1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý định quay về quê nhà của người lao động nhập cư vào thành phố hồ chí minh

86 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Ý Định Quay Về Quê Nhà Của Người Lao Động Nhập Cư Vào Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Nguyễn Quang Thái
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Minh Hà
Trường học Trường Đại Học Mở Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu: ▪ Theo độ dài thời gian cư trú Di dân lâu dài, bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đich sinh sống lâu dài, trong đó phần lớn những

Trang 1

-

NGUYỄN QUANG THÁI

“Ý ĐỊNH QUAY VỀ QUÊ NHÀ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

NHẬP CƯ VÀO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ HỌC

Thành Phố Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan rằng luâ ̣n văn này “Ý Đi ̣nh Quay Về Quê Nhà Của Người Lao

Động Nhập Cư Vào Thành Phố Hồ Chí Minh” là bài nghiên cứu của chính tôi

Ngoài những tài liê ̣u tham khảo được trích dẫn trong luâ ̣n văn này tôi cam đoan

rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luâ ̣n văn này chưa từng được công bố hoă ̣c được

sử du ̣ng để nhâ ̣n bằng cấp ở những nơi khác

Không có sản phẩm, nghiên cứu nào của người khác được sử du ̣ng trong luâ ̣n văn

này mà không được trích dẫn theo đúng qui đi ̣nh

Luận văn này chưa bao giờ được nô ̣p để nhâ ̣n bất kỳ bằng cấp nào ta ̣i các trường

đa ̣i ho ̣c hoă ̣c cơ sở đào ta ̣o nào khác

Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Ngươ ̀ i thực hiê ̣n đề tài

NGUYỄN QUANG THÁI

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Lờ i đầu tiên tôi xin trân tro ̣ng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Minh Hà đã tâ ̣n tình hướng dẫn và dành nhiều thời gian chỉnh sửa, góp ý kiến cho đề tài của tôi được hoàn thiê ̣n

Xin gử i lời cảm ơn đến thư viê ̣n Trường Đa ̣i Ho ̣c Mở Thành Phố Hồ Chí Minh và thư viê ̣n Trường Đa ̣i Ho ̣c Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh đã hỗ trợ cung cấp cho tôi tài liệu tham khảo hữu ích để hoàn thiê ̣n đề tài này

Cuối cùng, xin cảm ơn những ý kiến đóng góp của các quý Thầy Cô khoa Sau đa ̣i

học Trường Đa ̣i Ho ̣c Mở TP.HCM, cảm ơn các anh chi ̣ ho ̣c viên đi trước đã đô ̣ng viên và giú p đỡ, cảm ơn ba ̣n bè và đặc biệt là gia đình, vợ và hai con đã ủng hộ tôi trong suốt thờ i gian thực hiê ̣n đề tài này

Thành Phố Hồ Chí Minh, năm 2017

Trang 4

TÓM TẮT

Nhìn chung, những nghiên cứu di dân trước đây ta ̣i những quốc gia đang phát triển chỉ ra rằng có sự khác biê ̣t giữa tỉ lê ̣ di cư giữa nam và nữ Ở Châu Phi và Châu Á, nam di cư nhiều hơn nữ, nhưng trong thời gian gần đây nữ giới la ̣i có dấu hiê ̣u di cư nhiều hơn nam giới Ta ̣i mô ̣t số nước Châu Á như Ấn Đô ̣, Hàn Quốc, và Philippines nữ

di cư vào các thành phố nhiều hơn nam, tuy nhiên, nam di cư đến các vùng khác thuô ̣c khu vực nông thôn thì nhiều hơn nữ (Yap, 1977) Ta ̣i Viê ̣t Nam phần đông người di cư đều là những người trẻ tuổi; khoảng 60% số người di cư nam và 66% số người di cư nữ trong độ tuổi từ 15-29 và đa số chưa lập gia đình (Điều tra dân số và nhà ở, 1999) Tương

tự, điều tra giữa kỳ năm 2004 ở Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là độ tuổi di cư của nữ thường sớm hơn của nam và số lượng người di cư là nữ đang ngày càng tăng Đặc biệt di

cư nữ giới đến các khu đô thị và khu công nghiệp Ngoài ra, những người có ho ̣c vấn

càng cao thì ho ̣ thực hiê ̣n di chuyển càng xa, đă ̣c biê ̣t đối với những người di cư nhiều lần thì có trình đô ̣ ho ̣c vấn tốt hơn so với những người di cư mô ̣t lần (Plymas Khunpukdee, 1999) Bên cạnh đó, những người di cư khu vực thành thi ̣ thì có trình đô ̣ ho ̣c vấn cao so

vớ i người di cư khu vực nông thôn, và nam di cư thì ho ̣c vấn tốt hơn nữ (Mowat, 1977)

Tuy nhiên, song song vớ i các luồng di cư vào thành thi ̣, ta ̣i Viê ̣t Nam cũng xuất hiện các hiê ̣n tượng di cư về quê nhà và thông qua kết quả nghiên cứu ý đi ̣nh về quê của những người di cư vào thành phố được thực hiê ̣n bởi phương pháp hồi qui Binary Logistic cho thấy có 08 yếu tố tác động đến ý đi ̣nh về quê của người di cư vào thành phố bao gồ m các yếu tố Giới tính của người di cư; Đô ̣ tuổi của người di cư; Tình tra ̣ng hôn nhân củ a người di cư; Trình đô ̣ ho ̣c vấn của người di cư; Thu nhâ ̣p của người di cư; Tình trạng viê ̣c làm của người di cư; Yếu tố rủi ro kinh tế gia đình; và Điều kiê ̣n kinh tế khó khăn của người di cư Trong đó, hai yếu tố tác đô ̣ng thực sự và có ý nghĩa thống kê đó là

Tình tra ̣ng hôn nhân và Thu nhâ ̣p của người di cư Điều này được giải thích rằng những người chưa có gia đình (đô ̣c thân) có ý đi ̣nh về quê nhiều hơn so với người di cư vào thành phố đã có gia đình Hơn nữa, người di cư vào thành phố có thu nhâ ̣p giảm cũng có

xu hướng muốn về quê nhà hơn là những người có thu nhâ ̣p ổn đi ̣nh

Trang 5

PHỤ LỤC

LỜI CAM ĐOAN ii

LỜI CẢM ƠN iii

TÓM TẮT iv

PHỤ LỤC v

DANH MỤC HÌNH ẢNH viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU ix

DANH MỤC VIẾT TẮT x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu: 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh. 3

1.4.3 Thời gian nghiên cứu: Tháng 9 năm 2015 đến tháng 07 năm 2016. 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Ý nghĩa đề tài nghiên cứu 3

1.7 Bố cục Luận Văn 3

CHƯƠNG 2 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 Các khái niê ̣m di cư 5

2.1.1 Định nghĩa di dân 5

2.1.2 Đặc trưng chủ yếu của di dân 6

2.1.3 Phân loại các hình thức di dân 7

2.1.4 Các chỉ tiêu di dân 9

2.2 Cơ sở lý thuyết 10

Trang 6

2.2.1 Sơ lược các lý thuyết 10

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hồi hương của người dân 14

2.3 Các nghiên cứu trước 18

2.4 Mô hình nghiên cứu 22

CHƯƠNG 3 24

TỔNG QUAN DÂN SỐ, DI CƯ 24

VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Quy mô dân số 24

3.2 Mức độ di cư theo các cấp hành chính 26

3.3 Di cư giữa các vùng 27

3.4 Di cư giữa các tỉnh 31

3.5 Di cư nông thôn - thành thị 33

3.6 Các đặc trưng cơ bản của người di cư 35

3.7 Di cư vào Thành Phố Hồ Chí Minh 36

3.8 Phương pháp nghiên cứu 39

3.8.1 Thiết kế nghiên cứu 39

3.8.2 Mô hình nghiên cứu 40

3.8.3 Phương pháp thu thập thông tin và cỡ mẫu 44

3.8.4 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi 45

3.8.5 Khảo sát thử nghiê ̣m và hoàn thiê ̣n bảng câu hỏi 46

3.8.6 Phương pháp cho ̣n mẫu và qui mô mẫu 46

3.8.7 Phương pháp phân tích dữ liê ̣u 47

3.8.7.1 Phân tích thống kê mô tả dữ liệu 47

3.8.7.2 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo 47

CHƯƠNG 4 51

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 51

4.1 Thống kê mô tả dữ liê ̣u mẫu 51

4.2 Phân tích thống kê các biến đi ̣nh lượng 52

4.3 Kiểm định đô ̣ tin câ ̣y thang đo và Phân tích nhân tố 53

4.3.2.1 Mô tả thang đo lường và số biến quan sát 55

Trang 7

4.3.2.2 Kết quả phân tích nhân tố 55

4.3.2.3 Giải thích các nhân tố sau khi phân tích EFA 57

4.4 Hồi qui Binary Logistic 57

CHƯƠNG 5 66

KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH 66

5.1 Kết luâ ̣n 66

5.2 Đề xuất chính sách 66

5.3 Hạn chế của đề tài và hướng đề xuất nghiên cứu tiếp theo 67

PHỤ LỤC 1 69

PHỤ LỤC 2 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO 73

Trang 8

DANH MU ̣C HÌNH ẢNH

Hình 0.1: Mô hình nghiên cứu 22

Hình 0.2: Dân số nhập cư, xuất cư trong 5 năm trước điều tra 2009 của dòng di cư theo vùng kinh tế-xã hội (Nguồn: Điều tra dân số và nhà ở, 2009) 39

Hình 0.3: Quy trình nghiên cứu 40

Trang 9

DANH MU ̣C BẢNG BIỂU

Bảng 3 1: Quy mô dân số chia theo giới tính, thành thị/nông thôn và 24

Bảng 3 2: Quy mô dân số và tỷ lệ tăng dân số, 1979-2009 25

Bảng 3 3: Các chỉ tiêu chủ yếu lần lượt qua các năm 25

Bảng 3 4: Số người di cư và tỷ suất di cư chia theo tình trạng di cư, 1999 và 2009 26

Bảng 3 5: Số người nhập cư, số người xuất cư và tỷ suất di cư trong 5 năm trước điều tra chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 1999 và 2009 29

Bảng 3 6: Nơi thực tế thường trú tại 01/4/2004 và 01/4/2009 chia theo 30

Bảng 3 7: Các luồng di cư giữa thành thị và nông thôn, 2009 33

Bảng 3 8: Nơi thực tế thường trú tại thời điểm 01/4/2011 và 01/4/2012 chia 34

Bảng 3 9: Các luồng di cư chia theo giới tính, 01/4/2012 34

Bảng 3 10: Tỷ suất nhập cư chia theo thành thị/nông thôn, thời kỳ 2007-2012 35

Bảng 3 11: Các tỉnh có dân số di cư thuần thấp nhất và cao nhất giai đoạn 38

Bảng 3 12: Thống kê các biến trong mô hình và kỳ vo ̣ng dấu 42

Bảng 4 1: Giới tính 51

Bảng 4 2: Hôn nhân 51

Bảng 4 3: Ho ̣c vấn 51

Bảng 4 4: Viê ̣c làm 52

Bảng 4 5: Thống kê mô tả biến đi ̣nh lượng 52

Bảng 4 6: Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo 53

Bảng 4 7: Thống kê thang đo và số biến quan sát trong phân tích EFA 55

Bảng 4 8: KMO and Bartlett's Test 55

Bảng 4 9: Total Variance Explained 56

Bảng 4 10: Component Matrixa 56

Bảng 4 11: Omnibus Tests of Model Coefficients 58

Bảng 4 12: Model Summary 58

Bảng 4 13: Variables in the Equation 58

Bảng 4 14: Classification Tablea 59

Trang 10

DANH MU ̣C VIẾT TẮT

Trang 11

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Trên thế giới, người di cư vì lý do không có việc làm hoặc có công việc nhưng lương thấp hoặc một công việc mà không tương ứng với trình độ chuyên môn của ho ̣ (Tổ chức Lao động Quốc tế, 2009) Lý do di cư cũng có thể là tác đô ̣ng của các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội và nhân khẩu học (Grigoryan, 2013)

Ở Viê ̣t Nam, từ khi bước vào thời kỳ “Đổi Mới”, di cư trong nước và tác động của

nó tới quá trình đô thị hóa đã trở thành một bộ phận quan trọng của quá trình tăng trưởng kinh tế Di cư trong nước đã tăng lên nhanh chóng với tốc độ chưa từng có trong hai thập

kỷ qua và đã có tác động to lớn tới quá trình phát triển kinh tế của đất nước Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 cho thấy các đô thị đông dân cũng chính là những nơi có nhiều người nhập cư Ngoại trừ một số tỉnh là nơi tập trung các khu công nghiệp, những tỉnh có tỷ trọng dân nhập cư cao là những tỉnh có tỷ trọng dân số thành thị cao và ngược lại Các khu vực có tỷ lệ đô thị hoá cao cũng là nơi có tỷ lệ dân nhập cư cao; các đô thị đặc biệt bao gồm các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có tỷ trọng dân nhập cư cao nhất

Người di cư, nhìn chung, trong độ tuổi lao động có trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật cao hơn và ho ̣ cũng có điều kiện sống tốt hơn so với những người không di

cư Dân nhâ ̣p cư đã và đang tăng nhanh và chiếm một tỷ lệ đáng kể trong tổng dân số Thành Phố Hồ Chí Minh (TPHCM) nhất là dân nhâ ̣p cư lao đô ̣ng có tay nghề, đã đóng

góp rất nhiều trong viê ̣c phát triển kinh tế của thành phố Đáng chú ý nhất, dân nhâ ̣p cư đáp ứng phần lớn nhu cầu lao đô ̣ng đối với các công ty sản xuất thâm du ̣ng lao đô ̣ng, nhất là các công ty trong khu chế xuất (KCX) và khu công nghiê ̣p (KCN) ta ̣i TPHCM Tuy nhiên, cứ mỗi sau kỳ nghỉ những năm gần đây, “một số doanh nghiệp tại các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN-KCX) trên địa bàn thành phố lại đôn đáo tuyển lao động mới để đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh Đến hẹn lại lên, tình trạng “khát” lao

động lại tiếp diễn sau mỗi dịp Tết” (Báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 10/04/2015) Tương

tự, “tại Đồng Nai, Bình Dương khắp nơi cũng giăng đầy thông báo tuyển dụng… Năm nay 2015, ngoài các tỉnh thành phía Nam cấp tập tuyển nhân sự thì tại Hà Nội và các địa

Trang 12

phương lân cận, sau Tết các nhóm ngành sợi, nhuộm, cơ khí cũng không khỏi trầy trật khi tìm lao động… Tập trung tại các tỉnh thành lớn nhu cầu tuyển dụng lao động tăng cao” (Báo Vnexpress, ngày 10/04/2015) Chính vì vậy cần có một nghiên cứu cụ thể về hiện tượng trên và đó cũng chính là lý do tôi chọn đề tài “Ý đi ̣nh quay về quê nha ̀ của người lao động nhập cư vào Thành Phố Hồ Chí Minh” là nghiên cứu của mình

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Nghiên cứu, đánh giá tình tra ̣ng di cư lao đô ̣ng nhâ ̣p cư vào TPHCM và ý đi ̣nh ho ̣ quay về la ̣i quê nhà để đề xuất các giải pháp cấp vi mô và cấp vĩ mô đối với hiê ̣n tượng

về quê này

1.2.2 Mục tiêu nghiên cứu cụ thể

Mục tiêu cụ thể của đề tài như sau:

- Phân tích và tìm hiểu tình tra ̣ng di nhâ ̣p cư của người lao đô ̣ng vào TPHCM trong thờ i gian qua;

- Xác định các nhân tố tác động đến ý đi ̣nh quay về la ̣i quê nhà của người lao đô ̣ng nhập cư vào TPHCM;

- Dựa vào kết quả nghiên cứu để gợi ý các giải pháp liên quan đến di cư quay về

củ a người lao đô ̣ng nhâ ̣p cư cho Thành Phố Hồ Chí Minh

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các mu ̣c tiêu nghiên cứu trên cần trả lời các câu hỏi sau đây:

• Tình tra ̣ng di nhâ ̣p cư của người lao động vào TPHCM và tình trạng như di cư

ra khỏi TPHCM thế nào trong thời gian qua?

• Các nhân tố nào ảnh hưởng đến ý định quay về la ̣i quê nhà của người lao đô ̣ng nhập cư vào TPHCM?

• Các giải pháp đảm bảo ổn đi ̣nh lao đô ̣ng phổ thông cho các doanh nghiê ̣p trên

đi ̣a bàn TPHCM cũng như chính sách của chính quyền TPHCM đối với người nhập cư như thế nào trước hiê ̣n tượng ngày càng gia tăng tình tra ̣ng về quê di

cư của người lao đô ̣ng nhâ ̣p cư?

Trang 13

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Người lao đô ̣ng có tay nghề phổ thông nhâ ̣p cư vào Thành phố Hồ Chí Minh; đang sống và làm việc dưới 5 năm trong các khu công nghiê ̣p, khu chế xuất tại TPHCM;

có độ tuổi từ 18 tuổi trở lên

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu: Khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh

1.4.3 Thời gian nghiên cứu: Tháng 9 năm 2015 đến tháng 07 năm 2016

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Kết hợp phương pháp định tính trong việc phân tích thống kê mô tả nguồn dữ liệu

sơ cấp và thứ cấp, đồng thời áp du ̣ng phương pháp định lượng mô hình hồi quy Binary Logistic phi tuyến tính sử dụng biến phụ thuộc dạng nhị phân để ước lượng xác suất xảy

ra ý đi ̣nh quay la ̣i quê nhà của người lao đô ̣ng nhập cư vào TP.HCM

1.6 Ý nghi ̃a đề tài nghiên cứu

Ý nghĩa của đề tài là nhằm mu ̣c đích xác đi ̣nh nhân tố ảnh hưởng đến ý đi ̣nh về quê xảy ra trong đô ̣i ngũ lao đô ̣ng nhâ ̣p cư có tay nghề phổ thông Từ đó, dựa vào kết quả nghiên cứ u sẽ đề xuất những giải pháp giải quyết hiê ̣u quả tình tra ̣ng về quê của người lao đô ̣ng nhâ ̣p cư vào TPHCM Đồng thời, thông qua các giải pháp ấy, các doanh nghiê ̣p trên đi ̣a bàn thành phố, đă ̣c biê ̣t là các doanh nghiê ̣p sản xuất sử du ̣ng nhiều lao đô ̣ng phổ thông sẽ hưởng lợi trong viê ̣c giải quyết bài toán thiếu hu ̣t lao đô ̣ng

1.7 Bố cục Luận Văn

Luận văn bao gồm 5 chương như sau:

❖ Chương 1 là phần mở đầu giới thiê ̣u về vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu,

câu hỏi nghiên cứu, đố i tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa

và thời gian thực hiê ̣n nghiên cứu

❖ Chương 2 là tóm lược lý thuyết về ý đi ̣nh di cư người lao đô ̣ng và ý đi ̣nh ho ̣ quay

về quê nhà Các nghiên cứu liên quan bao gồm các khái niê ̣m di dân, các loa ̣i hình di dân Tổng kết các yếu tố tác đô ̣ng đến ý đi ̣nh di cư và ý đi ̣nh quay về quê nhà của lao đô ̣ng nhập cư vào TPHCM và mô hình nghiên cứu đề xuất áp du ̣ng cho đề tài

Trang 14

❖ Chương 3 là tổng quan dân số di cư trong nước Thố ng kê mô tả các luồng di cư vào TPHCM Đặc trưng di cư trong nước bao gồm đô ̣ tuổi, giới tính, trình đô ̣ ho ̣c vấn và

tình tra ̣ng gia đình của người di cư và phương pháp nghiên cứu

❖ Chương 4 Kết quả nghiên cứu

❖ Chương 5 là kết luâ ̣n và gợi ý chính sách

Trang 15

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Nội dung phần này sẽ giới thiê ̣u mô ̣t số các lý thuyết di dân và các nghiên cứu liên quan Ngoài ra, chương này cũng giới thiê ̣u các khái niê ̣m di dân, các loa ̣i hình di dân Lý thuyết về di dân, các yếu tố tác đô ̣ng di dân, các nghiên cứu liên quan đến di dân lao

đô ̣ng Phần sau cùng của chương là tổng kết các yếu tố tác đô ̣ng đến di cư và mô hình nghiên cứ u đề xuất áp du ̣ng cho đề tài

2.1 Ca ́ c khái niê ̣m di cư

2.1.1 Đi ̣nh nghi ̃a di dân

Theo Tổng cục dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), di dân là sự di chuyển của người dân theo lãnh thổ với những giới ha ̣n về thời gian và không gian nhất đi ̣nh, kèm theo sự thay đổi nơi cư trú Hiểu về di dân theo cách tiếp câ ̣n trên đây dựa vào những đă ̣c điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, con người di chuyển khỏi đi ̣a điểm nào đó đến mô ̣t nơi nào đó, với mô ̣t khoảng cách nhất đi ̣nh Nơi đi (Nơi xuất cư) và nơi đến (Nơi nhâ ̣p cư) phải được xác

đi ̣nh, có thể là vùng lãnh thổ hoă ̣c mô ̣t đơn vi ̣ hành chính Khoảng cách giữa hai điểm là

đô ̣ dài di cư Hay là, con người di cư bao giờ cũng với những mu ̣c đích nhất đi ̣nh, ho ̣ đến

một nơi nào đó và “ở la ̣i” đó trong mô ̣t thời gian nhất đi ̣nh

Thứ hai, nơi đi (xuất phát) là nơi ở thường xuyên, được qui đi ̣nh theo hình thức đăng ký hô ̣ khẩu hoă ̣c đăng ký nhân sự xác đi ̣nh của quản lý cấp hành chính có thẩm quyền và nơi đến là nơi ở mới Tính chất cư trú là điều kiê ̣n cần để xác đi ̣nh di dân

Thứ ba, khoảng thời gian ở la ̣i nơi mới trong bao lâu là đă ̣c điểm quan tro ̣ng xác định sự di chuyển đó có phải là di dân hay không Tùy mục đích, thời gian "ở lại" có thể

là một số năm, một số tháng

Ngoài ra, theo quan điểm Tổng cu ̣c dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), còn có mô ̣t

số khái niệm về di dân khác như sau:

✓ Nơi đi: Còn gọi là nơi xuất cư, là địa điểm cư trú trước khi một người rời đi nơi

khác sinh sống

Trang 16

✓ Nơi đến: là điểm kết thúc quá trình di chuyển, là địa điểm mà một người dừng lại

để sinh sống Nơi và địa điểm ở đây là ám chỉ một lãnh thổ, một đơn vị hành chính nhất định

- Người xuất cư hay còn gọi là người di cư đi là người rời nơi đang sinh sống để

đi nơi khác

- Người nhập cư hay còn gọi là người di cư đến là người đến nơi mới để sinh sống

- Luồng (dòng) di dân là tập hợp người đi ra khỏi vù ng đang sinh sống và đến cùng một vùng mới để cư trú theo những hướng nhất định vào những khoảng thời gian

xác định

- Chênh lệch giữa số người đến và số người đi trong cùng một lãnh thổ, đơn vị hành chính trong cùng một khoảng thời gian nhất định được gọi là di dân thuần tú y

2.1.2 Đặc trưng chủ yếu cu ̉ a di dân

Theo Tổng cục dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), mỗi một hiện tượng (cá nhân, gia đình, nhóm, dòng ) di dân đều chứa đựng những nguyên nhân, những động cơ thúc đẩy di cư Bản chất xã hội và bản chất sinh học của con người trong di dân hòa quyện, tạo nên các đặc trưng mang tính quy luật Sau đây là một số đặc trưng chủ yếu:

Một là, con người có thuộc tính là luôn vươn tới điều kiện sống tốt hơn về vật chất

và tinh thần Đặc trưng này cho phép nhìn nhận lại động cơ và mục đích di dân Nơi người ta dự định di cư đến, nhìn chung, phải có điều kiện sống tốt hơn về phương diện

này hay phương diện khác

Hai là, di dân liên quan chặt chẽ với độ tuổi Các nghiên cứu chỉ ra rằng những người trong khoảng tuổi từ 15 đến 30 chiếm đa số trong các dòng di dân Họ có cơ hội và triển vọng lớn hơn so với cac độ tuổi còn lại trong đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm

Ba là, trong lịch sử trước đây, nam giới có xu hướng di dân nhiều hơn phụ nữ Đây có thể phần nào đó được giải thích do bản năng và sự phân công lao động theo giới

tính Song trong điều kiện xã hội hiện nay, do cầu trong lĩnh vực dịch vụ tăng cao, xu hướng nữ hóa các dòng di dân đã xuất hiện Ở một số vùng, với một số độ tuổi, nữ giới

có xu hướng di dân nhiều và mạnh hơn nam

Trang 17

Bốn là, trước thời kỳ “mở cửa” người nào có trình độ chuyên môn nghiệp vụ và trình độ lành nghề cao hơn thì khả năng di cư lớn hơn Họ có khả năng cạnh tranh tốt hơn

về việc làm với người sở tại, dễ dàng tạo được các điều kiện định cư lâu dài tại nơi mới Nhưng hiện nay, ngoài những người có trình độ học vấn và chuyên môn nghề nghiệp cao, còn có cả luồng di cư của những người có trình độ học vấn thấp đến tìm những việc

mà người có trình độ học vấn cao không muốn làm hoặc không có thời gian làm, đặc biệt

là di cư nông thôn - đô thị

Năm là, người nào ít bị ràng buộc vào tôn giáo, các yếu tố văn hóa truyền thống, hoàn cảnh gia đình sẽ dễ dàng thích nghi hơn với điều kiện sống ở nơi mới do đó khả năng di cư sẽ cao hơn so với bộ phận dân số còn lại

2.1.3 Phân loại ca ́ c hình thức di dân

Cũng theo tài liê ̣u Tổng cu ̣c dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), có nhiều cách phân loại di dân theo các giác độ khác nhau tuỳ thuộc vào mục đích phân tích Tuy nhiên cần hiểu rằng cách phân chia nào cũng chỉ là tương đối và có thể đan xen nhau trong các loại di dân Dưới đây là một số cách phân loại chủ yếu:

▪ Theo độ dài thời gian cư trú

Di dân lâu dài, bao gồm người di chuyển đến nơi mới với mục đich sinh sống lâu

dài, trong đó phần lớn những người di cư là do chuyển công tác, thanh niên tìm cơ hội việc làm mới lập nghiệp và tách gia đình Những người này thường không quay trở về quê hương cũ sinh sống

Di dân tạm thời là sự thay đổi nơi ở gốc không lâu dài và khả năng quay trở lại là tương đối chắc chắn Kiểu di dân này bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo thời vụ, đi công tác biệt phái, lao động và học tập có thời hạn

Di dân chuyển tiếp là hình thức di dân mà không thay đổi nơi ở, do tính chất công việc họ phải di chuyển từ nơi này đến nơi khác, chẳng hạn như các công ty xây dựng cầu đường, các công trình năng lượng điện, thăm dò địa chất, những người đi buôn bán từ

các tỉnh lân cận đến các đô thị

▪ Theo khoảng cách di dân

Trang 18

Di dân được phân biê ̣t xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến Di dân giữa các quốc gia được gọi là hình thức di dân quốc tế, giữa các vùng, các đơn vị hành chính trong một quốc gia gọi là di dân nội địa

Di dân nội địa luôn là một nội dung được ưu tiên nghiên cứu đối với mỗi quốc gia nhằm phục vụ việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế-xã hội Việt Nam, do tính lịch sử của sự phân chia địa giới trong quá trình dựng nước và giữ nước, có các hình thức

di dân: giữa ba miền Bắc, Trung, Nam, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính

▪ Theo tính pháp lý

Di dân được phân biê ̣t hợp pháp hay bất hợp pháp, di dân tự do hay có tổ chức, di dân tình nguyện hay bắt buộc Tuỳ thuộc vào mức độ can thiệp của chính quyền trung ương hay địa phương mà người ta phân chia di dân theo loại này hay loại khác

Di dân phù hợp với luật pháp của một quốc gia được gọi là di dân hợp pháp Hình thức di dân này đôi khi mang tính chất chính trị, "tỵ nạn" hay "cư trú chính trị" Sau các cuộc chiến tranh có thể có hiện tượng "di tản", "vượt biên trái phép" từ các nước không

ổn định về chính trị hoặc nghèo về kinh tế đến các nước ổn định hơn và kinh tế phát triển hơn Hình thức di dân này được gọi là di dân bất hợp pháp

Hình thức di dân có tổ chức, trong đó nhà nước và chính quyền, các cấp có thẩm quyền, hoặc cơ quan chuyên trách về di dân, đóng vai trò quyết định và chủ động theo kế hoạch thống nhất Đó là việc đề ra và thực thi các chính sách điều động dân cư, đi xây dựng các khu kinh tế mới, giãn dân

▪ Các hình thức di dân khác

Có thể liệt kê một số loại di dân đáng chú ý khác như di dân cá nhân hay hộ gia đình, di dân tản mạn nhiều hướng hay thành dòng di dân, nếu căn cứ vào số lượng người

di dân và hướng di dân từ nơi xuất phát đến nơi dừng Hình thức di dân khá quan trọng là

di dân giữa hai khu vực thành thị và nông thôn Tiêu thức phân loại ở đây vừa theo lãnh thổ lại vừa theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội giữa hai khu vực Ở đây sẽ thấy đan xen bốn hình thức di dân: nông thôn - thành thị, nông thôn - nông thôn; thành thị - thành thị, thành thị - nông thôn

Trang 19

Ngoài ra còn có hình thức di dân con lắc (đi rồi lại về hàng ngày, không định cư ở nơi đến) đang là hình thức di dân rất phổ biến hiện nay (ví dụ, di dân từ vùng lân cận như

biến nữa hiện nay là di dân của những người ở nông thôn, đặc biệt là những người trẻ tuổi đến tìm việc ở khu vực phi chinh thức tại các thành phố lớn Đặc điểm của những người này là không có chuyên môn nghề nghiệp, làm việc cho những chủ nhỏ hoặc cá thể, tiểu chủ Những người chủ này thường không đăng ký sản xuất kinh doanh và không đăng ký chính thức tuyển dụng lao động Những người lao động tại khu vực phi chinh thức, thường không ký hợp đồng lao động, nên thường không được hưởng các chế độ như: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, không có chế độ nghỉ lễ và chủ nhật Họ thường là những người gặp nhiều rủi ro trong cuộc sống như: dễ bị lạm dụng tình dục (đối với phụ nữ), bị đối xử không công bằng Họ thường phải sống trong những ngôi nhà thiếu tiện nghi sinh hoạt Nhiều nơi hình thức di dân này còn được gọi dưới cái tên “di dân trôi nổi”

2.1.4 Các chi ̉ tiêu di dân

Theo Tổng cục dân số & Quỹ dân số LHQ (2011), thông thường có các thước đo

về di dân như sau:

Các chỉ tiêu đánh giá di dân

cư, và chênh lệch giữa hai đại lượng trên

Trang 20

2.2 Cơ sơ ̉ lý thuyết

2.2.1 Sơ lươ ̣c các lý thuyết

▪ Lý thuyết tiếp cận nguồn vốn con người (Human capital approach theory)

Theo đó, lý thuyết tiếp cận nguồn vốn con người được giải thích rằng một cá nhân

di cư vì sự mong đợi, kỳ vo ̣ng tìm được việc làm tốt hơn (Sjaastad, 1962) Ở góc độ vi

mô, mô hình này ngụ ý rằng mục tiêu của người di cư là tối đa hóa tiện ích bằng cách chọn nơi đến mà ở đó cung cấp cơ hô ̣i có thu nhập ròng cao nhất Do đó, mô hình này ngầm giả định rằng tối đa hóa lợi ích có thể đạt được thông qua việc tối đa hóa thu nhập Theo đó, mô hình này sẽ bỏ qua viê ̣c những người di cư vì lý do khác như là đoàn tụ gia đình, tị nạn, tiếp câ ̣n một nền văn hóa hấp dẫn hơn, và niềm tin tôn giáo

Trong quá trình di cư, chi phí cơ hô ̣i được xem như một phần thưởng không chắc chắn trong tương lai, vì thế di cư hiê ̣u quả giống như mô ̣t quyết định đầu tư Khi đó, thu nhập lao động trở thành là suất sinh lợi của vốn con người, di cư một cách hiệu quả có nghĩa là đầu tư vào nguồn lực của một người nào đó Quan điểm này cũng được thể hiê ̣n trong ý kiến của Becker (1975) với các giả thuyết rằng những người mà đầu tư vào kỹ năng của họ là nhằm mu ̣c đích để tối đa hóa giá trị hiện tại ròng của các khoản thu nhập trong tương lai

Mô hình Sjaastad bao gồm bốn khía cạnh của các quyết định đầu tư di cư: (a) Đồng bộ hóa các lợi ích của di cư và chi phí thời gian; (b) Các khoản thu nhập khác nhau giữa nơi đi và nơi đến; (c) Chi phí mức sống chênh lệch giữa nơi đi và nơi đến; và (d) Tỷ

lệ của nhập cư ưu tiên theo thời gian Tuy nhiên, mô hình củ a Sjaastad là một mô hình thời gian đơn do đó không thể giải thích tại sao một số người di chuyển nhiều lần trong suốt cuộc đời của họ Một thiếu sót nữa của mô hình là giả định rằng người di cư có được thông tin đầy đủ về các cơ hội ở thị trường lao động tại các nơi đến, đây là mô ̣t điều không chắc chắn là rất khó khăn để thực hiê ̣n với một mô hình Mô ̣t ha ̣n chế nữa là nhiều người di cư đã chuyển mô ̣t phần thu nhâ ̣p của họ trở về quê nhà, điều đó có nghĩa rằng những lợi ích cho dân nhập cư có thể bao gồm các lợi ích của việc chuyển tiền

Từ lý thuyết này cho thấy, người nhâ ̣p cư vào Thành Phố Hồ chí Minh với lý do

họ kỳ vo ̣ng tìm kiếm được công viê ̣c với mức thu nhâ ̣p cao hơn so với những gì ho ̣ kiếm

Trang 21

được từ quê nhà Tuy nhiên, trong môi trường sống ta ̣i Thành Phố, chi phí có thể là yếu

tố làm giảm đáng kể thu nhâ ̣p cá nhân mà ho ̣ có được Sau cùng, ho ̣ nhâ ̣n ra rằng chính ngay tại quê nhà, mă ̣t dù thu nhâ ̣p thấp hơn so với Thành Phố, tuy vâ ̣y, thu nhâ ̣p ròng sau

cù ng ho ̣ còn la ̣i là tốt hơn

▪ Lý thuyết vòng đời (Life-cycle theory)

Lý thuyết vòng đời thì đề cập đến một kế hoạch chu kỳ tối ưu, theo đó người hồi

cư có thể đã lên kế hoạch như là một phần của một tối ưu vòng đời ta ̣i địa điểm cư trú Polachek và Horvath (1977) cho rằng di cư nên được mô hình hóa như một quá trình đầu

tư được thực hiện theo từng giai đoạn của chu kỳ cuộc sống chứ không phải là một quyết định đầu tư Mô hình của họ thể hiê ̣n khá rõ ràng, dự đoán trong chu kỳ đời sống của con người có nhiều khả năng di chuyển và khả năng hồi cư Polachek và Horvath cũng lâ ̣p luận rằng mô hình Sjaastad không tạo ra các dự đoán như vậy bởi vì nó không nói gì về

sự lựa chọn các đặc điểm củ a địa điểm di cư đến Mô hình của Polachek và Horvath tổng hợp các đặc tính khác nhau ở nơi đến bao gồm tỷ lệ thất nghiệp, mức giá sinh hoa ̣t, thành phần ngành công nghiệp, cơ cấu lao động, và bình quân chi tiêu đầu người cho giáo dục Khi một người di chuyển trong suốt chu kỳ cuộc sống, thường có nhu cầu đối với những thay đổi về đặc điểm nơi đến Ví dụ, một người trẻ tuổi trong giai đoạn đầu của sự nghiệp

mang lại thu nhập cao, trong khi đó một người sắp về hưu thì thích nơi ở có khí hậu và

dịch vu ̣ chăm sóc sức khỏe tốt Vì lý do có rất nhiều giai đoạn trong chu kỳ cuộc sống, thích ứng với từng giai đoa ̣n phát sinh khả năng có nhiều di cư trong cuộc sống của một người

Lý thuyết này cho thấy viê ̣c di cư diễn ra trong đời sống của mô ̣t người có xác suất rất cao Con người ý đi ̣nh di cư vì ho ̣ cảm thấy đó là điều cần thiết, vì trong quá trình

di cư con người sẽ tiếp thu được nhiều kinh nghiê ̣m Sau cùng, ho ̣ la ̣i quay về nơi xuất phát điểm ban đầu và sống phần đời còn la ̣i

▪ Lý thuyết các yếu tố Hút – Đẩy của Lee’s

Theo Lý thuyết di cư của Lee’s (1966), các ảnh hưởng của di cư về cả mă ̣t tích

cực và tiêu cực của cả nơi xuất phát đi và nơi đến Người di cư thường kỳ vo ̣ng gă ̣t hái

Trang 22

được giá tri ̣ tăng thêm từ khi di chuyển đi Và viê ̣c di cư từ nơi xuất phát đi (Khu vực nông thôn) đến vùng đất kỳ vo ̣ng (Khu vực thành phố) cũng đều gă ̣p phải những vấn đề ở

cả hai nơi Những vấn đề ấy bao gồm áp lực từ phía gia đình, thông tin sai lê ̣ch, chính

sách nhà nước sở ta ̣i, chi phí di chuyển, thiếu thốn vốn kinh doanh, na ̣n mù chữ, thực hiện nghĩa vu ̣ cho nhà nước, và ngôn ngữ Và Lee cũng khẳng đi ̣nh rằng, khu vực thành phố có thể là thuâ ̣n lợi cho mô ̣t số người này, nhưng trái la ̣i là trở nga ̣i đối với mô ̣t số người khác

Theo Lee có bốn nhân tố ảnh hưởng đến di cư; những nhân tố này phát sinh từ nơi

đi, những nhân tố phát sinh từ nơi đến, những nhân tố trở nga ̣i trong lúc di chuyển, và những nhân tố mang tính cá nhân Cả nơi đi và nơi đến đều có những đô ̣ng cơ khiến người dân ý đi ̣nh ra đi và ý đi ̣nh di cư đến Những đô ̣ng cơ ấy bao gồm các yếu tố Hút và

yếu tố Đẩy; chẳng ha ̣n như là yếu tố khí hâ ̣u và giao thông, cả hai đều ảnh hưởng đến tất

cả mo ̣i người Hay những yếu tố khác như là sự ra đời của nhà máy sản xuất, khu công nghiệp cũng có ảnh hưởng tốt đến nhóm người này nhưng la ̣i không tốt cho nhóm người khác Mô hình yếu tố Hút và Đẩy của Everett S Lee được tóm tắt và phân làm hai nhóm nhân tố Hút – Đẩy cùng gây ra tác đô ̣ng đối với những người trong viê ̣c ý đi ̣nh di cư đi

và đến những khu vực mà ho ̣ lựa cho ̣n Các nhân tố ấy bao gồm như sau: (1) Yếu tố Đẩy

tại nơi đi bao gồm thiếu thốn cơ hô ̣i viê ̣c làm, rất ít cơ hô ̣i phát triển, điều kiê ̣n sống thô

sơ, tình tra ̣ng sa ma ̣c hoá, ngâ ̣p mă ̣n; (2) Yếu tố Hút ta ̣i nơi đến bao gồm nhiều cơ hô ̣i

việc làm, phát triển nghề nghiê ̣p, điều kiê ̣n sống tốt hơn, điều kiê ̣n giải trí đa da ̣ng, di ̣ch

vụ giáo du ̣c phát triển, di ̣ch vu ̣ chăm sóc y tế tốt, môi trường sống an ninh, sống gần người thân, khu vực có kinh tế phát triển, khu công nghiê ̣p hoa ̣t đô ̣ng, nhiều cơ hô ̣i kết hôn

Bên cạnh đó, cũng có nhiều lý thuyết liên quan đến vấn đề di cư chẳng ha ̣n như lý thuyết mạng xã hô ̣i (Network Theory) thì nói rằng một hệ thống mạng xã hô ̣i tạo cơ hô ̣i

cho những người mới di cư tiếp câ ̣n môi trường sống hoàn toàn mới, tuy nhiên, viê ̣c về quê có nhiều khả năng xảy ra trong trường hợp kết quả hệ thống mạng xã hô ̣i diễn ra không như ngườ i di cư mong muốn (Orrenius, 1999) Hơn nữa, với việc ý đi ̣nh về quê, lý thuyết chiến lược gia đình (Family Strategies Theory) đóng một vai trò quan trọng trong

Trang 23

quá trình ra quyết định Đặc biê ̣t là phụ nữ có nhiều khả năng về quê khi họ kết hôn, hoặc sau khi sinh em bé Họ đóng vai trò là người chăm sóc chính của gia đình trong khi các ông chồng của họ có nhiều lựa chọn để làm việc tại các thành thi ̣ để kiếm thêm tiền (Fan, 2000; Ma và Zeng, 1997)

Tuy nhiên, trên thế giới vẫn còn ha ̣n chế các nghiên cứu tâ ̣p trung vào ý đi ̣nh của người di cư trở về quê hương mà ho ̣ đã ra đi (De Haas và Fokkema, 2011) Những người

di cư, không phải tất cả ho ̣ đều có ý định quay trở lại quê nhà, vì những lý do khác nhau chẳng hạn như các ràng buộc xã hội, kinh tế và chính trị (Lu, 1999) Dù vâ ̣y, những người có ý đi ̣nh về quê cũng cho ta biết rất nhiều thông tin về kế hoa ̣ch di cư tương lai

củ a ho ̣

Một số nghiên cứu về quê ở Châu Phi đã cho thấy có xu hướng di cư từ thành thi ̣

về nông thôn (Castaldo, Deshingkar and McKay 2012) Theo Owuor (2007), đã sử dụng phương pháp định lượng và định tính dựa vào dữ liê ̣u nghiên cứu ở Kenya, trong nghiên

cứ u tầm quan trọng của kết nối nông thôn cho người di cư đô thị, tác giả cho thấy nam giới di cư, những người không thể hỗ trợ các gia đình của họ đã ý đi ̣nh chuyển vợ và con cái của mình trở lại quê nhà Tiếp theo, Falkingham & Ctg (2012) nghiên cứu các yếu tố

tác đô ̣ng đến quyết định di cư của những người đô ̣ tuổi 50 tuổi trở lên, kết quả cho thấy rằng 13% của mẫu nghiên cứ u đã từ bỏ thủ đô Nairobi, Kenya; vấn đề tuổi tác và nghèo khó chính là nhân tố khiến ho ̣ ra đi

Một số nghiên cứu khác về hồi cư trong nước ở các quốc gia Châu Á như Thái Lan và Trung Quốc Chẳng hạn như tại quâ ̣n Nang Rong thuô ̣c Đông Bắc Thái Lan có 26 phần trăm người về quê trong khoảng thời gian sáu năm (Piotrowski và Tong, 2010) Con số này ở Trung Quốc thì cao hơn một chút và được ước tính từ 25 đến 38 phần trăm (Démurger và Xu 2011, Wang và Fan, 2006; Zhao, 2002)

Có một vấn đề được đặt ra bởi nhiều nhà nghiên cứu là liệu người trở về là người

di cư "thành công" hay "thất bại” (Bovenkerk, 1974) Nhiều học giả (Borjas, 1989; Lee, 1984; Newbold, 2001; Reyes, 1997; vv) nghĩ rằng người hồi hương thường được xem là ý đi ̣nh tiêu cực Họ ít học, tay nghề thấp và tuổi cao dẫn đến gă ̣p khó khăn trong vấn đề tìm một công việc tại các thành thị ở nơi đến và thích ứng cuộc sống nơi đó Đây là kiểu

Trang 24

dạng quan điểm giả đi ̣nh rằng thành phố có xu hướng từ chối những người di cư mà không thích hợp cho cuộc sống đô thị, không tay nghề cao và không phù hợp tồn ta ̣i trong thành phố (Simons và Cardona, 1972) Tuy nhiên, lại có quan điểm khác cho rằng người trở về là ý đi ̣nh tích cực (Saenz và Davila, 1992) Điều này có thể giải thích rằng những người di cư không thành công thườ ng không có ý định quay trở lại vì họ không muốn thừa nhận đã thất bại ở nơi mình đã di cư đến (Gmelch, 1979; Kenny, 1976)

Tuy vậy, một số ý kiến cho rằng những người về quê rất tiềm năng và tác động

tích cực đến viê ̣c phát triển đi ̣a phương vì người về quê mang lại kinh nghiệm làm việc

và kỹ năng có giá trị nơi đô thị, cũng như nguồn vốn cần thiết cho sự phát triển kinh tế cộng đồng địa phương (Ma, 2001; Murphy, 1999; Pottinger, 1987) Trái la ̣i, một số ý kiến cho rằng người về quê thường là thất bại trong bối cảnh đô thị, có nghĩa ho ̣ là nguồn nhân lực kém và sẽ ít có tác động đến cộng đồng đi ̣a phương (Hawley, 1950) Bên ca ̣nh đó, có kết luâ ̣n rằng chỉ có số ít người về quê được coi là có khả năng đóng góp phát triển kinh tế quê nhà củ a ho ̣ (Gmelch, 1980)

Lý thuyết này có thể giải thích rằng các yếu tố gần người thân, viê ̣c làm, thu nhâ ̣p

là những nhân tố tác đô ̣ng đến ý đi ̣nh về quê của người đã từng di cư

2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hồi hương của người dân

Theo King (2000), hồi cư được cho rằng thường bi ̣ ảnh hưởng bởi hỗn hợp các nguyên nhân như là yếu tố kinh tế, xã hội, gia đình và các yếu tố chính trị Các yếu tố kinh tế tác đô ̣ng đến viê ̣c về quê còn được go ̣i là yếu tố đẩy chẳng hạn như là tình tra ̣ng suy thoái kinh tế, thất nghiệp, hoặc là yếu tố kéo xuất từ các vùng miền chẳng hạn như

vù ng có kinh tế phát triển hoă ̣c có mức lương cao hơn Đối với yếu tố xã hội tác đô ̣ng đến về quê liên quan đến các nhân tố đẩy như phân biệt chủng tộc hay bài ngoại (xem thường người khác vùng hay người nước ngoài), hoặc những khó khăn trong việc hô ̣i nhập ta ̣i nơi đến Các yếu tố kéo cũng còn được biết đến như là nỗi nhớ nhà, hoặc là kỳ

vọng mở rô ̣ng qui mô kinh doanh hay cơ hô ̣i phát triển nghề nghiê ̣p khi đã về quê, ví dụ, thông qua việc có thể để khởi sự kinh doanh, xây dựng một ngôi nhà mới, hoặc đóng góp cho cộng đồng xã hô ̣i Hồi cư liên quan đến gia đình hay yếu tố chu kỳ cuô ̣c sống như là tìm kiếm một người bạn đời, có con ở nhà cần được giáo dục hoặc nghỉ hưu Những

Trang 25

người về quê, đôi khi, trở về nhà để chăm sóc cha mẹ già, ốm yếu diễn ra sớm hơn họ nghĩ Những người về quê về chăm sóc gia đình, người thân có thể là ở nông thôn hay ở nơi mà kinh tế kém phát triển so với các trung tâm đô thị Cuối cùng, các yếu tố đẩy mang tính chính tri ̣ thì ha ̣n chế, nếu có là do không gia hạn thị thực, bị đuổi học Hay các

yếu tố kéo mang tính chính tri ̣ như là những chính sách để khuyến khích và tạo điều kiện

về quê, lợi ích về thuế, trợ cấp xã hội, trợ cấp nhà ở King còn chỉ ra rằng các yếu tố kéo thường có nhiều ảnh hưởng hơn đối với các quyết định về quê của người di cư và các yếu

tố phi kinh tế nói chung có ảnh hưởng tích cực đến về quê hơn Điều này trái ngược với quyết định ban đầu lú c di cư là do tác đô ̣ng bởi những động cơ kinh tế Hơn nữa, nỗi nhớ nhà, và mong muốn kết nối lại truyền thống văn hóa từ trước cũng đóng một vai trò quan trọng trong ý đi ̣nh về quê

Cù ng quan điểm với King, Wang (2003) cũng cho rằng những người di cư trở lại quê nhà vì nhiều lý do Thông thường, một sự kết hợp các yếu tố của lực đẩy và lực kéo dẫn đến quyết định về quê của họ Mặc dù mỗi người trở về mang một câu chuyện khác nhau về lý do tại sao họ trở về quê hương, một số thì do tác đô ̣ng của yếu tố xã hội, mô ̣t

số khác thì do yếu tố kinh tế và cũng có người về quê vì lí do thể chế nhà nước

Những yếu tố tác đô ̣ng đến ý đi ̣nh về quê có thể được tổng hợp như sau:

• Giới tính

Những nghiên cứu di dân trước đây ta ̣i những quốc gia đang phát triển chỉ ra rằng

có sự khác biê ̣t giữa tỉ lê ̣ di cư giữa nam và nữ Ở Châu Phi và Châu Á, nam di cư nhiều hơn nữ, tuy nhiên, trong thời gian gần đây nữ giới la ̣i có dấu hiê ̣u di cư nhiều hơn nam giớ i Ta ̣i mô ̣t số nước Châu Á như Ấn Đô ̣, Hàn Quốc, và Philippines nữ di cư vào các thành phố nhiều hơn nam, tuy nhiên, nam di cư đến các vùng khác thuô ̣c khu vực nông thôn thì nhiều hơn nữ (Yap, 1977) Ta ̣i Viê ̣t Nam, về các đặc điểm nhân khẩu học của người dân di cư, hầu hết người di cư đều là những người trẻ tuổi; khoảng 60% số người

di cư nam và 66% số người di cư nữ trong độ tuổi từ 15-29 và phần lớn trong số họ đều chưa lập gia đình (Điều tra dân số và nhà ở, 1999) Kết quả này cũng tương tự với kết quả điều tra giữa kỳ năm 2004 ở Thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là độ tuổi di cư của nữ thường sớm hơn của nam và số lượng người di cư là nữ đang ngày càng tăng Đặc biệt số

Trang 26

phụ nữ di chuyển tới các khu đô thị và khu công nghiệp đã bắt đầu vượt con số người di

cư là nam giới Điều này cũng có thể giải thích rằng nhu cầu ngày càng cao về lao động

nữ tại các khu vực công nghiệp phát triển; tuy nhiên, đối với nam có xu hướng quay về quê nhà cao hơn người di cư có giới tính nữ do tính chất văn hoá và người giới tính nam

có xu hướng canh giữ nhà từ đường là lí do chính

Tư ̀ phân tích trên, nghiên cứu đặt ra giả thuyết rằng nam giới sẽ có ý đi ̣nh về quê nhiều hơn

đi ̣nh về quê, đă ̣c biê ̣t là những đối tượng di cư có đô ̣ tuổi cao

Tư ̀ đây, có thể giả thuyết rằng người có độ tuổi càng cao thì càng có ý đi ̣nh về quê

so vơ ́ i người có độ tuổi thấp hơn

• Tình tra ̣ng hôn nhân

Cũng theo Zhao (2002), hiê ̣n tượng về quê ở Trung Quốc thường xảy ra đối với những người có xu hướng muốn lâ ̣p gia đình Điều này cũng có thể giải thích rằng người

về quê thay đổi kế hoa ̣ch di cư bằng ý đi ̣nh về quê do ho ̣ có ý đi ̣nh lâ ̣p gia đình và sinh

sống ngay chính quê hương của mình Thêm vào đó, các nghiên cứu thực nghiệm ở Trung Quốc cũng cho thấy một xu hướng mạnh mẽ ý đi ̣nh về quê đối với đối tượng là phụ nữ đã kết hôn (Luo, 2006; Fan & các cô ̣ng sự, 2011)

Tư ̀ đây có thể đặt ra giả thuyết rằng người độc thân có ý đi ̣nh về quê nhiều hơn so

vơ ́ i người có gia đình

• Thu nhâ ̣p

Borjas và Bratsberg (1996) đã cho thấy rằng một người nhập cư có thể trở lại quê nhà của mình vì hai lý do: Thứ nhất, ho ̣ sa ̣ch túi hay phá sản, tiền lương thấp hoặc thất

Trang 27

nghiệp hay ngườ i về quê cũng có thể là những người thành công Thứ hai, người di cư có tối ưu được thu nhâ ̣p của mình, tuy nhiên, ho ̣ phải trả chi phí sinh hoa ̣t cao ta ̣i nơi đến hay thành thi ̣ và ho ̣ cảm nhâ ̣n giá trị thu nhâ ̣p hay tiết kiê ̣m sau cùng của cuô ̣c đời còn la ̣i vẫn thấp, từ đó ho ̣ ý đi ̣nh về quê

Trong một nghiên cứu khác về di cư quốc tế, Stark (1995) nói rằng người di cư

cảm nhâ ̣n viê ̣c tiêu dùng ở quê nhà là thích hợp hơn là tiêu dùng ở nước ngoài Trong trường hợp này, người di dân tích lũy tiền trong khi làm việc ở nước ngoài và ho ̣ có xu hướng trở về quê nhà và tiêu xài khoản tiết kiệm của mình

Tư ̀ đây có thể đặt ra giả thuyết rằng người có thu nhập giảm sẽ có ý đi ̣nh về quê nhiều hơn

• Tình tra ̣ng ho ̣c vấn

Nhiều học giả (Borjas, 1989; Lee, 1984; Newbold, 2001; Reyes, 1997) cho rằng người hồi hương thường ít được lựa cho ̣n Họ ít học, tay nghề thấp và cao tuổi Đó là những khó khăn cho họ để tìm một công việc tại các thành phố và thích ứng được với cuộc sống thành phố Và đây là da ̣ng quan điểm cho rằng "thành phố có xu hướng từ chối những người di cư mà không thích hợp cho cuộc sống đô thị nơi là chỉ dành cho người có tay nghề cao và phù hợp hơn." (Simons và Cardona, 1972)

Gia ̉ thuyết có thể đặt ra ở đây là những người có học vấn càng thấp sẽ có ý đi ̣nh về quê nhiều hơn

• Việc làm

Theo lý thuyết về phân khúc thị trường lao động, hiê ̣n tượng về quê xuất hiê ̣n khi thị trường lao đô ̣ng bi ̣ phân khúc Mặc dù có những công việc đang tuyển du ̣ng ta ̣i các nơi người di cư đến, tuy vâ ̣y những người di cư ít có cơ hô ̣i tiếp cận với họ Thị trường lao động cũng có thể được phân khúc với đích nhắm đối tượng là nam giới, trẻ hoă ̣c là người dân địa phương (Bailey và Cooke, 1998; Lang và Smart, 2002; Solinger, 1995)

Tư ̀ đây, có thể đưa ra giả thuyết rằng người không có viê ̣c làm (hay có viê ̣c làm nhưng không ổn đi ̣nh) sẽ có ý đi ̣nh về quê nhiều hơn

Trang 28

• Rủi ro đối với kinh tế gia đình

Levhari và Stark (1982) cho rằng viê ̣c di cư có thể là ý đi ̣nh cá nhân, tuy nhiên, đôi khi đó là ý đi ̣nh của gia đình; gia đình sẽ cho ̣n và gửi người đi di cư vì gia đình có nguy cơ phải đối mặt với những rủi ro không thể bảo đảm (ví dụ, mất mùa hay di ̣ch vu ̣

bảo hiểm kém) Và khi gia đình cải thiện được điều kiê ̣n kinh tế và khắc phu ̣c được các rủi ro, khi các thành viên di cư có thể quay trở về Hơn nữa, Bardhan và Udry (1999)

cũng cho thấy rằng di cư là một trong những chiến lược mà các hộ gia đình sử dụng để đảm bảo rằng thu nhập của họ không bi ̣ bấp bênh nhiều Các hộ gia đình có xu hướng phân tán các thành viên trong hô ̣ di cư khắp nơi nhằm giảm sự dao đô ̣ng về thu nhập của toàn hộ gia đình Và theo đó, sau khi di chuyển, các thành viên của gia đình kết hợp và chia sẻ thu nhập của họ

Gia ̉ thuyết về rủi ro kinh tế gia đình dẫn đến người di cư đi và khi kinh tế gia đình trơ ̉ lại trạng thái ổn đi ̣nh thì người di cư lại có ý đi ̣nh về quê của mình

• Hoàn cảnh thiếu thốn

Một cá nhân khi anh hay chi ̣ ấy so sánh hoàn cảnh của mình với những người khác trong gia đình hay trong cộng đồng và cảm nhâ ̣n mình thất thế về mă ̣t kinh tế, hay

nói cách khác ho ̣ cảm thấy mình nghèo hơn so với mo ̣i người xung quanh, những người nghèo như thế sẽ di cư để cải thiện vị trí của mình trong cộng đồng Theo thời gian di cư nơi miền đất hứa ho ̣ sẽ trở nên hòa nhập hơn với cộng đồng mới và bắt đầu so sánh mình với những người tại nơi đó; nếu vị trí của ho ̣ trong cộng đồng là tốt hơn ở quê nhà, sau đó anh ấy/hay chi ̣ ấy sẽ về quê hương (Stark, 1984; Stark và Yitzhaki, 1988)

Gia ̉ thuyết cho trường hợp này là do điều kiê ̣n kinh tế khó khăn đã khiến người dân di cư đi Sau một thời gian di cư, điều kiê ̣n kinh tế gia đình được cải thiện tốt hơn và như ̃ng người di cư này lại có ý định về quê sinh sống nhiều hơn

2.3 Ca ́ c nghiên cứu trước

Có rất nhiều nghiên cứu di cư được thực hiê ̣n trên quốc tế, tuy nhiên, các nghiên

cứ u chính thức về di cư về quê quốc tế được thực hiê ̣n ít hơn và đă ̣c biê ̣t là về quê trong nước la ̣i càng ít được thực hiê ̣n Nghiên cứu về quê cũng đă ̣c biê ̣t rất hiếm được thực hiện ở Viê ̣t Nam Điều này có thể giải thích rằng, Viê ̣t Nam kể từ khi đổi mới kinh tế từ

Trang 29

năm 1986 đến nay đã có nhiều thay đổi rõ rê ̣t về phát triển kinh tế; các đă ̣c khu kinh tế,

các khu công nghiê ̣p chủ yếu tâ ̣p trung ở thành thi ̣ lớn Chính vì thế hiê ̣n di cư trong nước

tại Viê ̣t Nam phổ biến nhất và vẫn đang xảy ra là hình thức di cư nông thôn – thành thi ̣

Các hiê ̣n tượng di cư về quê trở nên mới xuất hiê ̣n gần đây, chủ yếu diễn ra ta ̣i nhóm người di cư lao đô ̣ng

Hơn nữa, phần lớn nghiên cứu di cư trở về xuất phát từ những nghiên cứu quốc tế,

một số nghiên cứu về quê xuất hiê ̣n ta ̣i các nước phương tây chủ yếu Riêng ta ̣i các nước phương đông, phần lớn các nghiên cứu xuất hiê ̣n ta ̣i Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Đô ̣ Tuy nhiên, vẫn còn rất ha ̣n chế nghiên cứu chính thức di cư về quê ta ̣i Viê ̣t Nam, phần lớn là

các bài báo, báo cáo hô ̣i nghi ̣ về về quê

Theo Hirvonen và Lilleør (2014), trong nghiên cứu di cư trở lại nông thôn Tanzania, chỉ ra rằng mức độ của người hồi cư ta ̣i tỉnh Kagera Tây Bắc Tanzania giữa năm 2004 và 2010 là 14% đến 17%, tùy thuộc vào mẫu được chọn quan sát Nghiên cứu đã sử du ̣ng phương pháp hồi quy Logistic với biến đô ̣c lâ ̣p bao gồm (1) tuổi di cư, (2) số

lần di cư, (3) trình đô ̣ ho ̣c vấn, (4) viê ̣c làm, (5) tình tra ̣ng gia đình, (6) giới tính người di

cư, (7) đất canh tác quê nhà, (8) người thân Nhiều bằng chứng cho thấy mặc dù có những yếu tố tích cực liên quan đến lựa chọn di cư, tuy nhiên, lựa chọn hồi cư chủ yếu là

các yếu tố tiêu cực Trong số những người di cư, những người về quê là những người có trình đô ̣ ho ̣c vấn thấp và không tìm được cơ hô ̣i trong quá trình di cư Hơn nữa, kết quả nghiên cứ u còn cho thấy phụ nữ đã ly hôn hoặc góa chồng có nhiều khả năng trở lại quê nhà

Theo Wang (2003), trong nghiên cứ u di cư lao đô ̣ng trở về từ đô thị - nông thôn ở Trung Quốc điển hình ta ̣i hai tỉnh Tứ Xuyên và An Huy, bằng cách sử du ̣ng hồi quy Logistic vớ i các biến (1) Tuổi người di cư, (2) Trình độ học vấn người di cư, (3) Giới

ti ́nh, (4) Tình trạng hôn nhân, (5) Quy mô hộ gia đình, (6) Đất nông nghiê ̣p canh tác, (7) Thu nhâ ̣p gia đình Kết quả cho thấy người di cư trở la ̣i quê nhà vì lý do kinh tế, gia đình

và xã hô ̣i Người về quê bao gồm cả hai đối tượng là những người thành công và không thành công trong quá trình di cư Tuy nhiên, người thành công trở về ho ̣ la ̣i càng gă ̣t hái thêm nữa trong khi người không thành công thì vẫn khó khăn nơi quê nhà của mình

Trang 30

Cuối cùng, như đã trình bày ở trên, nghiên cứu về quê rất hiếm được thực hiê ̣n ở Việt Nam đặc biệt là về quê trong nước theo da ̣ng về quê thành thi ̣ về nông thôn Tuy nhiên, có vài nghiên cứu về quê Viê ̣t Nam theo da ̣ng “Viê ̣t Kiều” Chẳng ha ̣n như nghiên

cứ u Kuyper (2008) chỉ ra rằng thực tế Viê ̣t Kiều về quê và gắn kết vào Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác nhau Các yếu tố ảnh hưởng ấy bao gồm ba nhóm khác nhau chẳng hạn như yếu tố đặc điểm cá nhân (giới tính, tuổi tác, tình trạng hôn nhân, sinh con, tôn giáo); yếu tố chu kỳ di cư (lý do để di cư và về quê, những kỳ vọng cá nhân

và tình trạng pháp lý của người di cư liên quan đến nhà ở, giáo dục, y tế và việc làm, chuyển tiền về nước, và tiết kiệm) và yếu tố mang tính hỗ trợ (Viê ̣t Kiều về quê và ở la ̣i Việt Nam là một quá trình cần nghiên cứu học hỏi, chịu ảnh hưởng bởi một loạt các yếu

tố khác nhau Nhu cầu của người nhập cư luôn cần được hỗ trợ trước, trong và sau khi trở

về và chúng thay đổi đáng kể tùy theo tình hình cụ thể của mỗi ngườ i)

Hơn nữa, Pha ̣m Văn Dinh (2010) cũng cho rằng sự đóng góp của người di cư nói chung cho sự phát triển đất nướ c quê nhà của ho ̣ đang trở thành chủ đề "nóng" đối với

các nước nghèo có kinh tế châ ̣m phát triển và các quốc gia ấy đang tìm kiếm các nguồn mới để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của họ Sự hình thành và phát triển độc đáo của cộng đồng người Việt đóng góp đáng kể vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Cô ̣ng đồng người Viê ̣t đã phát triển tiềm năng của mình bằng cách cư trú ở các quốc gia phương Tây trong hơn bốn thập kỷ qua Việt Kiều được hưởng lợi đáng kể về cơ hội kinh tế lớn có sẵn ở các nước phương Tây nhờ vào họ có được cơ hội việc làm tốt hơn, nâng cao mức sống và các cơ hội tiếp câ ̣n hệ thống giáo dục đại học phương Tây Sự đóng góp của bốn triệu người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ nằm ở tạo thu nhập hiện tại mà còn cam kết tuyệt đối chia sẻ của họ vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Từ đó, Pha ̣m đã phát biểu rằng Việt Kiều đã thực sự đóng góp tích cực và quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam Từ kết quả nghiên cứu của mình, Pha ̣m cũng đã đề xuất Chính phủ Việt Nam cần phải xem xét thêm những hiểu biết và đề nghị của họ về viê ̣c cải thiện tính minh bạch giữa hai bên Chính phủ Việt Nam cũng cần ban hành các sáng kiến và chính sách đúng đắn đáp ứng sự quan tâm, nguyê ̣n vo ̣ng của ho ̣ để tăng nguồn tiền chuyển về

Trang 31

nước hơn Ngoài ra, Việt Kiều cũng nêu lên các vấn đề tự do chính trị và tôn giáo như là nguyên nhân khiến họ vẫn còn do dự khi cam kết trở về Việt Nam

Ngoài ra, theo Nguyễn Hoàng Phương (2011) trong nghiên cứu của mình về di cư đến và đi giữa các tỉnh trong nước Việt Nam, cũng tạo nên đóng góp lớn cho chủ đề nghiên cứu di cư trong nước Bằng cách sử dụng dữ liệu khảo sát hàng năm về di cư của Tổng cục Thống Kê Việt Nam, ông ta cho rằng việc di nhập cư sẽ co dãn nhiều theo tình hình thu nhập của thị trường Từ đó, mô hình ước lượng dự đoán của ông cung cấp bằng chứng mạnh mẽ các yếu tố ảnh hưởng đến dòng di cư giữa các tỉnh ở Việt Nam Các yếu

tố tác động chủ yếu được xác định là chi phí di chuyển, chênh lệch thu nhập mong muốn, chênh lệch về chất lượng các dịch vụ công mong muốn, và yếu tố nhân khẩu học của bản thân người di cư Ngoài ra, trái ngược với những người di cư ở các nước khác, người Việt ít nhiều nhạy cảm với khoảng cách Trong khi thu nhập tăng dự kiến của một tỉnh có thể kích thích hoạt động nhập cư hơn là xuất cư và việc thu nhập dự kiến tăng lên sẽ đạt ngưỡng nhất định ở cả nơi đi lẫn nơi đến đối với người di cư Bên cạnh đó, không giống như các nước khác, người di cư Việt Nam được cho là nhạy cảm hơn với tỷ lệ thất nghiệp ở quê nhà hơn tại điểm mới di cư đến và họ cũng bị thu hút di cư đến những nơi cung cấp dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng chất lượng tốt hơn Nhìn chung, so với người di cư trong nước ở các quốc gia khác, người di cư giữa các vùng tại Việt Nam đều

có những điểm tương đồng và không tương đồng về mặt hành vi và quyết định di nhập

Và như đã đề câ ̣p trong phần giới thiê ̣u, phần lớn dân nhâ ̣p cư đáp ứng nhu cầu lao

đô ̣ng đối với các công ty sản xuất thâm du ̣ng lao đô ̣ng chẳng ha ̣n như trong khu chế xuất

và khu công nghiê ̣p ta ̣i TPHCM la ̣i có hiê ̣n tượng di cư về quê với số lượng đáng kể Vì

vậy, nghiên cứu này sẽ tâ ̣p trung chủ yếu nghiên cứu tìm hiểu các nhân tố chính trong việc tác đô ̣ng đến ý đi ̣nh về quê tâ ̣p trung chủ yếu đối với người lao đô ̣ng phổ thông mà

bản thân ho ̣ đã từng mong đợi và kỳ vo ̣ng rất nhiều trong viê ̣c di cư khỏi đi ̣a phương vào TPHCM

Nhìn chung, cũng như các nghiên cứu trước nhằm mục đích xác định các nhân tố chính tác động đến quyết định di nhập cư của người dân trong nước Tuy nhiên, như đã

Trang 32

đề cập ở trên, có ít nghiên cứu trong nước về tình trạng di cư hồi cư, từ đó cho thấy khác biệt của nghiên cứu này so với các nghiên cứu trước chính là xác định nguyên nhân các lao động nhập cư lại có quyết định hồi cư sau một thời gian sống và làm việc tại TPHCM

2.4 Mô hình nghiên cứu

Kế thừa các lý thuyết mô hình nghiên cứu như là lý thuyết tiếp cận nguồn vốn con người (Human capital approach theory); Lý thuyết vòng đời (Life-cycle theory); lý thuyết Lực kéo và Lực đẩy (Lee’s, 1966) và mô ̣t số nghiên cứu trước ở quốc tế và các nghiên cứ u trước Phương pháp nghiên cứu chính của luận văn này sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích mối quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc

Trang 33

To ́ m tắt nô ̣i dung Chương 2

Nội dung Chương 2 đã viết về các khái niê ̣m di dân bao gồm đi ̣nh nghĩa di dân,

các đă ̣c trưng di dân, phân loa ̣i các hình thức di dân và các chỉ tiêu di dân Bên ca ̣nh đó,

nội dung phần này cũng cung cấp thêm các lý thuyết di dân, các nghiên cứu trước liên quan đến di dân và về quê Cuối cùng là mô hình đề xuất cho nghiên cứu

Trang 34

CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN DÂN SỐ, DI CƯ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này giới thiê ̣u tổng quan dân số và di cư trong nước Viê ̣t Nam, lịch sử di

cư ở Việt Nam, thống kê mô tả các luồng di cư giữa các tỉnh và các khu vực trong nước Đồng thời, chương này cũng giới thiê ̣u đă ̣c trưng người di cư trong nước bao gồm đô ̣ tuổi, giớ i tính, trình đô ̣ ho ̣c vấn và tình tra ̣ng gia đình của người di cư

3.1 Quy mô dân số

Theo Tổng cục thống kê (2009), tổng số dân của Việt Nam vào 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2009 là 85.789.573 người Như vậy, Việt Nam là nước đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á (sau In-đô-nê-xi-a và Phi-líp-pin) và đứng thứ 13 trong số những nước đông dân nhất thế giới Số người sống ở khu vực thành thị là 25.374.262 người, chiếm 29,6%, và ở khu vực nông thôn là 60.415.311 người, chiếm 70,4% tổng dân số Dân số nam là 42.482.549 người, chiếm 49,5% và nữ là 43.307.024 người, chiếm 50,5% tổng dân số (Tổng cục thống kê 01/4/2009) Gần đây nhất, theo kết quả Điều tra biến đô ̣ng dân số năm 2012, dân số Việt Nam tính đến 01 tháng 4 năm 2012 là 88.526.883 người (tăng 915.936 người so với 01/4/2011)

Ba ̉ng 3 1: Quy mô dân số chia theo giới tính, thành thị/nông thôn và

Trang 35

Đông Nam Bộ 15 155 176 7 329 740 7 825 436 9 232 389 5 922 787 Đồng bằng sông

(Nguô ̀n: Tổng cục thống kê, 2012)

Số liệu của Biểu 3.2 cho thấy, từ năm 1999 dân số nước ta tăng thêm 9,47 triệu người, bình quân mỗi năm tăng 947 nghìn người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm (gọi tắt là tỷ lệ tăng dân số) trong thời kỳ giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 và

2009 là 1,2%/năm; đây là thời kỳ có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất trong vòng 30 năm qua

Tỷ lệ này tính bình quân là 2,1%/năm giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số năm

1979 và 1989, 1,7%/năm giữa hai cuộc Tổng điều tra dân số năm 1989 và 1999

Ba ̉ng 3 2: Quy mô dân số và tỷ lệ tăng dân số, 1979-2009

Năm Dân số (Nghi ̀n người) Ty ̉ lê ̣ tăng dân số bình quân (%)

(Nguồn: Tổng điều tra dân số 2009)

Nhìn chung, số liệu của Biểu 3.3 cho thấy, trong những năm gần đây nhất từ năm

2009 đến năm 2012 dân số nước ta tăng bình quân năm là 916 nghìn người Tỷ lệ tăng dân số bình quân năm 1,06 % và tỷ lê ̣ tăng dân số thành thi ̣ bình quân năm là 31,9%

Ba ̉ng 3 3: Các chỉ tiêu chủ yếu lần lượt qua các năm

Chi ̉ tiêu Đơn vi ̣ tính TĐTDS và nha ̀ ở

1/4/2009

Điều tra BĐDS và

nha ̀ ở

1/4/2010

Điều tra BĐDS và

nha ̀ ở

1/4/2011

Điều tra BĐDS và nha ̀ ở 1/4/2012

Trang 36

(Nguô ̀n: Tổng cục thống kê 2012)

3.2 Mức độ di cư theo các cấp hành chính

Biểu 3.4 trình bày quy mô của từng loại tình trạng di cư của Tổng điều tra năm

1999 và 2009 Trong biểu này, số người không di cư của mỗi tình trạng di cư được hiểu

là tổng dân số từ 5 tuổi trở lên trừ đi số người di cư ở loại hình di cư đó Trong chương này, tỷ suất di cư được tính cho từng loại hình di cư biểu thị bằng số người di cư tính trên 1.000 người từ 5 tuổi trở lên tại thời điểm điều tra Số liệu cho thấy, ở tất cả các tình trạng di cư, cường độ di cư của thời kỳ 2004-2009 lớn hơn so với 1994-1999 Trong đó,

di cư giữa các vùng tăng trưởng mạnh nhất, tăng gấp 1,5 lần, từ 19 người di cư/1000 dân năm 1999 lên 30 người di cư/1000 dân năm 2009 Di cư giữa các tỉnh tăng từ 29 người di cư/1000 dân năm 1999 lên 43 người di cư/1000 dân năm 2009 Còn di cư giữa các huyện tăng từ 16 người di cư/1000 dân năm 1999 lên 22 người di cư/1000 dân năm 2009

Ba ̉ng 3 4 Số người di cư và tỷ suất di cư chia theo tình trạng di cư, 1999 và 2009

Cấp ha ̀nh chính/đi ̣a lí

Số ngươ ̀ i di cư (Nghi ̀n người)

Số ngươ ̀ i không

di cư (Nghìn người)

Ty ̉ suất di cư (Phần nghi ̀n)

(Nguô ̀n: Tổng điều tra dân số, 2009)

Các số liệu trong Biểu 3.4 còn cho thấy, trong giai đoạn 2004-2009, số người di

cư tăng hơn 2,2 triệu người so với thời kỳ 1994-1999, đặc biệt là số người di cư tăng theo khoảng cách di cư Trong khi di cư trong huyện chỉ tăng 275 nghìn người và di cư giữa các huyện trong cùng tỉnh tăng 571 nghìn người, thì di cư giữa các tỉnh tăng gần 1,4 triệu người và di cư giữa các vùng tăng hơn 1 triệu người Một lần nữa có thể thấy mối quan

hệ hữu cơ của di cư với sự phát triển kinh tế Thời kỳ 2004-2009 là thời kỳ các khu công nghiệp, chế xuất được xây dựng ở nhiều nơi trên cả nước với nhịp độ cao Những cơ sở sản xuất này cần lao động có tay nghề đến làm việc Hơn nữa, trong thời kỳ này người

Trang 37

dân di chuyển ồ ạt tới các thành phố, đô thị tìm kiếm việc làm để mưu sinh Đây cũng là hiện tượng thường gặp ở các nước đang phát triển (Tổng cục thống kê, 2009)

3.3 Di cư giữa các vùng

Về tổng thể, việc di cư theo vùng cũng giống như kết quả của Tổng điều tra 1999 Năm 2009 chỉ có 2 vùng là vùng nhập cư (số người nhập cư lớn hơn số người xuất cư), 4 vùng còn lại là vùng xuất cư (số người xuất cư lớn hơn số người nhập cư) Sau 10 năm Tây Nguyên và Đông Nam Bộ tiếp tục là nơi thu hút dân cư Đông Nam Bộ, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh, là đầu tàu kinh tế - nơi đến hấp dẫn của lao động cả nước Cũng cần lưu ý rằng, trong luồng di cư đến Đông Nam Bộ, có thể có một lượng không nhỏ là những người đến đây để học tập, đào tạo nâng cao tay nghề Sau khi học xong họ

ở lại làm việc theo nhu cầu tuyển dụng của các cơ quan, tổ chức, công ty, doanh nghiệp

sở tại, nơi đang cần những lao động có tay nghề cao mà địa phương thiếu Lý do người di

cư đến Tây Nguyên có thể khác hơn Mật độ dân số Tây Nguyên còn thấp, đất canh tác còn nhiều, là nơi thu hút dân cư nông thôn của các tỉnh phía Bắc đến để tìm đất canh tác, sản xuất các sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu, như cà phê, cao su, chè, Tuy nhiên, sau

10 năm, cường độ di cư đến Đông Nam Bộ và Tây Nguyên đã có sự thay đổi trái chiều

Tỷ suất di cư thuần của Tây Nguyên giảm khá mạnh, từ 76 xuống còn 9 người di cư/1000 dân, trong khi con số đó của Đông Nam Bộ tăng gần 2,5 lần từ 49 lên 117 người di cư/1000 dân

Đối với 4 vùng xuất cư, có 3 vùng có tỷ suất di cư thuần âm tăng (giá trị tuyệt đối) sau 10 năm, đó là Đồng bằng sông Cửu Long, tăng hơn 4 lần từ -10 lên -42 người di cư/1000 dân; tiếp sau là Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Trung du và miền núi phía Bắc, cũng tăng xấp xỉ gấp đôi, tương ứng là từ -19 lên -38 người di cư/1000 dân

và -10 lên -18 người di cư/1000 dân Chỉ có Đồng bằng sông Hồng có tỷ suất di cư thuần giảm (giá trị tuyệt đối), từ -11 xuống -2 người di cư/1000 dân Ở Đồng bằng sông Hồng,

có Thủ đô Hà Nội là trung tâm thu hút dân số và lao động lớn trong 10 năm qua

Để rõ hơn về bức tranh di cư giữa các vùng, viê ̣c xem xét riêng tình hình nhập cư

và xuất cư của các vùng thay đổi sau 10 năm như sau:

Trang 38

* Về nhập cư, ba vùng, Trung du và miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Duyên

hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long, có tỷ suất nhập cư gần như không thay đổi hoặc thay đổi không đáng kể trong giai đoạn 1999-2009 Ba vùng còn lại có sự thay đổi trái chiều Trong khi tỷ suất nhập cư của Tây Nguyên giảm từ 93 xuống 36 người nhập cư/1000 dân, con số đó của Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng tăng, tương ứng là từ 63 lên 127 người nhập cư/1000 dân và từ 11 lên 16 người nhập cư/1000 dân

* Về xuất cư, trong thời kỳ 1999-2009, hai vùng, Đồng bằng sông Hồng và Đông

Nam Bộ, có tỷ suất xuất cư giảm nhẹ, tương ứng từ 21 xuống 18 người xuất cư/1000 dân

và từ 14 xuống 10 người xuất cư/1000 dân Bốn vùng còn lại có tỷ suất xuất cư tăng từ 1,5 đến hơn 3 lần Con số đó tăng mạnh nhất là thuộc về Đồng bằng sông Cửu Long (từ

14 lên 46 người xuất cư/1000 dân), tiếp sau là của Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (từ 26 lên 45 người xuất cư/1000 dân) Mức tăng thấp nhất của tỷ suất xuất cư là xấp xỉ 1,5 lần thuộc về Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên

Biểu 3.5 cho chúng ta thấy rõ hơn về xu hướng di cư của người dân giữa các vùng trong 5 năm trước thời điểm Tổng điều tra năm 2009 Như đã đề cập ở trên, trong 5 năm trước Tổng điều tra 2009, chỉ có Đông Nam Bộ và Tây Nguyên có nhập cư thuần Cũng như đã đề cập ở trên, số liệu của Biểu 3.6 cho thấy những người chuyển đi khỏi vùng mình đang cư trú trong cả nước thường chọn nơi đến là Đông Nam Bộ, ngoại trừ những người sống ở Trung du và miền núi phía Bắc Gần ba phần năm (160 nghìn người, chiếm 59%) những người xuất cư của vùng này chọn nơi đến là Đồng bằng sông Hồng, nơi có thành phố Hà Nội; chỉ có hơn một phần tư (73 nghìn người, chiếm 27%) chọn nơi đến là Đông Nam Bộ Hầu hết những người chuyển đi của các vùng khác đều ưa thích đến Đông Nam Bộ, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long Đa số những người chuyển đi của vùng này đến Đông Nam Bộ (97%) Trong 5 năm trước Tổng điều tra dân số 2009, có tới gần 1,6 triệu người trong cả nước chuyển đến vùng Đông Nam Bộ Số lượng người chuyển đến Đông Nam Bộ lớn nhất là từ Đồng bằng sông Cửu Long (713 nghìn người), tiếp sau là từ Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung (570 nghìn người) và Đồng bằng sông Hồng (195 nghìn người)

Trang 39

Ba ̉ng 3 5: Số người nhập cư, số người xuất cư và tỷ suất di cư trong 5 năm trước điều

tra chia theo các vùng kinh tế - xã hội, 1999 và 2009

Vu ̀ ng

kinh tế

- xa ̃ hô ̣i

Số ngươ ̀ i từ 5 tuổi

trơ ̉ lên (Nghìn

người)

Số ngươ ̀ i nhâ ̣p

cư (Nghìn người)

Số ngươ ̀ i xuất

cư (Nghìn người)

Số ngươ ̀ i di

cư thuần (+/-) (Nghìn người)

Ty ̉ suất nhâ ̣p cư 5 năm trước điều tra (‰)

Ty ̉ suất xuất

cư 5 năm trước điều tra (‰)

Ty ̉ suất di

cư thuần 5 năm trước điều tra (‰)

1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009 1999 2009

Toàn

quốc 69 059 78 511 1 334 2 361 1 334 2 361 0 0 19 30 19 30 0 0 Trung

Nam Bộ 9 257 12 906 580 1635 125 125 455 1510 63 127 14 10 49 117 Đồng

(Nguồ n: Tổng điề u tra dân số , 2009)

Đối với 4 vùng xuất cư (di cư thuần có giá trị âm), Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long có số lượng lớn nhất, tương ứng là 665 và 664 nghìn người Con số đó của Đồng bằng sông Hồng là thấp nhất Từ những kết quả đề cập

ở trên có thể kết luận rằng, lý do chủ yếu làm cho người di cư lựa chọn vùng chuyển đến

Trang 40

là việc làm Lý do quan trọng tiếp theo là khoảng cách di chuyển, đa số người di cư thích chuyển đến những vùng lân cận Điều này cũng dễ hiểu với người Việt Nam, khi di cư vẫn muốn có khoảng cách gần với quê hương, người thân Cụ thể là, hầu hết người di cư

(Nguô ̀n: Tổng điều tra dân số, 2009)

Theo số liê ̣u Điều tra biến đô ̣ng dân số năm 2012, cho thấy số lượng người di cư giữa các vùng năm 2012 chỉ bằng 65% số lượng người di cư giữa các vùng năm 2011 (từ

Ngày đăng: 12/01/2022, 23:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình lý thuyết đã nhận diện các yếu tố ta ́c đô ̣ng đến ý đi ̣nh về quê của những người lao - Ý định quay về quê nhà của người lao động nhập cư vào thành phố hồ chí minh
Hình l ý thuyết đã nhận diện các yếu tố ta ́c đô ̣ng đến ý đi ̣nh về quê của những người lao (Trang 52)
Bảng 4.8 cho thấy  KMO = 0.708,  kiểm  định Bartlett có ý nghĩa thống kê; Sig =  0.000 < 0.05 cho biết các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và phương  sai trích 57.170% cho biết 57.170% sự biến thiên của các biến quan sát được gi - Ý định quay về quê nhà của người lao động nhập cư vào thành phố hồ chí minh
Bảng 4.8 cho thấy KMO = 0.708, kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê; Sig = 0.000 < 0.05 cho biết các biến quan sát có tương quan với nhau trong tổng thể và phương sai trích 57.170% cho biết 57.170% sự biến thiên của các biến quan sát được gi (Trang 66)
Ba ̉ng 4. 14: Bảng phân loại (Classification Table a ) - Ý định quay về quê nhà của người lao động nhập cư vào thành phố hồ chí minh
a ̉ng 4. 14: Bảng phân loại (Classification Table a ) (Trang 69)
Bảng phân loại (Classification Table a ) - Ý định quay về quê nhà của người lao động nhập cư vào thành phố hồ chí minh
Bảng ph ân loại (Classification Table a ) (Trang 79)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm