Bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên 286 hộ gia đình trên tổng số 1289 hộ tại xã Trịnh Xá để thực hiện khảo sát cho các bảng hỏi định lượng, kết hợp với việc thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm
CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Các khái niệm về di cư
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về “di cư” R Paul Shaw (1975) cho rằng tiêu chí chủ yếu để nhận dạng quá trình di cư chính là giá trị hệ thống dựa trên đó con người, cộng đồng người lựa chọn nơi cư trú Mangalam và Morgan (1968) cho rằng nội dung chính trong nội hàm khái niệm di cư là sự thoát ly, sự tách rời khỏi cộng đồng sống Cụ thể hơn, Lee (1966) định nghĩa di cư là sự thay đổi nơi cư trú cố định
Như vậy, có thể hiểu di cư là một thuật ngữ mô tả quá trình con người rời bỏ hoặc hội nhập vào nơi cư trú mới trong một thời gian cụ thể Di cư có thể là sự di chuyển của một cá nhân, một hộ gia đình hay thậm chí của cả một cộng đồng
Trong phạm vi đề tài, di cư được hiểu là sự dịch chuyển của con người từ một đơn vị lãnh thổ này (xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp) đến một đơn vị lãnh thổ khác (TP.HCM) trong thời gian từ 6 tháng trở lên, kèm theo đó là sự thay đổi nơi cư trú tạm thời hay vĩnh viễn
Khái niệm người di cư trong đề tài được hiểu là những người sinh ra tại xã
Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp đã và đang sinh sống tại TP.HCM từ 6 tháng trở lên tính đến thời điểm khảo sát
Hộ có người di cư là hộ có ít nhất một thành viên là người di cư theo định nghĩa của đề tài
Người không di cư trong luận văn được hiểu là những người hiện đang sinh sống tại xã Long Hậu, chưa từng rời khỏi địa phương để di chuyển đến TP.HCM sinh sống từ 6 tháng trở lên
Hộ không có người di cư được hiểu là hộ từ trước đây cho đến thời điểm thực hiện khảo sát không có thành viên nào rời khỏi địa phương, di chuyển đến TP.HCM để học tập, làm ăn, sinh sống từ 6 tháng trở lên
2.1.2 Các loại hình di cư
Theo giáo trình Dân số và phát triển của Trường Đại học Kinh tế quốc dân do PGS.TS Nguyễn Nam Phương chủ biên, có nhiều khía cạnh khác nhau để xác định loại hình di cư Dựa trên các khía cạnh đó, có thể phân chia di cư thành các loại hình như sau:
Xét về yếu tố thời gian: di cư bao gồm di cư lâu dài, di cư tạm thời và di cư mùa vụ Di cư lâu dài chỉ người/nhóm người di cư dịch chuyển nơi cư trú trong một khoảng thời gian tương đối dài và có ý định ở lại nơi đến Di cư tạm thời là sự xác lập nơi cư trú của người/nhóm người trong một khoảng thời gian ngắn trước khi quyết định có ở lại định cư tại nơi đó hay không Di cư mùa vụ là hình thức di cư đặc biệt của di cư tạm thời, nó không chỉ hàm ý khoảng thời gian di cư trùng với thời gian thu hoạch mùa vụ, mà còn chỉ khoảng thời gian di cư phục vụ hoạt động kinh tế mùa vụ (mùa xây dựng, mùa du lịch, mùa tết…) Khái niệm này hàm ý rằng người di cư dịch chuyển nơi cư trú theo mùa vụ để tìm kiếm việc làm, họ không có ý định ở lại lâu dài tại địa bàn nhập cư và sẽ quay về nơi xuất cư nếu có nhu cầu lao động hoặc công việc gia đình
Xét về yếu tố địa lý có thể chia di cư thành 4 loại hình gồm: di cư từ nông thôn đến nông thôn, di cư từ nông thôn đến thành thị, di cư từ thành thị đến thành thị và di cư từ thành thị đến nông thôn
Xét về phạm vi lãnh thổ có thể chia di cư thành 2 hình thức: di cư nội địa và di cư quốc tế Di cư nội địa thể hiện sự dịch chuyển nơi cư trú bên trong biên giới của mỗi quốc gia còn di cư quốc tế thì đã vượt ra ngoài biên giới quốc gia và tới quốc gia khác
Về khía cạnh pháp lý thì có thể chia di cư thành 2 loại hình gồm: di cư có tổ chức và di cư tự do Di cư có tổ chức là loại hình di cư diễn ra trong khuôn khổ các chương trình của Nhà nước Theo đó, người di cư được nhận sự hỗ trợ ổn định đời sống từ Nhà nước, được Nhà nước định hướng địa bàn cư trú, công ăn, việc làm Di cư tự do bao gồm những người di cư không nằm trong chương trình di cư của Chính phủ, do người di cư tự quyết định từ việc lựa chọn địa bàn nhập cư đến trang trải mọi phí tổn di chuyển, tìm việc làm… Đề tài nghiên cứu này thuộc loại hình di cư tự do trong nước của các cá nhân đang sinh sống tại xã Long Hậu, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp Đây là hình thức di cư nội địa từ nông thôn đến thành thị Do đó, cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm liên quan chỉ giới hạn ở loại hình di cư thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Các lý thuyết liên quan đến vấn đề di cư
Các lý thuyết liên quan đến vấn đề di cư được tìm hiểu bao gồm: lý thuyết của E.G Ravenstein, lý thuyết Hút – Đẩy của Everett S Lee, mô hình kinh tế hai khu vực của Arthur Lewis, mô hình lý thuyết “thu nhập kỳ vọng” của Harris – Todaro.
Từ cuộc nghiên cứu về di cư tại Anh, E.G Ravenstein nhận thấy có sự liên quan giữa di cư với quy mô dân số, mật độ dân số và khoảng cách di chuyển Từ đó, ông đã xây dựng khung lý thuyết mang tính tổng quát về vấn đề di dân vào năm
1889 Nội dung khung lý thuyết, được thể hiện cụ thể trong nghiên cứu “The Laws of migration”, theo đó:
- Hầu hết các cuộc di cư chỉ diễn ra trong phạm vi ngắn
- Người di cư thường bị thu hút bởi các trung tâm thương mại, các khu công nghiệp và đây là một trong những lý do một số trường hợp người di cư thực hiện di chuyển xa nơi cư trú ban đầu
- Nữ giới thực hiện di cư nhiều hơn trong các cuộc di cư ở phạm vi ngắn hay nói cách khác, nữ giới thường rời khỏi nơi họ sinh ra để tìm kiếm việc làm ở các khu vực lân cận Trong khi đó, nam giới lại chiếm ưu thế hơn trong các cuộc di cư có khoảng cách lớn, điển hình là việc di cư từ quốc gia này đến quốc gia khác
- Hầu hết các quá trình di cư đều được thực hiện theo từng bước Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo nên các dòng di cư hướng về các trung tâm thương mại, khu công nghiệp – nơi có sức hút lớn về việc làm và thu nhập Điểm nổi bật của quá trình di cư này là: dân cư sống xung quanh khu vực đô thị có tốc độ tăng trưởng nhanh sẽ có xu hướng di chuyển đến các nơi này và tạo ra các khoảng trống dân số tại nơi mình đã sinh sống trước đó Khi ấy, các khoảng trống dân số đó sẽ được lấp đầy bởi những người di cư khác đến từ các khu vực xa xôi, hẻo lánh hơn Cứ thế, quá trình di cư sẽ được thực hiện theo các giai đoạn nối tiếp nhau theo hướng di chuyển từ vùng nông thôn về các trung tâm đô thị lớn, cho tới khi lực hấp dẫn của các thành phố phát triển mạnh dần tác động đến vùng hẻo lánh nhất của một quốc gia
- Mỗi dòng di cư đều sẽ tạo ra dòng di cư ngược lại
- Có sự khác biệt giữa khu vực đô thị và nông thôn trong xu hướng di cư Những người được sinh ra tại vùng thành thị thường ít di cư hơn những người sinh ra tại vùng nông thôn
- Yếu tố kinh tế là nguyên nhân chính của việc di cư
2.2.2 Lý thuyết Hút – Đẩy của Everett S Lee
Dựa trên các lý thuyết về “quy luật di cư” của E.G Ravenstein, Everett S Lee đã xây dựng lý thuyết di dân (A Theory of Migration) vào năm 1966 Trong lý thuyết này, Lee lập luận rằng quyết định di cư của một cá nhân, nhóm người sẽ được dựa trên 4 nhóm yếu tố:
- Nhóm các yếu tố gắn bó với nơi đi – nơi xuất phát của người di cư;
- Nhóm các yếu tố gắn liền với nơi đến của người di cư;
- Nhóm các trở ngại giữa nơi xuất phát và nơi đến mà người di cư sẽ gặp và phải vượt qua;
- Nhóm các nhân tố thuộc về người di cư: tính cách cá nhân, tính cách riêng của người di cư
Mỗi một địa điểm (nơi đi và nơi đến) đều có những ưu điểm và hạn chế trên nhiều lĩnh vực như thu nhập, việc làm, nhà ở, phúc lợi xã hội, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, thậm chí là khí hậu… Các ưu điểm và hạn chế này sẽ được người định cư cân nhắc
Thông thường, việc đưa ra quyết định di cư phụ thuộc vào các yếu tố hút và đẩy tại địa phương nơi đến và nơi đi Các điều kiện khó khăn ở nơi đi là nhân tố
“đẩy” chủ yếu của việc xuất cư và các điều kiện thuận lợi hơn ở nơi đến là yếu tố
“hút” của việc nhập cư Cụ thể:
Yếu tố lực đẩy: Lee chỉ ra rằng các yếu tố mang tính lực đẩy bao gồm yếu tố chính trị, kinh tế, dân số, văn hóa, tôn giáo, phong tục truyền thống… Nguyên nhân khiến người di cư rời bỏ địa bàn sống trước đó của mình có thể là sự dư thừa lực lượng lao động trong khu vực nông nghiệp, do nạn đói, dân số tăng nhanh hoặc sự xung đột chính trị về biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia
Yếu tố lực hút: đối với trường hợp di dân từ nông thôn đến đô thị, các yếu tố lực hút có thể kể đến bao gồm: cơ hội việc làm đối với người nhập cư, sự chênh lệch mức sống, lối sống đô thị, điều kiện chăm sóc sức khỏe, y tế, môi trường sống, học tập… Trong nhiều trường hợp, tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị khá cao nhưng người dân vẫn tiếp tục di cư về thành thị bởi họ hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn hoặc mong muốn cho con cái được sống ở đô thị
Người di cư thường kỳ vọng sẽ gặt hái được giá trị tăng thêm từ khi chuyển đi Việc đưa ra quyết định di cư được tính toán dựa trên các yếu tố vật chất, tinh thần, môi trường sống, khả năng hội nhập… Vấn đề di cư từ nông thôn đến thành thị có thể là thuận lợi đối với một số người này nhưng sẽ là bất lợi đối với một số người khác
Như vậy, các nguyên nhân dẫn đến quyết định di cư của một cá nhân phụ thuộc vào tác động của các lực “hút – đẩy” từ các địa phương
2.2.3 Mô hình kinh tế hai khu vực của Arthur Lewis
Lewis (1954) giả định rằng trong nền kinh tế chỉ tồn tại 2 khu vực: khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống và khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại Đặc trưng của khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống là sử dụng lao động thủ công và tiền lương của người lao động tại khu vực này thấp do sự dư thừa lao động Ngược lại, khu vực công nghiệp hiện đại tập trung nhiều ngành sản xuất chế biến hiện đại Khu vực này có năng suất lao động cao hơn nên tiền lương của người lao động thường cao hơn khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống Do đó, sẽ xảy ra hiện tượng lao động dư thừa từ khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống dịch chuyển sang khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại trong quá trình công nghiệp hóa
Nếu số lượng người lao động di chuyển từ khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống sang khu vực sản xuất công nghiệp hiện đại bằng với số lượng lao động dư thừa trong lĩnh vực nông nghiệp thì phúc lợi và năng suất chung của nền kinh tế sẽ được cải thiện Tổng số sản phẩm nông nghiệp không đổi nhưng tổng sản phẩm công nghiệp tăng lên do được bổ sung thêm lao động Việc dịch chuyển lao động sẽ diễn ra đến khi tất cả các lao động dư thừa ở khu vực nông nghiệp được chuyển đến khu vực công nghiệp Khi đó, năng suất lao động cận biên và tiền lương ở 2 khu vực sẽ cân bằng Lúc này, người lao động trong khu vực nông nghiệp sẽ không còn động cơ kinh tế (mức lương) để chuyển dịch Quá trình di cư lao động từ khu vực nông nghiệp truyền thống sang khu vực công nghiệp chấm dứt
Mô hình kinh tế hai khu vực của Arthur Lewis đã lý giải được phần nào quá trình dịch chuyển lao động từ khu vực nông thôn đến thành thị tại các nước đang phát triển Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này là vẫn chưa lý giải được vì sao vẫn có một lượng lớn người dân nhập cư đổ về các trung tâm thành phố lớn của các nước này trong khi tình trạng thất nghiệp ngày một gay gắt hơn Tuy nhiên, dựa vào mô hình này ta có thể thấy rằng yếu tố thu nhập, việc làm là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng di cư từ nông thôn lên thành thị
2.2.4 Mô hình lý thuyết “thu nhập kỳ vọng” của Harris – Todaro:
Các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề di cư
Luận văn nghiên cứu về di cư nông thôn – đô thị Đây là hình thức di cư phổ biến tại các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, các nghiên cứu hiện có thường chỉ tiếp cận vấn đề từ nơi đi hoặc nơi đến Cụ thể như:
Tiếp cận vấn đề từ nơi đi:
Một trong những đề tài tìm hiểu di cư nông thôn – đô thị trong nước bằng cách tiếp cận vấn đề từ nơi đi là nghiên cứu thực nghiệm của Nguyễn Ngọc Diễm và Nguyễn Thị Minh Châu (2005) tại xã Trịnh Xá, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam về vấn đề “Đi làm ăn xa – Phương thức tăng thu nhập gia đình” Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu đối tượng đi làm ăn xa – người thực hiện di cư xuất phát từ động cơ kinh tế, rời quê đến nơi khác để tìm kiếm việc làm và có thêm thu nhập Bằng phương pháp chọn ngẫu nhiên 286 hộ gia đình trên tổng số 1289 hộ tại xã Trịnh Xá để thực hiện khảo sát cho các bảng hỏi định lượng, kết hợp với việc thực hiện 5 cuộc thảo luận nhóm (trong đó gồm 4 cuộc thảo luận với hộ gia đình, 1 cuộc thảo luận với các trưởng thôn) và các cuộc phỏng vấn sâu, đề tài đã nêu lên được các đặc trưng chủ yếu của những người đi làm ăn xa như: tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân, tình trạng học vấn, tình trạng kinh tế… và mức độ tác động đến kinh tế hộ gia đình từ việc đi làm ăn xa của họ Người đi làm ăn xa đa phần đều nằm trong độ tuổi lao động (89%) và tỷ lệ người di chuyển là nam giới vượt trội hơn so với nữ giới (59%) Nghiên cứu còn nêu lên được khó khăn kinh tế chính là lực đẩy khiến cho người dân nơi đây có xu hướng tìm đến các khu đô thị – nơi có nền kinh tế phát triển hơn để tìm việc làm và kiếm thêm thu nhập Việc đi làm ăn xa đã góp phần làm tăng thu nhập hộ gia đình của người di chuyển ở quê nhà và không gây ảnh hưởng đến việc sản xuất kinh tế của hộ gia đình vì đa số di chuyển theo thời vụ, tranh thủ lúc nông nhàn để đi làm ăn xa Đây là một biện pháp làm tăng thêm thu nhập, đồng thời cũng giải quyết được lượng lao động nông nhàn tại địa phương
Một nghiên cứu khác cũng tìm hiểu về vấn đề di cư nông thôn – đô thị trong nước và tiếp cận vấn đề từ nơi đi là nghiên cứu về “Thực trạng và giải pháp cho vấn đề di cư ở tỉnh Hậu Giang” do Nguyễn Quốc Nghi và ctg (2010) thực hiện Đối tượng phỏng vấn chính của nghiên cứu này là các hộ gia đình có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Hậu Giang Trong quá trình thu thập dữ liệu, các tác giả đã thực hiện phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện và chọn mẫu theo tỷ lệ: thực hiện phỏng vấn 100 quan sát Trong đó, 70 quan sát là lao động di cư đến các tỉnh khác ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long và TP.HCM, 30 quan sát đối với người không thực hiện di cư Bằng cách thực hiện các phương pháp thống kê mô tả, phân tích Cross – Tab kết hợp với phương pháp phân tích logistic, nghiên cứu đã nêu lên được thực trạng di cư lao động ở tỉnh Hậu Giang, các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định di cư của hộ gia đình tại tỉnh Hậu Giang và đề xuất các giải pháp cho vấn đề di cư tại tỉnh Kết quả chỉ ra rằng có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư của người dân, trong đó có thể kể đến các yếu tố như: số người trong độ tuổi lao động, điều kiện tự nhiên, thu nhập của hộ, diện tích đất sản xuất và điều kiện việc làm tại địa phương… Việc thực hiện di cư của người dân không chỉ tác động đến cá nhân người di cư mà còn tác động đến địa phương nơi họ sinh sống Ngoài mặt tích cực là giúp địa phương giảm tỷ lệ hộ nghèo nhờ tiền gởi về của lao động di, giảm các tệ nạn do đói nghèo gây ra… việc di cư cũng có các mặt hạn chế như: làm cho địa phương thiếu lao động vào các đợt mùa vụ và cơ cấu lao động bị thay đổi gây khó khăn cho sự phát triển toàn diện của địa phương
Các đề tài trên đã phần nào chỉ ra được thực trạng của vấn đề di cư nông thôn – đô thị trong nước tại một số địa phương nhất định Tuy nhiên, do chỉ tiếp cận vấn đề từ 1 chiều (chiều đi) và đối tượng phỏng vấn chính cũng chỉ từ 1 đối tượng: hoặc người di cư hoặc hộ gia đình nên vẫn chưa có được cái nhìn toàn diện về hiện trạng di cư cũng như đưa ra các giải pháp thực tế cho cả nơi đi và nơi tiếp nhận
Tiếp cận vấn đề tại nơi đến:
Trái ngược với việc tiếp cận vấn đề từ nơi đi như các nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu của Võ Phước Tài (2013) về “Lý do chọn Thành phố Hồ Chí Minh để nhập cư” đã được thực hiện tại nơi tiếp nhận người di cư Đối tượng khảo sát chính của nghiên cứu này là những người nhập cư vào TP.HCM, có thời gian lưu trú tại TP.HCM từ 05 năm trở lên Tổng số quan sát là 277 quan sát, được phỏng vấn trực tiếp theo kiểu lấy mẫu thuận tiện tại 3 khu vực của TP.HCM là Quận 7, Quận Tân Bình và Quận Bình Thạnh Bằng cách kết hợp các phương pháp phân tích định lượng như: phương pháp thống kê mô tả, phân tích nhân tố khám phá và kiểm tra độ tin cậy của thang đo, kết quả nghiên cứu của đề tài đã chỉ ra được 6 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến quyết định di cư đến TP.HCM là yếu tố chính trị và chính sách của Thành phố Hồ Chí Minh; yếu tố hoàn cảnh gia đình, sự lôi kéo của bạn bè và người đồng hương; yếu tố nhu cầu chất lượng cuộc sống tốt hơn và thực hiện khát vọng cá nhân; yếu tố cơ hội việc làm và điều kiện phát triển nghề nghiệp; yếu tố nhu cầu công việc có thu nhập ổn định và cuối cùng là yếu tố hôn nhân, sống gần người thân
Một nghiên cứu khác cũng tiếp cận vấn đề từ nơi đến là nghiên cứu “Hòa nhập xã hội của người di cư tại các đô thị ở Việt Nam: hướng đến một mô hình trợ giúp xã hội” của Phạm Văn Quyết và Trần Văn Kham vào năm 2015 Đối tượng phỏng vấn chính của nghiên cứu này là lao động di cư tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tiến hành đánh giá sự tham gia xã hội của người di cư trên các khía cạnh: quan hệ bạn bè, mức độ tham gia vào các hoạt động tại địa phương, nơi làm việc, cách thức giải quyết những khó khăn trong cuộc sống, những trải nghiệm, xúc cảm, thái độ về các vấn đề xã hội trong đời sống đô thị Kết quả nghiên cứu đã nêu lên được những vấn đề liên quan đến sự hòa nhập, tham gia vào các hoạt động xã hội của người di cư Hầu hết, những người di cư chưa nhận được sự quan tâm của chính quyền và của cộng đồng đối với quyền lợi xã hội của họ Người di cư chỉ thực sự được quan tâm đến khi cộng đồng cần họ đóng góp hoặc các vấn đề về an ninh Điều này làm cho những người di cư chưa thật tích cực chủ động trong việc tham gia các hoạt động tại địa phương nơi cư trú và do đó, hàng rào ngăn cách giữa người di cư và người dân sở tại vẫn còn hiện hữu Xu hướng của người di cư là tin vào chính mình hoặc một vài người thân họ hàng cùng di cư, người cùng làng, cùng xã Họ ít nhờ cậy hay tin tưởng những người dân sở tại, đặc biệt là chính quyền địa phương nơi cư trú Bên cạnh đó, đời sống tinh thần của người di cư hầu như rất nghèo nàn, họ không biết đến các hoạt động giải trí có giá trị về mặt tinh thần như người dân sở tại Hoạt động mà người di cư thường làm khi có thời gian rảnh rỗi là ngủ, nghỉ ngơi và xem tivi, một số ít đi thăm bạn bè, người thân, họ hàng
Bên cạnh đó, nghiên cứu của K Vinayakam và S.P.Sekar về đề tài “Rural to
Urban Migration in an Indian Metropolis: Case study Chennai City” cũng được thực hiện bằng cách tiếp cận vấn đề tại nơi tiếp nhận người nhập cư – thành phố Chennai, Ấn Độ Bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, các tác giả đã thực hiện phỏng vấn 305 người di cư trong 10 khu vực của thành phố Chennai, Ấn Độ Bảng hỏi chủ yếu xoay quanh các vấn đề của người di cư như: lý do di cư, động lực của việc di chuyển, độ tuổi, trình độ học vấn của người di cư, điều kiện sống và làm việc hiện nay… Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: mục đích chính của việc thực hiện di cư chủ yếu vẫn là yếu tố công việc Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã nêu lên các yếu tố hút lao động di cư từ nông thôn về thành phố Chennai gồm: công việc tốt hơn, mức lương cao hơn, y tế giáo dục phát triển mạnh hơn so với các vùng nông thôn Chính những vấn đề nêu trên đã thúc đẩy người dân tại các vùng nông thôn di chuyển đến thành thị để sinh sống
Tương tự với nghiên cứu của K Vinayakam và S.P.Sekar, nghiên cứu của Lê Xuân Bá (2010) về “Hiện tượng di dân đến Thành phố: nhận định và đề xuất chính sách” đã nêu lên các yếu tố ảnh hưởng đến hiện tượng di dân đến Thành phố bao gồm: lực hút của chiều đến và lực đẩy của chiều đi, do điều tiết của thị trường lao động và điều tiết của nhà nước vào quá trình dịch chuyển lao động Ngoài ra, nghiên cứu còn nêu lên được các khó khăn mà lao động di cư gặp phải khi di chuyển đến Thành phố: vấn đề nhà ở, văn hóa, học tập cho con cái và các vấn đề an sinh xã hội khác…
Như vậy, đa phần các nghiên cứu thực hiện phương pháp tiếp cận tại nơi đến có đối tượng nghiên cứu chủ yếu là người thực hiện di cư Do đó, cũng tương tự với phương pháp tiếp cận từ nơi đi, cách tiếp cận này cũng chỉ nêu lên được một phần khía cạnh của vấn đề di cư nông thôn – đô thị mà chưa có được cái nhìn bao quát, toàn diện cho vấn đề này Vì thế, cần thiết có những nghiên cứu thực hiện tiếp cận ở cả nơi đi và nơi đến để đưa ra những nhận định cụ thể, sát với thực tế và nêu lên các giải pháp phù hợp cho vấn đề trên
Tiếp cận vấn đề ở cả nơi đi và nơi đến: Để khắc phục các hạn chế từ cách tiếp cận vấn đề theo một chiều, nghiên cứu
“Những con đường về thành phố - Di dân đến Thành phố Hồ Chí Minh từ một vùng Đồng bằng Sông Cửu Long” đã tiếp cận vấn đề từ cả nơi đi và nơi đến Đây là nghiên cứu hiếm hoi tiếp cận vấn đề từ cả hai chiều Nghiên cứu được thực hiện trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Viện Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm dân số và các vấn đề xã hội (thuộc Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội) với Viện nghiên cứu vì sự phát triển Pháp vào năm 2003
Nghiên cứu đã tiến hành khảo sát việc di dân nông thôn – thành thị từ 3 xã của huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An từ năm 1999 để thấy được quá trình nhập cư từ nông thôn về TP.HCM Nghiên cứu đã thực hiện điều tra qua hai giai đoạn: giai đoạn điều tra tại vùng nông thôn nơi xuất cư và giai đoạn điều tra tại TP.HCM bằng cách tìm lại những người di chuyển qua địa chỉ được ghi nhận từ cuộc điều tra tại hộ gia đình Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong số những người di chuyển đến TP.HCM, tỷ lệ nữ có phần vượt trội hơn so với tỷ lệ nam, đa số những người di chuyển là những người độc thân và không có trình độ chuyên môn nghiệp vụ Đồng thời, nghiên cứu còn chỉ ra được mối liên hệ giữa quy mô hộ gia đình với xác suất di chuyển khỏi gia đình, số người di chuyển tăng nhiều hơn trong các gia đình có quy mô lớn Với cách tiếp cận này, nghiên cứu đã cung cấp cái nhìn đa chiều và nhiều thông tin thú vị liên quan đến việc di cư Nhờ đó, những người quan tâm có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề Tuy nhiên, nghiên cứu này đã được thực hiện từ năm 2003 và từ đó đến nay tác giả chưa tìm thấy nghiên cứu tương tự nào trong lĩnh vực này
Nhận thấy những ưu điểm của cách tiếp cận trên, phân tích từ cả nơi đi và nơi đến, luận văn đã áp dụng phương pháp nghiên cứu tương tự để phân tích di cư từ xã Long Hậu Cụ thể, nghiên cứu tìm hiểu các vấn đề liên quan đến di cư nông thôn – đô thị của người dân xã Long Hậu – huyện Lai Vung – tỉnh Đồng Tháp Nghiên cứu xem xét các yếu tố tác động đến việc thực hiện di cư của cá nhân, so sánh đặc điểm của hộ gia đình có người di cư và hộ không có người di cư Nguyện vọng của người di cư sau khi thực hiện quyết định di chuyển của mình là như thế nào? Họ sẽ ở lại nơi đến hay sẽ quay về quê nhà hay sẽ thực hiện di chuyển đến một nơi khác? Gia đình có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định di chuyển của người di cư?
Như vậy, ngoài việc xem xét hiện tượng từ cả nơi đi và nơi đến luận văn cũng tìm hiểu thêm những điểm khác biệt giữa hộ gia đình có người di cư và hộ không có người di cư Các yếu tố liên quan đến điều kiện kinh tế - xã hội tại địa phương như cơ hội việc làm, đời sống vật chất và tinh thần cũng được phân tích để hiểu rõ hơn bối cảnh và những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định di cư.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khung nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu
Từ các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề di cư cùng với việc kết hợp các lý thuyết chính được tham khảo trong đề tài, khung nghiên cứu cho vấn đề di cư nông thôn – đô thị, trường hợp xã Long Hậu được xây dựng Trong lý thuyết Hút – Đẩy của Everett S Lee và thuyết thu nhập kỳ vọng của Harris – Todaro, các yếu tố cá nhân, gia đình và yếu tố môi trường sống đã tác động đến việc di cư của người dân Người dân thực hiện di cư phụ thuộc vào trình độ học vấn, cơ hội việc làm, cơ hội học tập, mức thu nhập kỳ vọng trong tương lai, môi trường sống Ngoài ra, các yếu tố của gia đình như điều kiện kinh tế của hộ gia đình, nhận định của gia đình về việc di cư, số thành viên trong hộ có tác động đến việc di cư của cá nhân như thế nào vẫn chưa có nhiều nghiên cứu tìm hiểu về góc độ này Do đó, để hiểu rõ hơn tác động của các yếu tố trên đến việc di cư của người dân, khung nghiên cứu cho đề tài được xây dựng như sau:
DI CƯ Độ tuổi Trình độ học vấn
Mục tiêu tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập
Mục tiêu học tập nâng cao trình độ
Số thành viên trong hộ Độ tuổi bình quân chung của hộ gia đình
Trình độ học vấn của các thành viên hộ gia đình
- Điều kiện sống nơi đi và nơi đến
- Khả năng tìm được việc làm
- Cơ hội phát triển trong tương lai Điều kiện kinh tế của hộ
Nhận định về việc di cư của gia đình
YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG Đề tài có các giả thiết nghiên cứu như sau:
- Có mối quan hệ giữa đặc điểm hộ gia đình, suy nghĩ của thành viên trong hộ gia đình với quyết định di cư của cá nhân
- Có sự khác biệt giữa đặc điểm hộ có người di cư và hộ không có người di cư
- Có sự khác biệt về điều kiện sống của hộ gia đình trước và sau khi có người di cư
- Yếu tố việc làm là động cơ chính khiến người dân Long Hậu thực hiện di cư đến TP.HCM.
Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu của đề tài được thực hiện qua các bước như sau:
Xác định vấn đề nghiên cứu Tìm hiểu cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan trước
Thiết kế khung phỏng vấn, thu thập danh sách hộ và thông tin liên quan khảo sát thử nghiệm và thảo luận với một số người am hiểu về đặc điểm kinh tế - xã hội tại địa phương
Hoàn thiện bảng hỏi, xác định phương pháp chọn mẫu, quy mô và cách thực hiện, chuẩn bị cho việc khảo sát Thu thập dữ liệu + kiểm tra thông tin thu thập
Phân tích dữ liệu Hoàn chỉnh báo cáo
Khảo sát thử nghiệm và hoàn thiện bảng câu hỏi
Trước khi tiến hành thu thập thông tin chính thức, giảng viên hướng dẫn cùng tác giả đã thực hiện khảo sát thử nghiệm 6 trường hợp tại địa phương (03 cán bộ, 02 hộ gia đình và 01 cá nhân di chuyển đến TP.HCM) để hiểu rõ hơn về tình hình di cư của người dân tại địa phương
Sau đó, các bảng hỏi được thiết kế, thảo luận và chỉnh sửa nhiều lần trước khi áp dụng để khảo sát chính thức Các bảng hỏi được chia thành 3 loại phiếu dành cho
3 nhóm đối tượng như sau:
- Phiếu phỏng vấn hộ gia đình có người di chuyển đến TP.HCM;
- Phiếu phỏng vấn hộ gia đình không có người di chuyển đến TP.HCM;
- Phiếu phỏng vấn cá nhân người di chuyển đến TP.HCM
Trong đó, phiếu phỏng vấn hộ gia đình được thiết kế bao gồm các thông tin chung như: đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình; thông tin về nhà ở, đất đai, việc làm, thu nhập của hộ gia đình; các đặc điểm của địa phương nơi gia đình sinh sống cũng như những thay đổi trong 5 năm trở lại đây tại địa phương; đặc biệt là kỳ vọng trong tương lai của hộ gia đình về đời sống kinh tế của hộ và việc thực hiện di chuyển đến TP.HCM của các thành viên trong gia đình Ngoài các thông tin chung, phiếu khảo sát hộ gia đình có người di chuyển đến TP.HCM sẽ có thêm các thông tin về nguyên nhân thành viên này quyết định di chuyển đến TP.HCM, mức độ gắn bó giữa các cá nhân trong gia đình với người di cư cũng như nhận định của họ đối với việc thực hiện di cư của thành viên này
Phiếu phỏng vấn cá nhân người di chuyển được thiết kế để tìm hiểu các thông tin về thời gian sinh sống của cá nhân người di cư tại TP.HCM như thông tin về việc làm, nơi ở cũng như nhận định của cá nhân họ đối với những điểm tương đồng và khác biệt giữa TP.HCM với quê nhà Ngoài ra, bảng hỏi còn đề cập đến những dự định trong tương lai của cá nhân người di chuyển về việc có tiếp tục ở lại TP.HCM hay không
Sau khi hoàn thiện bảng hỏi, việc thu thập dữ liệu hộ gia đình đã được thực hiện bằng cách phỏng vấn trực tiếp người đại diện của hộ tại xã Long Hậu Riêng đối với cá nhân người di chuyển việc phỏng vấn được thực hiện theo hai hình thức: phỏng vấn qua điện thoại và phỏng vấn trực tiếp tại TP.HCM.
Phương pháp chọn mẫu và quy mô mẫu
Cỡ mẫu khảo sát: cỡ mẫu gồm 101 quan sát Trong đó, 42 hộ có người di chuyển đến TP.HCM, 35 hộ không có người di chuyển đến TP.HCM và 24 cá nhân di chuyển đến TP.HCM
Phương pháp chọn mẫu: mẫu được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các bước nhảy tương ứng với qui mô mẫu của từng nhóm Dựa vào danh sách hộ gia đình của mỗi ấp, các hộ được phân thành hai nhóm: hộ có người di cư đến TP.HCM (có ít nhất 1 người hiện đang sống hoặc làm việc tại TP.HCM trong thời gian từ 6 tháng trở lên) và hộ hiện không có người di cư (hộ không có thành viên nào đã từng hay đang sống, làm việc ở TP.HCM trong khoảng thời gian từ 6 tháng trở lên) Các hộ thuộc mỗi nhóm sẽ được chọn ngẫu nhiên theo bước nhảy k cho trước Khi phỏng vấn hộ gia đình tại địa phương, người được phỏng vấn là người trưởng thành và hiểu biết rõ về gia đình (đa phần người trả lời phỏng vấn là chủ hộ) Riêng cá nhân người di chuyển phải là người dân xã Long Hậu đã thực hiện di chuyển đến TP.HCM ít nhất từ 6 tháng trở lên và được phỏng vấn qua điện thoại hoặc phỏng vấn trực tiếp tại TP.HCM Trong trường hợp tình trạng di chuyển của hộ không đúng với yêu cầu đặt ra, hộ gia đình có tình trạng di chuyển đúng theo yêu cầu gần nhất sẽ được chọn thay thế để phỏng vấn Quy trình chọn mẫu trên thực tế được xác định như sau:
- Trước tiên, danh sách các ấp trong xã Long Hậu được chia thành hai nhóm: các ấp có điều kiện kinh tế tương đối phát triển và các ấp có điều kiện kinh tế tương đối khó khăn hơn Nhóm nghiên cứu chọn ngẫu nhiên một ấp trong mỗi nhóm Có hai ấp được chọn là Long Hòa và Long Thành A
- Tiếp đó, nhóm nghiên cứu liên hệ với công an khu vực, trưởng/phó tổ nhân dân ở hai ấp được chọn để ghi lại danh sách các hộ gia đình ở từng ấp và xác định tình trạng di cư của hộ Sau khi có danh sách và thông tin về tình trạng di cư của các hộ, nhóm tiến hành phân nhóm và xác định bước nhảy tương ứng với quy mô của từng nhóm hộ tại mỗi ấp
- Nhóm xác định danh sách các hộ được chọn và phương án dự phòng trong trường hợp có sự thay đổi về tình trạng di cư của hộ
- Nhờ tổ trưởng/tổ phó tổ nhân dân, cảnh sát khu vực hoặc cán bộ địa phương giới thiệu với các hộ gia đình trước khi phỏng vấn chính thức
- Tập huấn cho sinh viên tham gia phỏng vấn và có họp rút kinh nghiệm sau mỗi ngày phỏng vấn
- Sau khi phỏng vấn hộ, danh sách các thành viên di cư đến TP.HCM do gia đình cung cấp được tổng hợp lại Từ danh sách này, 24 cá nhân di chuyển được chọn ngẫu nhiên để phỏng vấn
- Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được nhập vào máy tính và kiểm tra chéo trước khi tiến hành phân tích
Dữ liệu chính của đề tài là dữ liệu sơ cấp được thu thập trong quá trình thực địa như: phỏng vấn sâu, phỏng vấn theo bảng hỏi, quan sát hiện trường và thảo luận tự do với các chủ thể liên quan (gia đình, cá nhân, cán bộ địa phương về thông tin, nhận định thu thập được trong quá trình khảo sát) Trong đó, thông tin chủ yếu được thu thập từ việc phỏng vấn các hộ gia đình có người di cư và không có người di cư.
Phương pháp phân tích dữ liệu
Đề tài áp dụng cả hai phương pháp nghiên cứu là định tính và định lượng để giải quyết mục tiêu mà đề tài hướng đến Cụ thể:
Phương pháp thống kê: sử dụng các thống kê cơ bản nhằm mô tả, so sánh, phân tích hiện tượng di cư và những đặc điểm của đối tượng nghiên cứu Bên cạnh đó, kiểm định t – Test cũng được sử dụng để kiểm tra giả thuyết về khả năng có sự khác biệt thật sự giữa hai nhóm hộ Do đây là 2 mẫu độc lập có quy mô mẫu khác nhau, tác giả sử dụng Welch’s t-test, còn được gọi là unequal variances t-test, một biến thể của t-test để kiểm định vì phương pháp này cho kết quả chính xác hơn so với t-test thông thường (Welch, 1947)
Phương pháp phân tích định tính Đây là phương pháp nghiên cứu chính của đề tài Để có thể thu thập được thông tin đa chiều về đối tượng nghiên cứu, nhiều phương pháp thu thập dữ liệu trong khoa học xã hội được áp dụng Cụ thể, các phương pháp điều tra điền dã, quan sát hiện trường, phỏng vấn sâu được thực hiện đan xen nhau Sau khi thu thập, các thông tin ghi chép, tổng hợp lại một cách có hệ thống và mã hóa
Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu tại bàn cũng được sử dụng nhằm tìm hiểu và hệ thống hóa các khái niệm, các lý thuyết, và các nghiên cứu liên quan đến đề tài Những nghiên cứu và thông tin liên quan đến đề tài được giới thiệu trên các phương tiện truyền thông cũng được tổng hợp và phân tích.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tổng quan về địa phương nghiên cứu
Lai Vung là huyện nằm giữa hai con sông Tiền và sông Hậu, thuộc phía Nam của tỉnh Đồng Tháp Huyện có 11 xã và 01 thị trấn Với vị trí thuận lợi, nằm giữa hai con sông lớn ở khu vực phía Nam Nhờ đó, huyện luôn có được nguồn nước dồi dào, phù hợp cho việc trồng cây ăn trái với các đặc sản nổi tiếng như: quýt hồng, quýt đường, cam xoàn… Quýt hồng Lai Vung đã được Cục sở hữu trí tuệ công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu độc quyền của huyện Lai Vung Ngoài ra, do huyện gần khu công nghiệp Sa Đéc, ngang khu công nghiệp Trà Nóc (Cần Thơ) và tiếp giáp với các trung tâm đô thị lớn của vùng như Thành phố Cần Thơ, thành phố Long Xuyên (An Giang) nên có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế xã hội Thời gian qua, huyện Lai Vung đã phát huy thế mạnh của các làng nghề, di tích lịch sủ văn hóa nhằm góp phần thúc đẩy phát triển dịch vụ và du lịch tại huyện nhà Nói đến các làng nghề truyền thống tại huyện Lai Vung, phải kể đến nghề đóng xuồng ghe ở Bà Đài – Long Hậu, nghề đan lờ lợp ở Hòa Long, nghề đan cần xé và làm nem ở Tân Thành…
Long Hậu là xã rộng nhất trong tổng số 12 xã, thị trấn tại huyện Lai Vung
Về kinh tế, xã Long Hậu chủ yếu có thế mạnh trong việc trồng quýt, đóng xuồng ghe và đặc biệt là làm nem – đây là sản phẩm tạo nên thương hiệu của Huyện Lai Vung ở miền Tây Nam Bộ.
Sự khác biệt giữa hộ có người di cư và hộ không có người di cư
4.2.1 Tổng số thành viên và độ tuổi bình quân chung của hộ gia đình:
Kết quả khảo sát hộ gia đình cho thấy những hộ di cư có tỷ lệ nam cao hơn nữ Những hộ này cũng thường có quy mô lớn hơn và độ tuổi bình quân cao hơn những hộ không có người di cư
Bảng 4.1: Số thành viên trong gia đình phân theo giới tính và độ tuổi bình quân của các thành viên trong gia đình theo nhóm hộ (tính tại thời điểm khảo sát)
Nội dung Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Số người bình quân trong hộ (người) 5.4 5 0.2447 Độ tuổi bình quân chung của hộ
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Bảng 4.1 cho thấy, số thành viên là nam trong hộ gia đình có người di cư chiếm 50.9%, trong khi tỷ lệ tương ứng ở hộ gia đình không có người di cư là 48.5% Bình quân số thành viên trong hộ có người di cư là 5.4 nhưng ở hộ không có người di cư chỉ là 5 người Tuy nhiên sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê Độ tuổi bình quân chung của hộ có người di cư là 38, cao hơn nhiều so với độ tuổi bình quân chung của hộ gia đình không có người di cư (31,8)
Hệ số p về độ tuổi bình quân chung là 0.0001 cho thấy sự khác biệt về độ tuổi bình quân chung giữa hai nhóm hộ có ý nghĩa thống kê
Do đó, ta có thể kết luận, những hộ gia đình có người di cư có tuổi bình quân chung cao hơn những hộ không có người di cư
4.2.2 Trình độ học vấn của các thành viên trong hộ gia đình:
Kết quả khảo sát cho thấy trình độ học vấn trung bình của chủ hộ đa phần là thấp Các chủ hộ ở cả hai nhóm hầu như tốt nghiệp bậc tiểu học Không có sự chênh lệch nhiều về trình độ học vấn của chủ hộ giữa các hộ gia đình có người di cư và hộ gia đình không có người di cư Cụ thể, đối với hộ gia đình có người di cư thì trình độ học vấn trung bình của chủ hộ là 5.33, trong khi đó trình độ tương ứng của nhóm hộ không có người di cư là 5.25 Sự khác biệt này cũng không có ý nghĩa về mặt thống kê
Bảng 4.2: Trình độ học vấn của các thành viên phân theo nhóm hộ
Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Trình độ học vấn trung bình của chủ hộ (số lớp học đã hoàn thành)
Trình độ học vấn trung bình của các cá nhân từ 15 tuổi trở lên (số lớp học đã hoàn thành)
Trình độ học vấn trung bình của người có trình độ cao nhất trong hộ Trong đó:
- Tỷ lệ hộ có người có trình độ học vấn cao nhất là sau THPT (trên 12):
- Tỷ lệ hộ có người có trình độ học vấn cao nhất là PTTH (tốt nghiệp lớp 12):
- Tỷ lệ hộ có người có trình độ học vấn cao nhất là THCS (tốt nghiệp lớp 9):
Tỷ lệ hộ có ít nhất một người dưới 15 tuổi đã nghỉ học
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Trong khi đó, trình độ học vấn trung bình của các thành viên từ 15 tuổi trở lên trong hộ gia đình có người di cư cao hơn trình độ tương ứng của các thành viên trong hộ gia đình không có người di cư Mức trình độ học vấn trung bình tương ứng của nhóm hộ có người di cư và không có người di cư lần lượt là 8.37 và 7.52 Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,0208 Tương tự, trình độ học vấn trung bình cao nhất của nhóm hộ có người di cư và hộ không có người di cư lần lượt là 10.67 và 9.31, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê ở mức p = 0.078
Kết quả phân tích chi tiết hơn cũng cho thấy có sự chênh lệch lớn về trình độ học vấn cao nhất và khả năng nghỉ học sớm của các thành viên trong gia đình của hộ có người di cư và hộ không có người di cư Trong nhóm hộ gia đình có người di cư được khảo sát, không có thành viên nào dưới 15 tuổi đã nghỉ học Trong khi đó, tỷ lệ hộ có ít nhất một thành viên dưới 15 tuổi đã nghỉ học ở nhóm hộ không có người di cư chiếm đến 20% Tỷ lệ hộ gia đình có ít nhất một thành viên có trình độ học vấn sau THPT (cao hơn lớp 12) đối với nhóm hộ có người di cư là 33.33%, trong khi tỷ lệ tương ứng của nhóm hộ không có người di cư chỉ đạt 25.71% Tỷ lệ hộ có ít nhất một thành viên tốt nghiệp 12 tại hai nhóm hộ, có người di cư và không có người di cư lần lượt là 23.81% và 20% Đối với trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở, tỷ lệ tương ứng tại hai nhóm hộ có người di cư và không có người di cư lần lượt là 38.10% và 25.71%
Như vậy, không có sự chênh lệch lớn về trình độ học vấn trung bình của chủ hộ giữa hai nhóm hộ gia đình có người di cư và không có người di cư Tuy nhiên, khi xem xét sâu hơn về trình độ học vấn trung bình, trình độ học vấn cao nhất của các thành viên và việc hộ có thành viên dưới 15 tuổi đã bỏ học, kết quả khảo sát cho thấy có sự chênh lệch rõ rệt giữa hai nhóm hộ gia đình Hộ gia đình có người di cư có trình độ học vấn trung bình cao hơn ở hộ không có người di cư Cả sáu tiêu chí liên quan đến trình độ học vấn trung bình, trình độ học vấn cao nhất và việc hộ có thành viên nào dưới 15 tuổi đã nghỉ học của nhóm hộ di cư đều tốt hơn nhóm hộ không có người di cư Điều này cho thấy có mối quan hệ giữa trình độ học vấn với việc di cư đến TP.HCM của người dân ở Long Hậu Những hộ có trình độ học vấn trung bình cao hơn sẽ có khả năng di chuyển đến TP.HCM nhiều hơn các hộ còn lại Có thể lý giải điều này là do người có trình độ học vấn cao hơn có khả năng tìm kiếm việc làm, cơ hội học tập lên cao dễ dàng hơn ở TP.HCM Họ cũng có khả năng thích nghi tốt hơn nên cũng di cư đến TP.HCM nhiều hơn
4.2.3 Tỷ lệ phụ thuộc và điều kiện việc làm của hai nhóm hộ:
Bảng 4.3: Tỷ lệ người phụ thuộc bình quân phân theo nhóm hộ
Nội dung Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Tỷ lệ người không làm việc do già yếu (>60 tuổi) (%) 11.26 7.26
Tỷ lệ người dưới 6 tuổi (%) 0.77 7.06
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Tại hộ gia đình có người di cư, tỷ lệ thành viên không làm việc do già yếu trung bình chiếm đến 11.3% tổng số, trong khi tỷ lệ tương ứng của các hộ không có người di cư chỉ 7,3% Trái lại, tỷ lệ thành viên dưới 6 tuổi ở nhóm hộ có người di cư chỉ chiếm 0,8% trong khi tỷ lệ tương ứng của nhóm hộ không có người di cư là 7,1% Như vậy, các hộ di cư thường có tỷ lệ người lớn tuổi cao hơn nhóm hộ không có người di cư Trái lại, các hộ không có người di cư lại có tỷ lệ thành viên dưới 6 tuổi cao hơn Ít gánh nặng chăm lo cho con nhỏ cũng là một yếu tố thuận lợi cho việc di cư
Bảng 4.4: Tỷ lệ thành viên làm việc ở khu vực công và tỷ lệ thành viên đang làm việc trung bình phân theo nhóm hộ
Nội dung Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Tỷ lệ thành viên làm việc trong khu vực công trong tổng số thành viên đang làm việc (%) 3.2 5.3
Tỷ lệ thành viên đang làm việc trên tổng số thành viên của hộ (%) 77.5 56.7
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Bên cạnh đó, tỷ lệ người làm việc tại khu vực công trong tổng số thành viên đang làm việc ở hộ có người di cư và không có người di cư lần lượt là 3.2% và 5.3% So với việc làm nông – công việc chính của đại đa số các hộ gia đình tại Long Hậu, làm việc tại các cơ quan trong khu vực công tương đối ổn định và có phần “oai” hơn Và hầu như đối với các hộ có người thân làm việc trong cơ quan công quyền đều cảm thấy rất hãnh diện về điều này Đây là suy nghĩ tương đối phổ biến ở vùng quê nông thôn như Long Hậu
Tuy nhiên, nhóm hộ có người di cư có tỷ lệ thành viên đang làm việc trong tổng số thành viên rất cao so với tỷ lệ tương ứng của nhóm hộ không có thành viên di cư Tỷ lệ tương ứng của hai nhóm hộ lần lượt là 77.5% và 56.7% Điều này cho thấy tỷ lệ thành viên tham gia hoạt động kinh tế của nhóm hộ di cư cao hơn
Từ phân tích nêu trên, ta có thể thấy các hộ gia đình có người di chuyển có tỷ lệ trẻ dưới 6 tuổi rất thấp so với nhóm hộ không có người di chuyển Các hộ có người di cư cũng có tỷ lệ thành viên làm việc ở khu vực công thấp hơn nhiều so với tỷ lệ tương ứng của hộ không có người di chuyển Tuy nhiên, mức độ tham gia vào các hoạt động kinh tế - đang làm việc- của hộ có người di chuyển lại cao hơn nhiều so với hộ không có người di chuyển Điều này cho thấy, không phải chăm con nhỏ là một yếu tố thuận lợi cho việc di cư Và ở một khía cạnh nào đó, việc di cư đã góp phần tích cực trong việc giải quyết việc làm cho người dân Long Hậu
4.2.4 Điều kiện kinh tế của các hộ gia đình:
Các hộ gia đình tại Long Hậu có nguồn thu nhập chính chủ yếu đến từ việc làm nông, chiếm 50% ở hộ có người di cư và 47.22% ở hộ không có người di cư Đây là kế sinh nhai chính của các hộ gia đình ở vùng quê chuyên về các hoạt động nông nghiệp như Đồng Tháp Ngoài việc làm nông, các hộ tại Long Hậu còn có thể làm các công việc khác để kiếm thu nhập cho gia đình như buôn bán, làm thuê, làm mướn, đóng xuồng ghe Tuy nhiên, các công việc này chiếm tỷ lệ không nhiều
Bảng 4.5: Nguồn thu nhập chính của hộ gia đình phân theo nhóm hộ
Nguồn thu nhập chính (tỷ lệ hộ: %): Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Do nguồn thu nhập chính đến từ nông nghiệp nên điều kiện kinh tế của các hộ gia đình còn nhiều khó khăn Khi được hỏi “Thu nhập trong năm vừa qua của gia đình có đủ để trang trải cuộc sống không?” có trên 35% hộ có người di cư và trên 22% hộ không có người di cư trả lời là không
Bảng 4.6: Khả năng trang trải cuộc sống của hai nhóm hộ
Nội dung Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Tỷ lệ hộ không đủ trang trải cuộc sống: 35.71% 22.86%
Nguồn tiền sử dụng để bù đắp thâm hụt
- Đi vay (có trả lãi từ ngân hàng) 40.00 37.50
- Đi vay (có trả lãi từ tư nhân) 13.33 12.50
- Con cái, người thân gửi tiền về 13.33 12.50
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Bảng 4.6 cho ta thấy để bù đắp các khoản thiếu hụt này, ngoài việc một tỷ lệ nhỏ các hộ gia đình được con cái, người thân gửi tiền về cho trang trải cuộc sống (hơn 10% ở 2 nhóm hộ), hầu hết các hộ gia đình đều chọn phương thức vay ngân hàng nếu có đủ điều kiện vay Nguyên do là việc vay ngân hàng sẽ giúp cho họ kịp thời xoay sở khoản thiếu hụt và mức lãi phải trả sẽ thấp hơn so với vay từ bên ngoài Tỷ lệ hộ đi vay ngân hàng ở hộ gia đình có người di cư là 40% và ở hộ không có người di cư là 37.5% Ngoài việc vay ngân hàng, hình thức được lựa chọn kế đến để giải quyết việc thiếu hụt ở các hộ gia đình là mượn hàng xóm, chiếm tỷ lệ 20% ở hộ có người di cư và 37.5% ở hộ không có người di cư Tuy nhiên, việc vay mượn hàng xóm không phải lúc nào cũng là dễ dàng và đây cũng chỉ là cách giải quyết nhất thời của các hộ gia đình trong trường hợp cấp bách Ngoài 2 phương án nêu trên, số ít các hộ gia đình chấp nhận vay tư nhân với mức lãi cao hơn để giải quyết việc thiếu hụt của gia đình, không có hộ nào thực hiện bán tài sản cũng như chơi hụi để giải quyết thiếu hụt của gia đình
Kết quả cho thấy, hầu hết các hộ gia đình tại Long Hậu đều làm nông nên đời sống còn nhiều khó khăn Tỷ lệ hộ có thu nhập trong năm vừa qua không đủ để trang trải cuộc sống còn cao Điều đáng quan tâm là tỷ lệ này của hộ có người di cư là rất cao, hơn 1/3 tổng số hộ Trong khi đó, khả năng mượn tiền từ người quen, hàng xóm không phải trả lãi của nhóm hộ này cũng thấp hơn Đây cũng là một áp lực đối với việc di cư của nhóm hộ này
4.2.5 Điều kiện nhà ở của các hộ gia đình:
Đặc điểm người di chuyển đến TP.HCM
4.3.1 Độ tuổi trung bình và giới tính của người di cư:
Bảng 4.16: Độ tuổi trung bình và giới tính của người di cư
Giới tính 52.56% 47.44% Độ tuổi trung bình 28.93 31.95 Độ tuổi trung bình chung 30.36 Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Số liệu cho thấy trong số người di chuyển đến TP.HCM, nam chiếm 52.56% và nữ chiếm 47.44% Trong đó, những người di chuyển có độ tuổi trung bình chung là 30.36, đây là độ tuổi không quá trẻ cũng không quá già đối với người lao động Đối với nam lao động di cư, độ tuổi trung bình là 28.93, có phần thấp hơn so với độ tuổi trung bình chung của tổng số người di cư Độ tuổi trung bình chung của nữ lao động di cư là 31.95, cao hơn so với độ tuổi trung bình chung của toàn bộ lao động di cư được khảo sát
Như vậy, lao động nam có xu hướng di cư nhiều hơn và thực hiện việc di cư tương đối sớm hơn so với lao động nữ
4.3.2 Trình độ học vấn của người di cư:
Trình độ học vấn của người di cư được phân chia theo các cấp lớp từ tiểu
(1) Dữ liệu phân tích trong mục này được sử dụng từ cả 2 nhóm phiếu khảo sát, phiếu phỏng vấn hộ có người di cư và phiếu phỏng vấn cá nhân người di chuyển học, trung học cơ sở đến trung học phổ thông (THPT) Theo đó, tỷ lệ lao động chỉ đạt trình độ tiểu học di cư đến TP.HCM chiếm 8.97%, trình độ trung học cơ sở chiếm tỷ lệ nhiều nhất đạt 47.44% và trình độ trung học phổ thông chiếm 43.59% Trong số đó, người di chuyển không có trình độ chuyên môn tay nghề chiếm đến 83.33%, số người có trình độ từ trung cấp chuyên nghiệp trở lên chỉ đạt 4.27% Điều này cho ta thấy trình độ chuyên môn tay nghề của các cá nhân di chuyển còn rất thấp
Bảng 4.17: Trình độ học vấn của người di cư (%)
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu Điều thú vị là trình độ học vấn trung bình của người di cư nữ cao hơn nam Tỷ lệ nữ tốt nghiệp THPT xấp xỉ 49% trong khi tỷ lệ tương ứng của nam chỉ là 39%
Bảng 4.18: Mục đích di chuyển đến TP.HCM của người di cư (%)
Mục đích di chuyển đến
TP.HCM Nam Nữ % Tổng số Đi học 4.76 10.81 7.59 Đi làm 95.24 86.49 91.14
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Bảng 4.18 cho ta thấy mục đích di chuyển đến TP.HCM của người di cư Hầu hết các cá nhân thực hiện di chuyển đến TP.HCM với mục đích tìm kiếm việc làm, chiếm đến 91.14% trong tổng số cá nhân di chuyển Số ít hơn thực hiện di chuyển đến TP.HCM để tiếp tục con đường học tập nâng cao trình độ của mình, chiếm 7.59% Còn lại phần nhỏ không đáng kể di chuyển đến TP.HCM vì lý do kết hôn nên phải thay đổi chổ ở
Chi tiết hơn, mục đích di cư đến TP.HCM của nam giới và nữ giới cho thấy tỷ lệ nữ đến TP.HCM để tiếp tục học tập nâng cao trình độ cao gấp đôi so với người nam Mục đích di cư đến TP.HCM của nữ giới cũng đa dạng hơn so với nam giới Ngoài việc đến TP.HCM để học tập, làm việc, còn có 2.7% nữ giới di cư đến TP.HCM là vì lý do kết hôn
Mục đích người di cư di chuyển đến TP.HCM đã rõ Vậy lý do chính để họ có thêm động lực quyết định thực hiện việc di chuyển đến TP.HCM là gì? Bảng 17 sẽ chỉ ra rõ lý do dẫn đến quyết định thực hiện di chuyển đến TP.HCM của người di cư
Bảng 4.19: Lý do quyết định di chuyển đến TP.HCM của người di cư
Lý do di chuyển đến TP.HCM Tỷ lệ Địa phương thiếu việc làm 72.60%
Thu nhập tại địa phương thấp 8.22%
Có điều kiện phát triển công việc 5.48% Ở nhà thất nghiệp 5.48%
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Từ bảng trên, ta thấy được tình trạng thiếu việc làm tại địa phương cũng như thu nhập tại địa phương thấp là lý do chính dẫn đến quyết định di chuyển của người di cư Tỷ lệ người di chuyển quyết định ra đi vì lý do địa phương thiếu việc làm chiếm đến 72.60% và tỷ lệ người quyết định ra đi do thu nhập tại địa phương thấp chiếm 8.22% Các nguyên nhân còn lại là do người di chuyển học xong có điều kiện ở lại làm việc, điều kiện phát triển công việc và do ở lại địa phương sẽ thất nghiệp, không có việc làm
Như vậy, dựa vào bảng 4.18 và bảng 4.19, ta có thể thấy động cơ khiến cho người dân thực hiện việc di chuyển đến TP.HCM chính là để tìm kiếm việc làm Việc ra quyết định thực hiện việc di chuyển này chủ yếu là do cá nhân người di chuyển tự quyết định, chiếm 81.01% và còn lại là do người thân quyết định, chiếm 18.99%
4.3.4 Đối tượng hỗ trợ, hướng dẫn người di cư thực hiện di chuyển đến TP.HCM:
Bảng 4.20: Đối tượng hỗ trợ, hướng dẫn người di cư thực hiện việc di chuyển Đối tượng Tỷ lệ
Nguồn: Kết quả khảo sát hộ gia đình tại Long Hậu
Dựa vào bảng số liệu nêu trên, ta thấy người di cư được sự hỗ trợ hướng dẫn chủ yếu từ người thân trong gia đình, chiếm tỷ lệ 59.49% Kế đến là do cá nhân tự tìm hiểu, chiếm tỷ lệ 22.78% Ngoài ra, người di chuyển đến TP.HCM còn được hỗ trợ từ bạn bè và hàng xóm nhưng tỷ lệ này ít hơn, lần lượt là 10.13% và 7.59%
Như vậy, mặc dù việc ra quyết định thực hiện di chuyển đến TP.HCM hay không là do cá nhân tự quyết định Nhưng để đi đến quyết định đó, đa số người di chuyển được sự hỗ trợ, hướng dẫn từ phía gia đình Điều này cho thấy, việc di cư không hoàn toàn là quyết định cá nhân
4.3.5 Tình trạng việc làm khi chuyển đến TP.HCM:
Khả năng tìm kím việc làm ngay khi di chuyển đ́n TP.HCM của cá nhân:
Bảng 4.21: Khả năng tìm được việc làm ngay khi đến TP.HCM của người di cư
Tình trạng việc làm ngay khi đến TP.HCM Tỷ lệ chung (%)
Tìm được việc làm ngay 80.00%
Nguồn: Kết quả khảo sát cá nhân người di chuyển
Hầu hết những người di cư được hỏi đều có việc làm ngay khi di chuyển đến TP.HCM, đạt tỷ lệ 80% Lý giải về việc tìm được việc làm nhanh như thế là do người di cư “đã tìm hiểu thông tin về việc làm trước từ khi ở quê rồi, chắc ăn nên mới di chuyển đ́n TP.HCM” (Chị Nguyễn Thị Bích D – 37 tuổi cho biết) Chỉ 20% người di chuyển không tìm được việc làm ngay khi đến TP.HCM mà phải mất từ 1 đến 2 tháng mới tìm được việc
Công việc đầu tiên của các cá nhân khi di chuyển đ́n TP.HCM:
Kết quả khảo sát cho thấy khi đến làm tại TPHCM, công việc đầu tiên của đa số người di cư là làm việc cho các công ty tư nhân hoặc làm công nhân Tỷ lệ người làm công nhân và làm nhân viên cho các công ty tư nhân, chiếm trên 40% ở mỗi đầu công việc Những người còn lại làm phục vụ cho các nhà hàng hoặc buôn bán
Bảng 4.22: Công việc đầu tiên người di cư tìm được khi đến TP.HCM
Tên công việc Tỷ lệ
Nguồn: Kết quả khảo sát cá nhân người di chuyển
Như vậy, khi mới đến TPHCM, hầu hết người di cư làm việc trong các công ty tư nhân hoặc khu vực phi chính thức (phục vu quán ăn, buôn bán) Điều này cho thấy họ là nguồn cung lao động quan trọng cho khu vực tư và khu vực phi chính thức ở TP.HCM
Nhận định của người di cư về khả năng tìm được việc làm và cơ hội phát triển trong công việc giữa ở TP.HCM và quê nhà: Đa số người di cư nhìn nhận thấy việc di cư đem lại cả cơ hội làm việc và khả năng phát triển
Bảng 4.23: Nhận định của người di cư về khả năng tìm được việc làm và cơ hội phát triển, thăng tiến trong công việc ở TP.HCM và quê nhà
Nội dung Dễ hơn Như nhau
Khả năng tìm được việc làm 91.67% 4.17% 4.17% 0%
Khả năng phát triển, thăng tiến trong công việc 54.17% 8.33% 16.67% 20.83%
Nguồn: Kết quả khảo sát cá nhân người di chuyển
Môi trường kinh tế ở TP.HCM có nhiều thuận lợi trong công việc cho người di cư hơn là bất lợi Có 91.67% cá nhân người di chuyển đồng ý rằng khả năng tìm được việc làm tại TP.HCM dễ dàng hơn tìm kiếm việc làm tại quê nhà và khả năng phát triển, thăng tiến trong công việc tại TP.HCM cũng tốt hơn, 54.7% người đồng ý với nhận định này Nguyên do là:
Sự gắn kết giữa người di cư với gia đình và quê nhà
4.4.1 Tần suất về thăm gia đình của người di cư:
Mức độ trực típ về thăm gia đình của người di cư:
Số lần về thăm gia đình của người di cư được thể hiện qua bảng 4.25 Có đến gần một nửa số người di cư thường xuyên về thăm gia đình (chiếm tỷ lệ 45.57%) Trong đó, 16.46% người di cư về thăm gia đình hàng tháng và ít nhất mỗi quý người di cư về thăm gia đình một lần chiếm tỷ lệ 29.11% Việc về thăm gia đình thường xuyên cho ta thấy mối quan hệ thân thiết, gắn bó giữa người di cư với gia đình Tỷ lệ người di cư thường xuyên về thăm gia đình ở người di cư nam nhiều hơn người di cư nữ Điều này có thể là do người nam có sức khỏe dẻo dai hơn người nữ, có thể tranh thủ thời gian rãnh ở TP.HCM để về thăm gia đình và tham gia phụ giúp các công việc đồng áng ở quê nhà – loại công việc chiếm đến 45% trong tổng số các công việc tạo ra nguồn thu nhập chính của các hộ gia đình tại xã Long Hậu
Bảng 4.25: Số lần về thăm gia đình của người di cư
(% trong tổng số người được hỏi)
Số lần về thăm gia đình Nam Nữ Trung bình
Mỗi tháng ít nhất 1 lần 16.28 16.67 16.46
Chưa về thăm lần nào 0.00 0.00 0.00
Chỉ về dịp lễ, tết, đám tiệc 20.93 30.56 25.32
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Kết quả khảo sát cho thấy, có đến 25.32% người di cư chỉ về thăm gia đình vào các dịp lễ, tết, đám tiệc Lý giải cho vấn đề này, cô Huỳnh Thị L – 55 tuổi, thành viên hộ có người di cư cho rằng:
“Đa phần người di chuyển đ́n TP.HCM là đều để đi làm nên nhiều lắm là cũng chỉ được nghỉ làm vào ngày cuối tuần thôi Mặc dù thời gian di chuyển từ TP.HCM về đ́n địa phương chỉ khoảng gần 4 tíng nhưng ńu tính cả thời gian đi – về thì mất đ́n 8 tíng rồi Như vậy về quê cũng đâu ở được bao lâu mà lại cực nhọc cho bản thân người di chuyển Thôi thì nên tranh thủ dịp lễ, t́t có thời gian nghỉ nhiều hoặc khi gia đình có đám tiệc thì người di chuyển hãy về Như th́ sẽ có thời gian ở với gia đình nhiều hơn và bản thân người di chuyển cũng sẽ bớt mệt mỏi hơn”
Mức độ gọi điện hỏi thăm gia đình của người di cư:
Xem xét mức độ gọi điện về thăm hỏi gia đình của người di cư chỉ ra có đến 59.49% người di cư gọi điện về thăm hỏi gia đình hàng tuần và 31.65% người di cư gọi điện ít nhất mỗi tháng một lần Như vậy, tỷ lệ người di cư thường xuyên gọi điện về thăm gia đình tính trong một tháng lên đến 91.14% Trong đó, người di cư nữ có mức độ gọi điện thăm hỏi thường xuyên hơn so với người di cư nam Có đến 63.89% người di cư nữ gọi điện về hỏi thăm gia đình hàng tuần và 30.56% người di cư nữ gọi điện cho gia đình ít nhất mỗi tháng một lần Như vậy, mặc dù người di cư nữ không thể trực tiếp về thăm gia đình thường xuyên như người di cư nam nhưng bù lại, họ lại gọi điện về thăm hỏi gia đình thường xuyên hơn Điều này cho thấy cách biểu hiện sự gắn kết giữa nam và nữ có thể khác nhau nhưng cả hai nhóm đều có sự gắn bó chặt chẽ với gia đình
Bảng 4.26: Số lần gọi điện về thăm hỏi gia đình của người di cư
(% trong tổng số người được hỏi)
Số lần gọi điện thăm hỏi gia đình Nam Nữ % Tổng số
Hàng tuần 55.81 63.89 59.49 Ít nhất 1 lần/tháng 32.56 30.56 31.65 Ít nhất 1 lần/3 tháng 6.98 5.56 6.33 Ít nhất 1 lần/6 tháng 0.00 0.00 0.00
Gọi khi có việc cần 4.65 0.00 2.53
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Chỉ 2.53% người di cư gọi điện về thăm gia đình khi có việc cần và toàn bộ những người này đều là người di cư nam Có vẻ như nam giới thể hiện mối quan tâm của mình với gia đình trực tiếp hơn nữ giới, họ lựa chọn về thăm người thân chứ ít gọi điện thoại hỏi thăm như người nữ, trừ các trường hợp cần thiết thì mới gọi điện về cho gia đình
4.4.2 Tần suất người thân trong hộ gia đình đến thăm người di cư:
Mức độ người thân trong hộ gia đình đ́n thăm người di cư:
Bảng 4.27: Số lần người thân trong hộ gia đình lên thăm người di cư
(% trong tổng số người được hỏi)
Số lần người thân trong hộ gia đình đến thăm người di chuyển Người di cư là nam Người di cư là nữ % Tổng số
Mỗi tháng ít nhất 1 lần 4.65 8.33 6.33
Số lần người thân trong hộ gia đình đến thăm người di chuyển
Người di cư là nam
Người di cư là nữ % Tổng số
Dịp lễ, tết, đám tiệc 0.00 0.00 0.00
Thăm được 1 lần duy nhất 6.98 2.78 5.06
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
So với việc người di cư về thăm gia đình, mức độ người thân trong hộ gia đình lên thăm người di cư có vẻ như ít hơn rất nhiều Có đến 29.11% hộ gia đình chưa lên thăm người di cư lần nào kể từ lúc người này đi lên TP.HCM và 18.99% hộ gia đình chỉ lên thăm người di cư khoảng 1 lần trong năm Điều này có thể là do những người ở lại thường là những người lớn tuổi, ngại di chuyển và không thông thuộc đường sá như người di cư Bên cạnh đó, việc di chuyển đến TP.HCM của các hộ gia đình này là không dễ dàng (do phải tốn chi phí cho việc đi lại) Hơn nữa, công việc ở quê cũng khá vất vả, đặc biệt là việc đồng áng nên thường thì ở những hộ gia đình này người di cư sẽ về thăm hơn là người thân trực tiếp đến TP.HCM để thăm hỏi người di cư Ngoài ra, có những hộ gia đình sẽ kết hợp việc đi lên TP.HCM khám chữa bệnh để thăm hỏi người di cư – chiếm tỷ lệ 3.8%
Mức độ người thân trong hộ gia đình lên thăm người di cư thường xuyên (ít nhất 1 lần mỗi tháng, mỗi quý) chiếm tỷ lệ nhỏ – chỉ 15.19% Nhưng xem xét sâu hơn trong mức độ thăm hỏi thường xuyên này, ta thấy được người nữ di cư sẽ nhận được sự quan tâm, thăm hỏi của người thân trong hộ gia đình nhiều hơn là người nam di cư Điều này có thể xuất phát từ việc lo lắng của người thân trong hộ gia đình dành cho người nữ khi đi xa gia đình nhiều hơn là người nam
Mức độ người thân trong hộ gia đình gọi điện hỏi thăm người di cư:
Mức độ người thân trong hộ gia đình gọi điện thăm hỏi người di cư thấp hơn nhiều so với việc người di cư gọi về cho gia đình Tỷ lệ hộ gia đình thường xuyên gọi điện hỏi thăm người di cư chiếm 58.23% Trong khi đó, có đến 22.78% hộ gia đình chưa gọi điện hỏi thăm người di cư lần nào từ lúc họ rời khỏi gia đình đến thời điểm cuộc phỏng vấn được thực hiện Và có đến 13.92% hộ gia đình chỉ gọi điện cho người di cư khi có việc cần Như vậy, có thể thấy việc liên lạc qua điện thoại giữa cá nhân người di cư với gia đình thường là do cá nhân người di cư gọi về thăm hỏi nhiều hơn
Bảng 4.28: Số lần người thân trong hộ gia đình gọi điện hỏi thăm người di cư
Số lần người di cư được gọi hỏi thăm từ người thân trong hộ gia đình Nam Nữ % Tổng số
Hàng tuần 51.16 36.11 44.30 Ít nhất 1 lần/tháng 13.95 13.89 13.92 Ít nhất 1 lần/3 tháng 0.00 8.33 3.80 Ít nhất 1 lần/6 tháng 2.33 0.00 1.27
Gọi khi có việc cần 13.95 13.89 13.92
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
4.4.3 Sự giúp đỡ của người di chuyển đối với người thân ở quê:
Bảng 4.29 cho ta thấy số lần người di chuyển gửi tiền về cho người thân ở quê Phương án được người di cư lựa chọn nhiều nhất khi gửi tiền về cho gia đình là gửi theo tháng hoặc theo quý, chiếm đến 46.84% Tỷ lệ gửi tiền giữa nam và nữ cho cả 2 phương án này là tương tự nhau Tuy nhiên, đối với trường hợp người di cư chưa bao giờ thực hiện gửi tiền về cho gia đình, chiếm 17.72% thì tỷ lệ chênh lệch giữa người nam và người nữ là rất lớn Cụ thể, có đến 20.93% người nam di cư chưa thực hiện gửi tiền về cho gia đình bao giờ, trong khi con số này ở người nữ di cư là 13.89% Riêng hình thức gửi tiền về cho gia đình dịp đám tiệc hoặc thuốc men cho người nhà chung cho cả nam và nữ là 8.86% Tỷ lệ này ở nam giới là 2.33% và ở nữ giới lên đến 16.67% Tỷ lệ này phần nào cho thấy người nữ thường có xu hướng dành dụm để giúp đỡ gia đình hơn nam giới Một nguyên nhân khác nữa là trình độ học vấn của người di cư nữ cao hơn, do đó, họ có nhiều cơ hội tìm được công việc với thu nhập tốt hơn Nhờ đó, họ có thể đóng góp được nhiều hơn cho gia đình
Bảng 4.29: Số lần người di cư gửi tiền về cho gia đình
Số lần người di cư gửi tiền về cho gia đình Nam Nữ
Hầu như chưa gửi lần nào 20.93 13.89 17.72 Đám tiệc, thuốc men cho người nhà mới gửi 2.33 16.67 8.86
Khi nào về thì mang về 6.98 0.00 3.80
Gửi khi gia đình cần 2.33 5.56 3.80
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Ngoài các phương thức gửi tiền theo định kỳ hàng tháng, hàng quý hoặc hàng năm , người di cư còn lựa chọn các phương thức khác thuận tiện hơn như khi nào về thăm nhà thì gửi luôn, có dư thì gửi, gửi khi gia đình cần Tuy nhiên, các hình thức này chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ khoảng 10.13%
4.4.4 Việc sử dụng tiền do người di cư gửi về của hộ gia đình:
Bảng 4.30: Mục đích sử dụng số tiền người di chuyển gửi về của hộ gia đình
Mục đích chính khi sử dụng số tiền người di chuyển gửi về của hộ gia đình Tỷ lệ
Chi tiêu ăn uống hàng ngày 69.23
Chi cho con cháu học hành 4.62
Chi thuốc men, khám chữa bệnh 7.69
Mục đích chính khi sử dụng số tiền người di chuyển gửi về của hộ gia đình Tỷ lệ
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Mục đích sử dụng tiền do người di cư gửi về của hộ gia đình cho thấy hầu hết các khoản tiền mà người di cư gửi về đều được dùng cho việc chi tiêu ăn uống hàng ngày của hộ gia đình, chiếm tỷ lệ lên đến 69.23% Ngoài khoản chi dùng cho ăn uống, mục đích kế tiếp có thể kể đến đó là chi cho việc mua thuốc men, khám chữa bệnh của người thân trong gia đình Việc chi tiêu cho con cháu học hành, tức là đầu tư cho giáo dục, đầu tư cho thế hệ tương lai của gia đình chỉ chiếm một phần nhỏ – 4.62% Ngoài các mục đích nêu trên, tiền người di cư gửi về cho gia đình còn được dùng để trả nợ, chiếm 3.08% và tiết kiệm chiếm 6.15%
Như vậy, số tiền người di cư chuyển về cho gia đình phần nào chỉ có thể giúp hộ gia đình cải thiện đời sống hàng ngày và trang trải nợ nần, mức độ có dư để tiết kiệm cho tương lai chiếm một tỷ lệ rất nhỏ trong tổng số các hộ gia đình có người thân di chuyển đến TP.HCM làm ăn, sinh sống Cũng chính vì thế, ta có thể nhận định rằng việc di chuyển đến TP.HCM của các cá nhân chủ yếu là vì muốn có điều kiện phát triển bản thân và góp phần giúp đỡ cải thiện đời sống hàng ngày của gia đình tại quê nhà Đây cũng có thể là lý do chính yếu nhất trong việc các hộ gia đình đồng ý để người thân mình rời khỏi quê nhà
4.4.5 Sự giúp đỡ của gia đình đối với người di cư:
Mức độ gửi tiền, đồ dùng của gia đình đối với người di cư:
Bảng 4.31: Số lần gia đình gửi tiền, đồ dùng cho người di cư
Số lần gia đình gửi tiền, đồ dùng cho người di chuyển Tỷ lệ
Hầu như chưa gửi lần nào 56.96
Mới lên có gửi, giờ thì không 1.27
Khi về thì gửi đồ ăn mang lên 15.19
Khi lên thăm thì mang lên 10.13
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Khi được hỏi về mức độ gửi tiền, đồ dùng cho người di cư, có đến 56.96% hộ gia đình trả lời rằng họ hầu như chưa gửi lần nào cả Còn đối với các hộ gia đình có gửi tiền, đồ dùng cho người di cư, rất ít hộ gửi định kỳ hàng tháng, hàng quý mà chủ yếu là chọn phương thức thuận tiện nhất Theo đó, gia đình sẽ gửi tiền, đồ dùng, đồ ăn khi người di cư về thăm nhà hoặc khi nào người thân trong hộ gia đình có lên thăm thì mang lên Hai cách thức này chiếm đến 25.32% và chủ yếu là đối với các hộ gia đình chỉ gửi thức ăn, đồ dùng cho người di cư
Thức ăn và đồ dùng là những thứ được người thân trong hộ gia đình gửi cho người di cư nhiều hơn là tiền bạc:
Xem xét về việc gửi tiền và đồ dùng cho người di cư, hầu hết các hộ gia đình chỉ thực hiện gửi thức ăn lên cho người di cư (chiếm đến 94.12%) mà hiếm khi gửi tiền Những loại thức ăn đó có khi là ít trái cây của quê nhà, gạo hoặc những món ăn dân dã khác nhằm mục đích tiếp tế lương thực cho người di cư Chỉ riêng đối với trường hợp người di cư thực hiện di chuyển đến TP.HCM để tiếp tục học tập nâng cao trình độ thì mới nhận được tiền hỗ trợ từ phía gia đình Tuy nhiên, con số này chiếm tỷ lệ rất thấp, chỉ 5.88% hộ gia đình gửi tiền lên cho người di cư
4.4.6 Tác động của việc di chuyển đối với cá nhân và gia đình:
Khi được hỏi về mức độ hài lòng của mình đối với việc người thân di chuyển đến TP.HCM, phần lớn những người đại diện các hộ gia đình tham gia phỏng vấn đều hài lòng với quyết định đó của người thân, chiếm đến 79.75% Trong đó, số hộ rất hài lòng với quyết định di chuyển của người thân là 44.30% – một tỷ lệ khá cao và 35.44% hộ cho rằng hài lòng với việc cá nhân di chuyển Điều này phần nào cũng là động lực khiến những người di cư dễ dàng thực hiện quyết định di chuyển đến TP.HCM tìm kiếm những cơ hội tốt hơn cho bản thân
Bảng 4.32: Thái độ của gia đình đối với việc di chuyển đến TP.HCM của người di cư (tỷ lệ %)
Mức độ hài lòng của gia đình đối với việc di chuyển của người di cư Tỷ lệ
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Nhận định về lý do hộ gia đình hài lòng với việc người thân di chuyển đến TP.HCM, những người thân trong hộ gia đình cho rằng:
Dự định về nơi cư trú trong tương lai của người di cư
Khi được hỏi về những dự định liên quan đến nơi cư trú trong tương lai của cá nhân người di cư, 50% người di cư cho rằng họ sẽ ở lại TP.HCM lâu dài, 16.67% người di cư chưa rõ ràng việc ở lại TP.HCM hay trở về quê nhà và 33.33% người di cư trả lời rằng sẽ trở về quê trong thời gian ngắn sắp tới
Bảng 4.34: Kỳ vọng của người di cư về địa điểm cư trú trong tương lai
Kỳ vọng của người di cư Tỷ lệ Ở lại TP.HCM 50.00%
Nguồn: Phiếu điều tra cá nhân người di chuyển
Có thể dễ dàng thấy được mối quan hệ giữa tình trạng việc làm hiện nay với quyết định ở lại TP.HCM thông qua các câu trả lời của cá nhân người di cư Điển hình đối với các trường hợp quyết định ở lại TP.HCM lâu dài như trường hợp của anh Nguyễn Thanh T, nhân viên cơ khí tại TP.HCM: “Tôi sẽ ở lại TP.HCM lâu dài bởi vì tôi thích ở thành phố và công việc của tôi ở đây cũng ổn định” Còn anh
Phạm Công M, nhân viên phục vụ nhà hàng tại TP.HCM thì cho rằng “Tôi làm nhân viên phục vụ nhà hàng tại đây, được chủ bao ở nên cuộc sống tương đối tốt Tôi sẽ ở lại TP.HCM lâu dài Dự tính thời gian tới tôi sẽ đi học nghề và kím việc làm khác ổn định hơn công việc phục vụ này” Riêng chị Đoàn Thị Tuyết M, sinh viên đang theo học tại TP.HCM thì cho rằng “Sau khi tốt nghiệp tôi sẽ cố gắng tìm việc làm trên này và ở lại đây lập nghiệp Cũng may mắn là tôi có người chú hứa sẽ giới thiệu việc làm đúng ngành cho tôi sau khi tốt nghiệp Do đó tôi sẽ ở lại TP.HCM lâu dài”
Cũng trả lời về quyết định có ở lại TP.HCM hay trở về quê nhà, anh Lê Thành L – người đang buôn bán trong chợ tại Hóc Môn cho biết “Bản thân tôi chưa quýt định ở lại TP.HCM hay sẽ trở về bởi còn tùy thuộc vào công việc Công việc tốt, ổn định như hiện tại thì tôi sẽ ở lại TP.HCM còn ńu không may mắn, công việc không được như mong đợi thì tôi sẽ trở về quê”
Còn đối với 33.33% người di cư trả lời rằng sẽ trở về quê nhà, ngoài lý do công việc, còn có lý do khiến họ quyết định trở về quê đó là muốn sống gần gia đình để chăm lo cho người thân Anh Nguyễn Thanh T – nhân viên trực tổng đài tại TP.HCM cho rằng “Tôi chỉ làm ở TP.HCM một thời gian nữa thôi, tích lũy được một số vốn rồi sẽ quay trở về quê Bởi đối với bản thân tôi, cuộc sống ở quê thoải mái và dễ dàng hơn” Anh Nguyễn Minh H – công nhân tại TP.HCM cũng cho rằng sẽ trở về quê bởi “ở quê còn có cha mẹ già Trở về để còn phụ giúp và chăm lo sức khỏe của cha mẹ”
Như vậy, có thể dễ dàng nhận thấy được, quyết định ở lại TP.HCM hay trở về quê nhà của người di cư phụ thuộc rất lớn vào công việc của họ tại TP.HCM Ngoài ra, cuộc sống của người thân ở quê và sức khỏe của họ cũng là yếu tố tác động đến việc ra quyết định này.
Kỳ vọng trong tương lai của hộ gia đình ở cả 2 nhóm hộ
Kỳ vọng về đời sống của hộ gia đình trong tương lai:
Bảng 4.35: Kỳ vọng về đời sống tương lai của hộ gia đình ở cả 2 nhóm hộ
Kỳ vọng về đời sống của hộ gia đình trong tương lai Hộ có người di cư Hộ không có người di cư
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Khi được hỏi về kỳ vọng về đời sống trong tương lai của hộ gia đình, gần 70% các hộ gia đình tại Long Hậu cho rằng đời sống trong tương lai của hộ sẽ khá hơn hiện nay Trong đó, hộ không có người di cư có mức độ kỳ vọng cao hơn so với hộ có người di cư Chị Vũ Thị T – thành viên hộ gia đình không có người di cư cho biết “sắp tới con cái tôi đều có việc làm, công việc ổn định thì thu nhập của hộ gia đình sẽ khá hơn, đời sống cũng sẽ được cải thiện hơn so với hiện nay”
Tương tự, đại diện các hộ gia đình khi được hỏi cũng đưa ra nhận định của mình như sau:
“Con cái tôi đều đi làm, công việc thu hoạch quýt mặc dù thu nhập không cao nhưng ńu chịu khó làm thì cũng tốt Tôi nghĩ trong tương lai đời sống của gia đình mình sẽ khá hơn so với hiện nay” (anh Nguyễn
Văn T – chủ hộ gia đình không có người di cư)
“Sắp tới cháu tôi học ra trường, có việc làm, có thể tự lo cho bản thân
Hy vọng rằng đời sống gia đình tôi lúc đó cũng sẽ tốt hơn so với hiện nay” (Cô Nguyễn Thị D – chủ hộ của hộ gia đình có người di cư)
“Mình cố gắng làm ăn, kím tiền chi tiêu rồi ráng dành dụm, tích lũy thì sẽ có dư thôi Lúc đó có tiền rồi thì đương nhiên đời sống của gia đình cũng sẽ khá hơn hiện tại” (Anh Hia Trọng N – thành viên hộ gia đình có người di cư)
Chỉ khoảng 2.5% hộ gia đình cho rằng đời sống tương lai của hộ sẽ khó khăn hơn so với hiện tại bởi “công việc ngày càng khó, hơn nữa chồng cũng không bít lo làm ăn” – chị Phù Cẩm N, thành viên hộ gia đình có người di cư cho biết
Kỳ vọng về công việc của các thành viên hộ gia đình trong tương lai:
Bảng 4.36: Dự định về công việc của các thành viên hộ gia đình trong tương lai
Dự định về công việc của thành viên gia đình trong tương lai Hộ có người di cư Hộ không có người di cư
Không thay đổi công việc 78.57 68.57
Sẽ thay đổi công việc 4.76 22.86
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Khi được hỏi về dự định công việc của các thành viên gia đình trong tương lai, đa phần các hộ đều cho rằng sẽ không thay đổi công việc (hơn 70% hộ) Nhưng bên cạnh đó, vẫn có các hộ cho rằng các thành viên trong hộ sẽ thay đổi công việc
Tỷ lệ này ở hộ có người di cư chỉ chiếm 4.76% nhưng ở hộ không có người di cư lên đến 22.86% Đối với hộ gia đình có người di cư, những trả lời về việc thành viên trong hộ gia đình sẽ thay đổi công việc trong tương lai chủ yếu là do người di cư đến TP.HCM sẽ quay trở về quê Như trường hợp của hộ gia đình bà Nguyễn Thị
D, bà cho rằng “con tôi đi làm ở TP.HCM một thời gian thôi, khi nào cháu tôi học xong thì con tôi sẽ quay về quê” và trường hợp của chị Lê Thị Thắm – thành viên hộ gia đình có người di cư thì “mẹ tôi làm ở TP.HCM một thời gian nữa là sẽ quay về quê” Riêng đối với hộ không có người di cư, việc thay đổi công việc của cá nhân người di cư có nhiều lý do như sau:
“Con tôi đang làm việc tại công ty tư nhân Hiện nay, nó đang xin chuyển sang làm việc trong cơ quan nhà nước, đang chờ ḱt quả Sắp tới ńu được nó sẽ làm cho cơ quan nhà nước của địa phương, như th́ sẽ ổn định hơn”
– Ông Lê Hùng C – chủ hộ gia đình không có người di cư cho biết
“Gia đình tôi làm thuê, làm mướn hoài cũng không đủ khả năng trang trải cuộc sống hàng ngày Thấy các hộ gia đình ở đây có người đi làm ăn ở TP.HCM, Bình Dương về thì kinh t́ có khá hơn nên sắp tới chắc tôi cũng sẽ đi để kím thêm thu nhập cho gia đình Giờ có người quen giới thiệu đi Bình Dương làm công nhân nhưng tôi còn đang tìm hiểu thêm thông tin, sắp x́p ổn thỏa việc ở nhà rồi mới đi” – Cô Nguyễn Thị T – thành viên hộ gia đình không có người di cư cho biết
Cũng trả lời khi hỏi về dự định công việc trong tương lai của các thành viên trong hộ gia đình, chị Huỳnh Thị Diệu H – thành viên hộ không có người di cư cho rằng “chồng tôi thì không thay đổi công việc đâu, nhưng tôi đang có dự định sẽ vào công ty may để làm, chứ ở nhà nội trợ cả ngày không có tiền khổ lắm”
Kỳ vọng về nơi cư trú của thành viên gia đình đang sống tại Long Hậu trong tương lai:
Bảng 4.37: Dự định về nơi cư trú trong tương lai của thành viên đang sinh sống tại Long Hậu của hộ gia đình (Tỷ lệ %)
Dự định về nơi cư trú trong tương lai của thành viên hộ gia đình
Hộ có người di cư
Hộ không có người di cư
Nguồn: Phiếu điều tra hộ gia đình tại Long Hậu
Khi được hỏi đến dự định về nơi cư trú trong tương lai của thành viên trong hộ gia đình đang sinh sống tại Long Hậu, hơn 90% các hộ đều cho rằng sẽ không thay đổi nơi cư trú mà vẫn ở lại quê nhà Số còn lại cho rằng thành viên trong hộ gia đình sẽ thay đổi nơi cư trú và có sự tương đồng về tỷ lệ nhận định của hộ có người di cư và hộ không có người di cư trong nhận định này Cho rằng người thân mình sẽ thay đổi nơi cư trú trong tương lai, ông Đoàn Văn L – chủ hộ có con đang làm việc tại TP.HCM giải thích “Gia đình tôi có con gái lớn đang theo học cao đẳng tại TP.HCM, tương lai chắc cũng sẽ cố gắng bám trụ lại TP.HCM để tìm kím việc làm chứ không về quê ở đâu Lâu lâu về thăm gia đình thôi Ngoài ra, tôi còn 2 đứa nữa cũng đang đi học dưới này Tương lai sau khi tốt nghiệp phổ thông, ńu thi đậu cũng sẽ giống chị nó lên TP.HCM học típ chứ không ở quê.”
Bên cạnh đó, theo như phân tích về kỳ vọng công việc của các thành viên gia đình trong tương lai đã được trình bày phía trên, trong số các hộ gia đình không có người di cư dự định sẽ thực hiện di chuyển đến TP.HCM, chỉ có 25% hộ dự định sẽ thay đổi nơi cư trú, tức chiếm tỷ lệ 8.57% trong tổng số hộ không có người di cư dự định thay đổi nơi cư trú của mình, bởi “đi làm xa nhà (TP.HCM) thì phải ở lại đó chứ sao Lâu lâu được nghỉ thì mới về quê được” – ông Trần Công B – chủ hộ gia đình không có người di cư cho biết
Như vậy, việc thành viên hộ gia đình đang sống tại Long Hậu có dự định thay đổi nơi cư trú hay không phần nào cũng phụ thuộc vào tình trạng việc làm và địa điểm làm việc của các cá nhân này.