trung Quốc Bên cạnh đó, chương trình đạo tạo giúp người học đạt được năng lực sử dụng thành thạo các kĩ năng giao tiếp bằng tiếng Trung Quốc ( nghe, nói, đọc viết ),
1 http://www.ou.edu.vn/nn/Pages/Chuong-trinh-dao-tao.aspx
Trang 16Về kiến thức ngoại ngữ khác, trong chương trình đào tạo sinh viên sẽ được chọn một trong các ngôn ngữ Anh, Nhật, Pháp, Tây Ban Nha ở trình độ giao tiếp căn bản và tham khảo tài liệu
Sinh viên sau khi tốt nghiệp sẽ có cơ hội làm việc tại các cơ quan, công ty liên doanh, trong nước và nước ngoài về giao dịch thương mại, du lịch, văn phòng….Đồng thời, sinh viên còn có cơ hội học chương trình thạc sĩ tiếng Trung trong nước hoặc nhận học bổng từ chính phủ Trung Quốc tài trợ
1.2 Chương trình đào tạo
1.2.1 Thời gian đào tạo
Chương trình đào tạo cử nhân tiếng Trung của trường Đh Mở Tp Hồ Chí Minh được thực hiện trong 4 năm, 11 học kỳ với 138 tín chỉ ( không kể Giáo dục quốc phòng và Giáo dục thể chất )
1.2.2 Số môn đào tạo
Tổng số môn đào tạo ngành ngôn ngữ Trung Quốc được phân thành hai khối kiến thức:
Một là, kiến thức giáo dục đại cương ( bao gồm: Lí luận Mác- Lê Nin và tư tưởng
Hồ Chí Minh; Khoa học xã hội và nhân văn; Ngoại ngữ hai; Tin học; Giáo dục thể chất và Giáo dục quốc phòng ), nhằm giúp sinh viên nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, có hiểu biết về các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối Cách mạng của Đảng Cộng Sản Việt Nam và Tư tưởng Hồ Chí Minh, có
Trang 17âm, từ vựng, cú pháp, ngữ nghĩa; có những hiểu biết cơ bản về văn hóa – văn học của nước Trung Quốc; có kiến thức chuyên môn về biên dịch và phiên dịch; có vốn ngữ pháp đặc thù trong lĩnh vực dịch thuật, có vốn thuật ngữ cơ bản về các lĩnh vực chuyên ngành kinh tế, thương mại, du lịch, văn phòng
1.2.3 Nội dung đào tạo: Bao gồm hai lĩnh vực
- Kỹ năng ngôn ngữ: Cung cấp cho sinh viên có đầy đủ năng lực sử dụng thành thạo các kỹ năng giao tiếng bằng tiếng Trung và đạt được trình độ nghiệp vụ đủ để hoạt động và công tác có hiệu quả trong các lĩnh vực chuyên môn như giảng dạy, biên – phiên dịch, các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ, kinh doanh, kinh tế và xã hội
- Kỹ năng nghề nghiệp: Cung cấp cho sinh viên kiến thức sâu về ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội của Trung Quốc Đồng thời trang bị cho sinh viên các kiến thức cần thiết về lí thuyết dịch, kỹ năng – kỹ thuật nghiệp vụ biên dịch và phiên dịch Ngoài ra, chương trình còn giúp sinh viên bước đầu hình thành tư duy và năng lực nghiên cứu khoa học về các vấn đề ngôn ngữ, văn hóa, văn minh hoặc các vấn đề trong lĩnh vực thương mại, ngoại thương bằng tiếng Trung, tạo cơ sở cho sinh viên học cao hơn với các chương trình sau đại học
1.2.4 Đội ngũ giảng viên
Với một đội ngũ giảng viên 100% trình độ Thạc sĩ, Tiến sĩ tốt nghiệp chuyên ngành Ngôn ngữ và Văn hóa Trung Quốc trong nước và nước ngoài ( bao gồm 4 giảng viên cơ hữu của trường và 14 giảng viên thỉnh giảng ) có tinh thần trách nhệm, nhiệt tình, tận tâm với nghề, có kinh nghiệm giảng dạy, luôn gần gũi và theo sát sinh viên Bên cạnh đó, đội ngũ giảng viên thường xuyên bổ sung giáo trình, kiến thức, được tập huấn nâng cao nghiệp
Trang 1818
vụ, phương pháp giảng dạy mới hằng năm Ngoài ra sinh viên còn có cơ hội học tập và thực hành với giảng viên nước ngoài để nâng cao kiến thức và kĩ năng ngôn ngữ
1.3 Đối tượng đào tạo
“ Công dân đã có bằng tốt nghiệp THPT hoặc tương đương theo quy định tại điều 5 Quy chế tuyển sinh đại học, cao đẳng hệ chính quy ban hành kèm theo Thông tư số 09/2012/TT-BGDĐT ngày 05 tháng 3 năm 2012 và được sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư số 24/2012/TT-BGDĐT ngày 29 tháng 6 năm 2012, Thông tư số 03/2013/TT-BGDĐT ngày 20 tháng 02 năm 2013, Thông tư số 21/2013/TT-BGDĐT ngày 18 tháng 6 năm 2013, Thông tư số 24/2013/TT-BGDĐT ngày 04 tháng 7 năm 2013, Thông tư số 28/2013/TT-BGDĐT ngày 16 tháng 7 năm 2013 và Thông tư 06/2014/TT-BGDĐT ngày
11 tháng 3 năm 2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo.”1
Theo đó, vì là sinh viên vừa tốt nghiệp THPT và bước vào giai đoạn tiếp thu một ngôn ngữ mới nên sẽ có những mặt thuận lợi và khó khăn như sau:
+ Thuận lợi: Trong giai đoạn này sinh viên hầu như chưa hiểu biết về tiếng Trung, cho nên thông qua việc những phương pháp giảng dạy mới của giảng viên sẽ giúp sinh viên hiểu rõ tổng quát khái niệm về tiếng Trung, từ đó hướng dẫn sinh viên đi vào quỹ đạo chung, tạo được hứng thú cho người học ở giai đoạn này Mặt khác, xét về phương diện ngôn ngữ thì Việt Nam và Trung Quốc đều là hai nước có nền văn hóa phương đông, có sự giao thoa giữa văn hóa ( phong tục, tập quán, các ngày lễ tết … ) và ngôn ngữ ( Ngữ âm, Thanh điệu, Ngữ pháp ) tạo ra mối tương quan giữa hai ngôn ngữ giúp khả năng vận dụng, cảm thụ và lí giải ngôn ngữ của sinh viên sẽ nhanh và chính xác hơn
+ Khó khăn: Bên cạnh những mặt thuận lợi nói trên, do ở giai đoạn đầu tiếp xúc với tiếng Trung sinh viên sẽ gặp nhiều bở ngỡ trước một ngôn ngữ mới ( phát âm, ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp … ) và do ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ ( tiếng Việt ) sẽ gây ra trở ngại cho sinh viên trong quá trình tiếp thu Nhưng khó khăn lớn nhất khi học tiếng Trung là chữ viết,
1 Trich chương trình đào tạo ban hành năm 2013 của Hiệu trưởng Trường Đại học Mở TP HCM
Trang 1919
Văn tự Hán và văn tự Việt hiện đại được cấu tạo theo hai nguyên tắc cơ bản khác nhau, văn
tự Trung Quốc là một thứ văn tự “ đồ họa”, tượng hình biểu ý, văn tự Việt Nam là văn tự lối phiên âm Latinh Ở phương diện này mối tương đồng gữa hai ngôn ngữ gần như không
có, bắt buộc sinh viên phải học thuộc 214 bộ thủ và nhớ rõ từng nét chữ để viết, chính đặc tính này của tiếng Trung dẫn tới một số sinh viên lúc đầu mới học cảm thấy rất hứng thú nhưng sau dần dần không nhớ được mặt chữ nên cảm thấy chán nản và muốn từ bỏ
1.4 Những hiện tượng và khó khăn tồn tại
Việc ra đời chuyên ngành tiếng Trung là sự nắm bắt của loại ngôn ngữ đã rất phổ biến trên thế giới và ngày càng có vai trò quan trọng trong giao lưu ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, chính trị mà cả kinh tế hai nước Việt Nam và Trung Quốc đang diễn ra rất mạnh mẽ Đây
là nhân tố quan trọng ảnh hưởng số lượng sinh viên theo học tiếng Trung mỗi năm Nhưng trên thực tế, trong quá trình học và tiếp thu một ngôn ngữ mới của sinh viên vẫn còn tồn tại một số hiện tượng và khó khăn, dưới đây là những một số hiện tượng và khó khăn cơ bản khi sinh viên theo học tiếng Trung
• Về phương diện ngôn ngữ:
- Về mặt văn hóa: Văn hóa Việt Nam và Trung Quốc đều là văn hóa phương đông, chúng ta chịu ảnh hưởng sâu đậm từ văn hóa nho giáo và các tập tục lễ tết của Trung Quốc, dó đó từ xưng hô, chào hỏi, phong tục tập quán đến phong cách tư duy đều có những nét tương đồng và gần gũi Vì vậy khi sinh viên Việt Nam học tiếng Trung thì khả năng vận dụng ngôn ngữ , cảm thụ và lí giải sẽ nhanh hơn so với sinh viên các nước khác
- Về mặt ngữ âm: Trong tiếng Việt và tiếng Hán có một điểm tương đồng về ngữ âm,
đó là các âm tiết đơn âm, ranh giới của các âm tiết rõ ràng và khả năng tách hợp rất linh động Ngoài ra, giữa hai ngôn ngữ còn có sự tương đồng về phát âm, ý nghĩa nên thuận tiện trong việc dịch từ tiếng Việt qua tiếng Trung và ngược lại
- Về mặt thanh điệu: Một đặc điểm nổi bật khiến cho sinh viên Việt Nam phát âm tiếng Trung rất nhanh là do giữa hai ngôn ngữ có sự đồng điệu về thanh điệu Chính
Trang 20từ pháp và cú pháp có nhiều điểm tương đồng
• Về phương diện chuyên môn
Tiếng Trung là một ngoại ngữ khó học, trên thực tế việc học tiếng Trung từng giai đoạn sẽ gặp phải những khó khăn nhất định:
- Sinh viên năm nhất: Do giai đoạn đầu tiếp xúc ngôn ngữ mới không có sự kế thừa kiến thức ở giai đoạn trước, cùng lúc phải đối mặt với hai cái khó ban đầu là ngữ âm
và chữ Hán Điều này ảnh hưởng đến sự hứng thú của sinh viên đối với chuyên ngành, khiến cho nhiều sinh viên cảm thấy nản lòng và nghỉ học
- Sinh viên năm hai: Sau một thời gian củng cố được ngữ âm và cách viết chữ Hán, sinh viên bước vào giai đoạn hoàn thành các kĩ năng ngôn ngữ quan trọng ( nghe, nói, đọc, viết ) Đây là giai đoạn quan trọng giúp sinh viên bước đầu dùng tiếng Trung để
tư duy, giao tiếp, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống Điều này dường như không dễ dàng đối với sinh viên năm hai và tạo ra trở ngại lớn trong quá trình học tâp
- Sinh viên năm ba và năm tư: Ở giai đoạn này sinh viên đã sử dụng thành thạo bốn
kĩ năng ngôn ngữ và bước vào giai đoạn tiếp thu kiến thức chuyên ngành Thực tế cho thấy, lượng kiến thức chuyên ngành sâu và rộng đòi hỏi sinh viên phải có sự am hiểu sâu về nhiều mặt của xã hội Việt Nam và Trung Quốc ( Văn hóa, Lịch sử, Kinh tế, Chính trị,… ), điều này tạo ra khó khăn và áp lực lớn cho sinh viên trong quá trình tiếp thu
Trang 2121
Chương 2
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 2.1 Cơ sở lí thuyết
2.1.1 Đặc điểm tâm lý của sinh viên
Đối tượng mà nhóm chúng tôi thực hiện nghiên cứu trong đề tài này các bạn sinh viên đại học độ tuổi từ 18 đến 22, đây là giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên 18 tuổi- 25 tuổi)
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “ Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung cấp chuyên nghiệp Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học Quá trình học của họ theo phương pháp chính quy, tức là họ đã phải trải qua bậc tiểu học và trung học.” 1
Có thể thấy, sinh viên là một nhóm xã hội đặc biệt, mỗi người là một cá thể trưởng thành của xã hội, họ đang tiếp thu những kiến thức, kỹ năng chuyên môn cũng như kỹ năng sống để chuẩn bị hành trang cho công việc nghề nghiệp trong tương lai
Một trong những đặc điểm tâm lý quan trọng nhất ở lứa tuổi sinh viên là sự phát
triển tự ý thức “ Sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu dài,
trải qua những mức độ khác nhau Ở tuổi thanh niên quá trình phát triển tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng: Thanh niên có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng.”2, theo Lê Văn Hồng- Lê Ngọc Lan- Nguyễn Văn Thàng Nhờ sự phát triển tự ý thức mạnh mẽ, sinh viên có những hiểu biết, thái độ, có khả năng đánh giá bản thân phù hợp với yêu cầu, xu thế xã hội Họ nhận thức rõ ràng về những năng lực, phẩm chất của mình, mức độ phù hợp của những đặc điểm đó với yêu cầu của
1 Khái niệm sinh viên: http://vi.wikipedia.org/wiki/Sinh_vi%C3%AAn
2 Lê Văn Hồng- Lê Ngọc Lan- Nguyễn Văn Thàng, 1997 Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, trang 73-74
Trang 2222
nghề nghiệp qua đó xác định rõ mục tiêu để cố gắng học tập, rèn luyện bản thân Nhờ khả năng tự đánh giá phát triển sinh viên có thể nhìn nhận, xem xét năng lực học tập của mình, kết quả học tập cao hay thấp phụ thuộc vào ý thức, thái độ và phương pháp học tập của họ
Ở lứa tuổi sinh viên đã bước đầu hình thành thế giới quan: “ Tuổi thanh niên mới
lớn là lứa tổi quyết định của sự hình thành thế giới quan- hệ thống quan điểm về xã hội,
về tự nhiên, về các nguyên tắc và quy tắc cư xử ”1, đây là cơ sở để sinh viên nhìn nhận, đánh giá vấn đề cuộc sống, học tập, sinh hoạt hàng ngày Sinh viên là thành phần tri thức của xã hội, ở họ đã sớm nảy sinh nhu cầu, khát vọng thành đạt Học tập ở môi trường đại học là cơ hội tốt để họ trải nghiệm bản thân, vì thế sinh viên thích khám phá, tìm tòi học hỏi cái mới, trau dồi kiến thức cũng như trang bị vốn sống hiểu biết cho mình đặc biệt là dám đối mặt với thử thách để khẳng định bản thân
Một đặc điểm tâm lý nổi bật nữa ở lứa tuổi sinh viên là tình cảm ổn định, trong đó phải đề cập đến tình cảm nghề nghiệp- một động lực giúp họ học tập chăm chỉ, sáng tạo khi họ thực sự yêu thích và đam mê với nghề lựa chọn Sinh viên là lứa tuổi đạt đến độ phát triển sung mãn của đời người, họ là lớp người giàu nghị lực, giàu ước mơ, hoài bão, tuy nhiên do quy luật phát triển không đồng đều về mặt tâm lý, những điều kiện hoàn cảnh
và cách thức giáo dục khác nhau nên không phải bất cứ sinh viên nào cũng được phát triển tối ưu dẫn đến suy nghĩ chưa chín muồi, cách thức giải quyết vấn đề còn hạn chế chưa triệt để
Bên cạnh những mặt tích cực đó sinh viên cũng không tránh khỏi nhưng hạn chế chung của lứa tuổi thanh niên, đó là sự thiếu chín chắn trong suy nghĩ, hành động đặc biệt trong việc tiếp thu, học hỏi cái mới Ngày nay, trong xu thế mở cửa, hội nhập quốc tế, trong điều kiện phát triển công nghệ thông tin nền văn hóa của nước ta có điều kiện giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hóa trên thế giới Việc học tập, tiếp thu tinh hoa văn hoa nhân loại là cần thiết, tuy nhiên do ham thích những điều mới lạ kết hợp với sực bồng bột, thiếu kinh nghiệm của sinh viên, do đó sinh viên dễ dàng tiếp nhận những nét văn hóa không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội và truyền thống của dân tộc
1 Lê Văn Hồng- Lê Ngọc Lan- Nguyễn Văn Thàng, 1997 Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, trang 75
Trang 2323
Trong bài nghiên cứu này, chúng tôi phân độ tuổi sinh viên thành hai giai đoạn để phân tích Giai đoạn từ 18 đến 20 tuổi, họ đang dần thích ứng với cuộc sống ở môi trường đại học với nhiều điều bỡ ngỡ, vậy nên suy nghĩ, quyết định của họ vẫn còn bị ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố bên ngoài như gia đình, bạn bè….Giai đoạn sau từ 20 đến 22 tuổi trải qua một quá trình, thời gian tiếp xúc rèn luyện thực tế họ đã có những suy nghĩ chín chắn hơn, phương thức giải quyết vấn đề cũng khoa học hơn, tiếp thu kiến thức có chọn lọc hơn, hơn thế họ đã có những định hướng cụ thể, rõ ràng hơn về tương lai của bản thân ít bị tác động bởi nhân tố bên ngoài
Lứa tuổi sinh viên có những nét tâm lý điển hình, đây là thế mạnh của họ so với lứa tuổi khác như tự ý thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, khát khao mãnh liệt về sự thành công, dám đối mặt với khó khăn thử thách… Song do hạn chế của kinh nghiệm sống sinh viên cũng gặp hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp thu cái mới Những yếu tố tâm lý này có tác động chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên
2.1.2 Đối tượng giáo dục
Đối tượng giáo dục mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu là các bạn sinh viên đang theo học ngành tiếng Trung tại Khoa Ngoại ngữ Trường Đh Mở TP.HCM các khoá 2013,
2012, 2011
Như đã nói ở phần đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi sinh viên, chúng ta biết được họ
là một cá thể trưởng thành của xã hội, có đầy đủ yếu tố để tiếp thu cũng như lĩnh hội tri thức một cách hoàn chỉnh
Đối với sinh viên năm nhất, họ đã có nền tảng kiến thức cơ bản sau thời gian 12 năm giáo dục phổ thông Tuy nhiên, kiến thức về ngành nghề mà bản thân theo học vẫn còn khá mơ hồ Đặc biệt, đây là khoảng thời gian đầu mà họ tiếp xúc với một môi trường học tập đại học hoàn toàn khác thời gian theo học ở phổ thông với chương trình, phương pháp giảng dạy, học tập hoàn toàn mới khiến họ gặp không ít khó khăn trong quá trình học tập Ngoài ra do chưa thích nghi với hoàn cảnh sống nên họ vẫn còn e dè, ngại ngùng, thiếu
tự tin và còn phụ thuộc nhiều vào gia đình Các quyết định của họ bị ảnh hưởng nhiều từ yếu tố bên ngoài như gia đình, bạn bè, số đông hoặc đơn giản chỉ là nhất thời xúc động Họ
Trang 2424
chưa thực sự hiểu rõ bản thân cần gì, thiếu gì, mục đích học tập là gì, định hướng tương lai của bản thân ra sao, đối với họ mọi thứ còn mông lung, mơ hồ không có định hình rõ ràng
Vì vậy, họ thường hối hận về những quyết định của bản thân
Cùng với dòng chảy thời gian là sự thích nghi, có sai lầm, có vấp ngã, trên đó là sự rèn luyện, sự tích luỹ kinh nghiệm về học tập cũng như trong cuôc sống khiến họ trưởng thành hơn, suy nghĩ chín chắn hơn, thấu đáo hơn Bởi vậy khi sinh viên bước sang năm 2, năm 3 họ đã có cái nhìn đúng đắn hơn, thiết thực hơn về tương lai của bản thân, từ đó vạch
ra kế hoạch cụ thể và từng bước tiến hành để đạt được điều mà bản thân mong muốn Đây cũng là thời điểm mấu chốt để họ tiếp thu, trau dồi kiến thức chuyên ngành cho bản thân làm nền tảng cho công việc sau này, thế nên đây là khoảng thời gian họ không ngừng ra sức cố gắng nỗ lực học tập với mong muốn làm giàu vốn tri thức của bản thân để phục vụ cho tương lai sau này Lên năm 4, họ đã phần nào hoàn thành chương trình học và đi thực tập hoặc làm đồ án tốt nghiệp Họ bước đầu gia nhập vào vòng quay xã hội, có những va chạm thực sự, họ mang trên mình ngọn lửa nhiệt huyết và những kiến thức mà bản thân tích luỹ được để thực hiện ước mơ của bản thân
2.1.3 Chương trình giảng dạy
2.1.3.1 Yêu cầu chung
Chương trình giảng dạy phải đáp ứng được tính vừa sức chung và vừa sức riêng đối với sinh viên, nghĩa là lựa chọn nội dung giảng dạy, giáo trình giảng dạy, phương pháp, hình thức và cả việc phân chia, sắp xếp thời gian giảng dạy sao cho phù hợp nhằm thúc đẩy
sự phát triển trí tuệ của tất cả sinh viên Điều đó nghĩa là chương trình giảng dạy phải đảm bảo cho tất cả sinh viên đều được phát triển ở mức độ tối đa sao với khả năng của mình
2.1.3.2 Yêu cầu riêng
Yêu cầu riêng là sinh viên phải đạt được những yêu cầu cụ thể đối với từng môn học, từng kĩ năng ( nghe, nói, đọc, viết) và kiến thức chuyên ngành
Trang 25âm và tu từ )
▪ Lý thuyết dịch: Yêu cầu sinh viên nắm được khái niệm dịch, các quan điểm khác nhau về dịch, các thể loại dịch khác nhau, lí luận về dịch và những điều kiện cần thiết của công tác dịch, vai trò của văn hóa trong qúa trình dịch, các tiêu chuẩn dịch khác nhau, một số bước của qúa trình dịch, một số nhân tố ảnh hưởng đến qúa trình dịch
- Kiến thức văn hoá- văn học:
▪ Đất nước học Trung Quốc: Nắm bắt đươc đặc điểm cơ bản về lãnh thổ Trung Quốc (địa
lí, khí hậu, tài nguyên ); lịch sử ( lịch sử cổ đại, cận hiện đại, hiện đại, đương đại); dân tộc (tình hình dân tộc, chính sách dân tộc ); chính trị (thể chế, cơ cấu, chế độ tư pháp ); kinh
tế (thành tựu, cải cách mở cửa, mậu dịch ); giáo dục (cổ đại, cận đại, đương thời); khoa học kĩ thuật; đời sống nhân dân; bảo vệ môi trường
Trang 2626
▪ Lược sử văn học Trung quốc: Tìm hiểu một số nội dung, đặc điểm chính của văn học qua các thời kỳ cổ đại, cận đại, hiện đại, đương đại
- Chuyên ngành biên- phiên dịch:
▪ Biên- phiên dịch thương mại: Sinh viên phải nắm được kiến thức về từ vựng, cấu trúc liên quan đến thương mại; kiến thức về gía cả, phương thức vận chuyển, thanh toán, bồi thường , kĩ năng dịch khẩu ngữ trong qúa trình đàm phán thương mại quốc tế
▪ Biên- phiên dịch du lịch: Sinh viên nắm được kiến thức tổng quát về du lịch, tuyến điểm
du lịch; từ vựng, cấu trúc liên quan đến chuyên ngành du lịch; kĩ năng hướng dẫn du lịch
▪ Khẩu ngữ tiếng Trung: Yêu cầu sinh viên nắm được lý luận cơ bản về công tác phiên dịch, sự khác biệt giữa qúa trình dịch nói và dịch viết; những khó khăn tâm lý mang tính quy luật của người phiên dịch khẩu ngữ thường gặp; những vấn đề ngôn ngữ cơ bản nhất thường dẫn đến trở ngại trong qúa trình phiên dịch Trung- Việt, Việt- Trung
• Phương pháp thuyết trình: “ Là phương pháp chuyển giao và tiếp nhận một khối lượng
kiến thức lớn có hệ thống bằng ngôn ngữ nói của giáo viên trong suốt tiết học Là phương pháp dạy học bằng lời nói sinh động của giáo viên để trình bày tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà học sinh đã thu lượm được một cách có hệ thống.” 2
1 Nguyễn Thị Bích Hạnh- Trần Thị Hương, 2004 Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư Phạm TP.HCM,
trang 70
2 Nguyễn Thị Bích Hạnh- Trần Thị Hương, 2004 Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư Phạm TP.HCM,
trang 71, 72
Trang 2727
Thứ nhất, phương pháp này có ưu điểm là có thể trình bày nội dung lí thuyết tương đối khó, phức tạp, chứa đựng nhiều thông tin kiến thức mà sinh viên không tự tìm hiểu được Thứ hai, từ phương pháp này sinh viên học được cách thức tư duy khoa học Thứ ba, tạo điều kiện phát triển năng lực chú ý, tính tích cực tư duy của sinh viên khiến sinh viên tiếp thu bài giảng của giảng viên tốt hơn và ghi nhớ bài
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có một vài nhược điểm như: không có tác động trực tiếp vào sinh viên, họ chỉ nghe, nhìn, tư duy theo lời giảng của giảng viên ghi chép và ghi nhớ, mà ít được thực hành khiến người học thụ động, mệt mỏi, chán nản vì cảm thấy đơn điệu
• Phương pháp đàm thoại: “Phương pháp đàm thoại là giáo viên đặt ra một hệ thống câu
hỏi, trò lần lượt trả lời, có thể trao đổi qua lại, tranh luận với nhau và cả với giáo viên, qua đó lĩnh hội được nội dung bài học” 1
Đối với phương pháp này có ưu điểm là kích thích tính tích cực hoạt động của sinh viên, bồi dưỡng cho học sinh năng lực diễn đạt vấn đề một cách khoa học, chính xác, xúc tích Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nhược điểm là nếu giảng viên vận dụng không khéo léo, hợp lí sẽ làm mất thời gian ảnh hưởng đến kế hoạch dạy học, khó thu hút tất cả sinh viên tham gia thảo luận chung, khiến sự phát triển tư duy logic và khả năng sáng tạo ở sinh viên giảm sút
• Phương pháp trực quan: “ Là phương pháp sử dụng những phương tiện trực quan,
phương tiện kĩ thuật dạy học để hình thành, củng cố, hệ thống hoá và kiểm tra tri thức, kĩ năng, kĩ xảo ở học sinh.” 2
Phương pháp này sử dụng các phương tiện dạy học như thiết bị thí nghiệm, các phương tiện nghe nhìn như đĩa ghi âm, đèn chiếu, cassette, video, phim…; hoặc các đồ dùng trực quan như bản đồ, tranh vẽ, mẫu hoá chất, động vật… Phương pháp này làm thoả mãn, phát triển hứng thú của sinh viên; giúp sinh viên có đầy đủ thông tin về đối tượng,
1 Nguyễn Thị Bích Hạnh- Trần Thị Hương, 2004 Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư Phạm TP.HCM,
trang 71, 72
2 Nguyễn Thị Bích Hạnh- Trần Thị Hương, 2004 Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư Phạm TP.HCM,
trang 84
Trang 2828
hiện tượng đang nghiên cứu; tăng cường khả năng tự lực của sinh viên đối với môn học phát triển khả năng tư duy của sinh viên Nhưng phương pháp này dễ khiến cho sinh viên phân tán sự chú ý, thiếu tập trung vào trọng tâm bài học, làm mất thời gian
- Ngoài các phương pháp trên còn một số phương pháp thực hành sau:
Nhóm phương pháp thực hành: Bao gồm phương pháp luyện tập, ôn tập và phương pháp công tác độc lập
+ Phương pháp luyện tập: “ Phương pháp luyện tập là phương pháp dưới sự hướng dẫn
của giáo viên, học sinh lặp lại nhiều lần những hành động nhất định trong những hoàn cảnh khác nhau nhằm hình thành và phát triển kĩ năng, kĩ xảo.” 1
Phương pháp này giảng viên sử dụng những câu hỏi, bài tập giúp sinh viên củng cố
và hiểu sâu lí thuyết kiến thức đã học
+ Phương pháp ôn tập: “ Ôn là phương pháp dạy học giúp học sinh mở rộng, đào sâu, khái
quát hoá, hệ thống hoá tri thức đã học, kĩ năng, kĩ xảo đã được hình thành, phát triển trí nhớ, tư duy và qua đó điều chỉnh những sai lầm trong nhận thức của họ.” 2
Phương pháp này nhằm giúp sinh viên lĩnh hội, củng cố nội dung bài học sau khi học trên lớp khiến sinh viên nhớ bài lâu hơn, tiếp thu kiến thức hiệu quả hơn
+ Phương pháp công tác độc lập: “ Phương pháp công tác độc lập là phương pháp học
sinh thực hiện hoạt động học tập của minh dưới sự điều khiển gián tiếp của giáo viên theo nhiệm vụ học tập do giáo viên đề ra.” 3
Sinh viên làm việc với giáo trình, tài liệu tham khảo, làm bài tập theo chủ đề giảng viên giao Phương pháp này giúp sinh viên bổ sung, tìm hiểu kĩ những kiến thức đã học, kiểm chứng lại vấn đề lí thuyết đã học và củng cố, vận dụng kiến thức làm thí nghiệm
1 Nguyễn Thị Bích Hạnh- Trần Thị Hương, 2004 Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư Phạm TP.HCM,
Trang 2929
2.1.4.1 Phương pháp học tập
Vì đặc thù là ngành ngoại ngữ nên phương pháp học tập của sinh viên cũng có sự khác biệt so với các chuyên ngành khác Thông qua kinh nghiệm học tập của bản thân cũng như được bạn bè chia sẻ, nhóm chúng tôi rút ra được một số phương pháp học tập mà sinh viên ngành tiếng Trung thường sử dụng trong quá trình học tập như sau:
▪ Phương pháp học từ vựng: Sinh viên thường viết đi viết lại nhiều lần, dùng từ đó để đặt câu hoặc viết từ vựng đó ở những nơi dễ nhìn thấy để ghi nhớ từ đó
▪ Phương pháp học ngữ pháp: Học thuộc cấu trúc ngữ pháp, vận dụng để đặt câu, thường xuyên sử dụng cấu trúc đã học trong quá trình học
▪ Phương pháp học kĩ năng nghe: Nghe bài trong giáo trình, viết nội dung nghe được ra giấy, nghe nhạc, xem phim hoặc các chương trình game show bằng tiếng Trung không phụ
để tiếng Việt để luyện tập
▪ Phương pháp học kĩ năng nói: Đầu tiên học luyện cách phát âm chuẩn, sau đó luyện nói theo băng, theo phim ảnh, cùng bạn bè hoặc nói chuyện với giảng viên, đặc biệt là giảng viên nước ngoài
▪ Phương pháp học kĩ năng đọc: Tra từ mới, đọc lấy ý chính của bài khóa, dịch bài
▪ Phương pháp học kỹ năng viết: Học nhiều từ vựng, học cấu trúc ngữ pháp, đọc nhiều bài khóa, tin tức để mô phỏng cách thức viết bài
2.1.4.2 Phương pháp đánh giá
"Đánh gía trong giáo dục được hiểu là một qúa trình tiến hành có hệ thống để xác
định mức độ đạt được của học sinh về các mục tiêu đào tạo." 1
1 Nguyễn Thị Bích Hạnh- Trần Thị Hương, 2004 Lý luận dạy học, Khoa tâm lý giáo dục Đại học Sư Phạm TP.HCM, trang 163
Trang 3030
Nghĩa là giảng viên thông qua một số phương thức nhằm khảo sát, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập, năng lực, khả năng tiếp thu và lĩnh hội kiến thức của sinh viên Phương pháp đánh giá gồm nhiều hình thức khác nhau như:
▪ Kiểm tra thường xuyên: Việc kiểm tra được giảng viên tiến hành với mức độ thường xuyên trong quá trình học tập như kiểm tra mức độ tiếp thu, hiểu bài mới đến đâu, có nắm vững kiến thức bài cũ hay chưa, hay khả năng vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Phương pháp này giúp giảng viên kịp thời nắm bắt được trình độ của sinh viên để điều chỉnh hoạt động dạy và học, qua đó cố gắng tìm ra phương pháp giảng dạy và học tập tối
ưu để nâng cao chất lượng dạy học
▪ Kiểm tra định kỳ: Được tiến hành sau khi học xong một phần, chương của chương trình hoặc sau một học kỳ theo kế hoạch đã định sẵn Mục đích của dạng kiểm tra này nhằm giúp giảng viên và sinh viên nhìn lại kết qủa làm việc sau một thời gian nhất định, từ đó kịp thời điều chỉnh, củng cố, mở rộng kiến thức đã học để tạo cơ sở nền tảng vững chắc cho quá trình học tập sau này
* Các phương pháp kiểm tra:
+ Phương pháp kiểm tra nói: Là cách thức giảng viên đưa ra một số câu hỏi và học sinh trả lời trực tiếp để giảng viên nắm được mức độ lĩnh hội kiến thức sinh viên Phương pháp này giúp giảng viên kịp thời điều chỉnh việc giảng dạy phù hợp với sinh viên đặc biệt thúc đẩy sinh viên học tập thường xuyên, có hệ thống và phát triển kĩ năng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói Tuy nhiên, phương pháp này chỉ kiểm tra được một số ít sinh viên, hiệu qủa còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố
+ Phương pháp kiểm tra viết: Là cách thức sinh viên làm bài kiểm tra viết trong các khoảng thời gian khác nhau tùy theo yêu cầu của giảng viên đối với môn học Phương pháp này có
ưu điểm là kiểm tra nhiều sinh viên cùng một lúc đồng thời có thể đối chiếu, so sánh trình
độ sinh viên trong lớp Ngoài ra, phương pháp này giúp sinh viên rèn luyện khả năng hệ thống hóa, khái quát hóa, tổng hợp hóa nội dung kiến thức và trình bày bằng ngôn ngữ của chính mình.Thông qua phương pháp này giảng viên có thể đánh gía năng lực của sinh viên một cách tương đối khách quan Tuy nhiên, vẫn còn hạn chế như: nội dung kiểm tra hẹp
Trang 31+ Phương pháp trắc nghiệm: Là sử dụng những bài tập nhỏ hoặc câu hỏi có sẵn các phương pháp án trả lời, yêu cầu sinh viên suy nghĩ và chọn đáp án đúng nhất bằng một kí hiệu đã quy ước Phương pháp này có ưu điểm là trong một khoảng thời gian ngắn có thể kiểm tra kiến thức cụ thể của môn học, tránh được khuynh hướng "học tủ", gây hứng thú và tính tích cực học tập cho sinh viên, hơn nữa phương pháp này cũng đảm bảo được tính khách quan trong việc kiểm tra đánh gía Tuy nhiên thông qua phương pháp này giảng viên chỉ biết được kết qủa chứ không biết được qúa trình tư duy của sinh viên, vẫn còn một số sinh viên làm bài theo cách chọn đại đáp án, quay cóp
Kiểm tra và đánh giá là khâu có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học - giáo dục Có nhiều hình thức và phương pháp kiểm tra đánh gía khác nhau, mỗi một hình thức đều có mặt mạnh và mặt yếu riêng Vì vậy, tùy theo yêu cầu của từng môn học, đối tượng học, mục tiêu đánh giá mà giảng viên đưa ra hình thức và phương pháp đánh giá phù hợp để kiểm tra, đánh giá năng lực của sinh viên
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong bài nghiên cứu này chúng tôi sử dụng hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng
Phương pháp định tính (qualitative research): Phương pháp nghiên cứu định tính được thiết kế để giúp các nhà nghiên cứu hiểu được con người và xã hội và văn hóa mà họ đang sống Nó có thể liên quan đến mối quan tâm chủ quan hơn, chẳng hạn như nhận thức, cảm xúc, động lực… Đây là loại nghiên cứu tìm cách để xác định lý do tại sao có hành vi
Trang 322.2.1 Khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là sinh viên ngành tiếng Trung hệ đại học chính quy các khóa 2011, 2012, 2013 Số sinh viên khảo sát được chọn là sinh viên các khóa 2011 ( DH11HV01), khóa 2012 ( DH12HV01, DH12HV02), khóa 2013 (DH13HV01)
có đăng ký học trong học kỳ I năm học 2014- 2015 và trả lời bảng câu hỏi khảo sát từ ngày
10 đến ngày 14 tháng 11 năm 2014
Tổng số sinh viên tham gia trả lời bảng khảo sát là 107 các khoá 2011, 2012, 2013
2.2.2 Trình tự thực hiện các bước nghiên cứu
Bước 1: Thiết lập câu hỏi bảng nghiên cứu về động cơ học tập và những khó khăn cần khắc phục của sinh viên ngành tiếng Trung
Bước 2: Chúng tôi tiến hành phát phiếu khảo sát cho từng sinh viên và thu phiếu khảo sát sau khi sinh viên dành khoảng 15 phút để hoàn thành bản khảo sát
Bước 3: Sau khi có được kết quả khảo sát, chúng tôi tiến hành phân loại, thông kê, tổng hợp và luận giải các kết quả nghiên cứu mà sinh viên tham gia khảo sát
Trang 3333
2.2.3 Phương pháp và kỹ thuật nghiên cứu
2.2.3.1 Phương pháp thu thập thông tin định lượng
Đây là một trong phương pháp đang được sử dụng rộng rãi trong các cuộc điều tra
xã hội học, và là công cụ chủ yếu chúng tôi dùng để thu thập thông tin cho đề tài này Chúng tôi sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc thu thập thông tin của các sinh viên để xác định động cơ học tập và những khó khăn mà sinh viên gặp phải trong quá trình học tập Hệ thống bảng câu hỏi được chia thành 3 phần với 45 câu hỏi:
+ Phần I: Thông tin cá nhân, cụ thể là hai câu hỏi về giới tính và khóa học
+ Phần II: Gồm 9 câu hỏi về nguyên nhân sinh viên theo học ngành tiếng Trung và động cơ thúc đẩy học tập của sinh viên
+ Phần III: Tìm hiểu khó khăn sinh viên gặp phải khi học các kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) gồm 24 câu, khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức chuyên ngành gồm 8 câu và 5 câu tìm hiểu về các yếu tố khó khăn khác mà sinh viên gặp phải
2.2.3.2 Phương pháp chọn mẫu
Do điều kiện hạn chế về thời gian, số lượng sinh viên lên lớp không đầy đủ, vì vậy không thể nghiên cứu hết tất cả các sinh viên cho nên để thuận lợi cho việc nghiên cứu chúng tôi đã dựa vào danh sách sinh viên lưu tại Khoa Ngoại ngữ, chúng tôi chọn ra 107 sinh viên thuộc ba khóa 2011, 2012, 2013 để gửi bảng câu hỏi
Mẫu nghiên cứu: Mẫu nghiên cứu gồm 107 sinh viên ngành tiếng Trung từ khóa
2011 đến khóa 2013
2.2.3.3 Phương pháp thu thập thông tin sẵn có
Đó là những thông tin chúng tôi thu thập từ các công trình nghiên cứu trước đó, các sách, các tờ báo, các diễn đàn, trang mạng… có liên quan đến đề tài để làm thông tin, tư liệu chứng minh những vấn đề mà đề tài cần làm rõ
Trang 3434
2.2.3.4 Phương pháp xử lý thông tin
Sau khi thu thập được dữ liệu thông tin chúng tôi tiến hành xử lý Trong bài nghiên cứu chúng tôi kết hợp cả hai phương pháp định lượng và định tính Trong phần phương pháp định lương dựa vào thang đo 5 điểm của Rensis Likert chúng tôi dung phần mềm vi tính SPSS 16 để có kết quả thông tin một cách chính xác và khách quan Thang đo 5 điểm của Rensis Likert gồm: (1 = Hoàn toàn đồng ý; 2= Đồng ý; 3= Phân vân; 4= Không đồng ý; 5= Hoàn toàn không đồng ý)
Đối với những câu hỏi mở của phiếu khảo sát chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS
16 kết hợp phân tích dữ liệu bằng phương pháp định tính (mã hóa bằng tay) để tính toán
về các khái niệm liên quan cũng như phương pháp nghiên cứu chính là phiếu điều tra đã được thu thập Do vậy chương sau chúng tôi sẽ trình bày phần phân tích và diễn giải cứ liệu
Trang 3535
Chương 3 Phân tích và diễn giải cứ liệu khảo sát
Ở chương trước chúng tôi đã giải thích phương pháp được chọn để tiến hành thu thập cứ liệu nhằm tìm thông tin trả lời vấn đề nghiên cứu Dựa trên cơ sở đó, bảng câu hỏi cho sinh viên đã được thu thập Chúng tôi đã phát và thu về 107 phiếu, trong đó có 6 phiếu không hợp lệ Dưới đây là kết quả của bài nghiên cứu
3.1 Động cơ học tập
Willis J Edmondson đưa ra định nghĩa về động cơ học tập như sau: “ động cơ học
tập là sẵn sàng đầu tư thời gian, sức lực và tiềm lực khác của con người trong một khoảng thời gian dài, để đạt được mục đích đặt ra trước của bản thân.” 1
Như vậy động cơ học ngoại ngữ của sinh viên chính là kết hợp của sự kiên trì cố gắng để đạt được mục tiêu đề ra, mong muốn học ngoại ngữ và thái độ đúng đắn đối với việc học môn ngoại ngữ đó Chính vì vậy, có động cơ học ngoại ngữ chính là chìa khóa thành công trong việc học ngoại ngữ Dưới đây là những kết quả khảo sát mà chúng tôi đưa
ra sau một thời gian nghiên cứu đề tài này Để tiện việc theo dõi các tiêu chí khảo sát, chúng tôi tiến hành phân chia động cơ học tập thành “Động cơ ngoại tại” và “Động cơ nội tại” “Động cơ ngoại tại” là các yếu tố khách quan như thời gian địa điểm, môi trường sinh sống tác động lên quá trình học tập từ đó hình thành động cơ thúc đẩy việc học, “Động cơ nội tại” là các yếu tố hình thành từ bên trong như sở thích, tính tự giác, ý thức v.v… tác động lên quá trình học tập, nhưng cả hai đều nằm trong phạm trù động cơ học tập mà chúng tôi đã khảo sát
3.1.1 Động cơ ngoại tại:
1 Tương lai của ngành tiếng Trung Trong xu thế toàn cầu hóa diễn ra hết sức mạnh mẽ, các quốc gia trên thế giới không ngừng đẩy mạnh hợp tác trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội v.v…, trong đó ngôn ngữ được xem như là chiếc cầu nối quan trọng để kết nối các nước trên thế giới xích lại gần
1 Dẫn theo Trần Thị Thu Trang(2010): Động cơ học tập và các yếu tố ảnh hưởng đến việc học ngoại ngữ , Trang 1
Trang 36Bảng 1: Tương lai ngành tiếng Trung
Qua khảo sát của chúng tôi có đến 70.3% ( 71 sinh viên ) cho rằng tiếng Trung là một ngôn ngữ khả quan và có triển vọng về sau, chỉ có 2% ( 2 sinh viên ) cảm thấy không khách quan
2 Thời gian học tiếng Trung
Sinh viên học ngành tiếng Trung tại Đh Mở Tp.HCM có thời gian học tiếng Trung được chúng tôi thể hiện qua bản số liệu sau: Trong 101 phiếu khảo sát thì số sinh viên học được một năm tiếng Trung là 18.8% (19 sinh viên), học từ hai đến ba năm là 37.6% (38 sinh viên ), học được từ ba đến năm năm là 17.8% (17.8 sinh viên ), số còn lại là học tiếng Trung trên năm năm là 25.7% ( 26 sinh viên )
Trang 3737
Biểu đồ 1: Biểu đồ thể hiện tỉ lệ phần trăm thời gian sinh viên học tiếng Trung
Trang 3838
3 Mức độ tổ chức hoạt động ngoại khóa
“Hoạt động ngoại khóa thường được hiểu là các hoạt động nằm ngoài chương trình đào tạo học chính khóa và thường mang tính chất tự nguyện không bắt buộc Hoạt động ngoại khóa góp phần giúp bổ sung các kỹ năng và kinh nghiệm sống, rèn luyện và nâng cao trình độ cho học viên, đồng thời nó còn góp phần làm toàn diện hóa con người và làm phong phú cuộc sống 1 ”
Qua khảo sát của chúng tôi, các sinh viên cho rằng việc nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa liên quan đến việc học tiếng Trung với các mức độ: thường xuyên chiếm
tỉ lệ 11.9% ( 12 sinh viên ), thỉnh thoảng 53.5% ( 54 sinh viên ), hiếm khi 28.7% (29 sinh viên ) và không bao giờ chiếm tỉ lệ 5.9% ( 6 sinh viên )
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Bảng 2: Mức độ tổ chức hoạt động ngoại khóa của nhà trường
1 Quản lý hoạt động ngoại khóa của khoa Ngoại ngữ Du lịch, trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội:
http://dl.vnu.edu.vn/bitstream/11126/1582/1/00050001043.pdf
Trang 3939
4 Thành tích học tập
Qua khảo sát của chúng tôi, đa số sinh viên ngành tiếng Trung Đh Mở Tp.HCM đều cho rằng thành tích có sự ảnh hưởng rất lớn đến quá trình học tập chiếm 61.4% ( 62 sinh viên ), ngược lại có 38.6% ( 39 sinh viên ) không đồng ý với ý kiến này
Frequency Percent Valid Percent Cumulative Percent
Bảng 3: Thành tích ảnh hưởng đến quá trình học tập
5 Thái độ của gia đình trong việc học tiếng Trung của sinh viên
Việc học tập của sinh viên không chỉ chịu sự tác động của nhà trường mà còn chịu nhiều tác động của các yếu tố bên ngoài, trong đó có sự tác động từ phía gia đình Gia đình chính là cái nôi để hoàn thiện nhân cách mỗi con người Sự ủng hộ của gia đình cũng chính
là động lực để sinh viên có động lực để theo học ngôn ngữ này
Bảng khảo sát cho thấy, có đến 58.4% ( 59 phiếu ) gia đình sinh viên đều ủng hộ việc lựa chọn học tiếng Trung của sinh viên, với 41.6% ( 42 phiếu ) các gia đình tỏ thái độ bình thường trong vấn đề này Qua đó cho thấy đa số gia đình của sinh viên đều đồng ý với việc học chọn học tiêng Trung của sinh viên
Trang 40Bảng 4: Thái độ của gia đình trong việc học tiếng Trung của sinh viên
3.1.2 Động cơ nội tại
1 Sự hứng thú
Theo Donald M Kendall: “ Có được sự may mắn và một người cố vấn đáng tin cậy
là yếu tố rất cần thiết cho sự thành công của bất kỳ ai, nhưng sự hỗ trợ quan trọng nhất chính là việc tìm thấy niềm vui trong công việc Đừng bao giờ cố sức bám trụ một công việc mà bạn không thích nhưng vẫn phải làm vì một lí do nào đó.” 1
Mặc dù tiếng trung là một ngôn ngữvới các kí tự tượng hình khó nhớ, kết cấu phức tạp, nhưng tất cả các sinh viên sau khi lựa chọn học ngành tiêng Trung đều cảm thấy rất hứng thú với ngôn ngữ này chiếm tỉ lệ 65,3% ( 66 sinh viên ) Chỉ có 3% ( 3 sinh viên ) cảm thấy không hứng thú với ngôn ngữ Trung Trong khi đó, có đến 31.9% ( 32 sinh viên ) cảm thấy bình thường khi học Ngôn ngữ Trung Quốc
1 http://maxreading.com/sach-hay/vi-sao-ho-thanh-cong/khong-thanh-cong-neu-khong-hung-thu-826.html