TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ- ĐỊA CHẤT__***__ TIỂU LUẬN MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI Chủ đề: Trình bày hiện trạng tài nguyên đất tại Tây Ninh.. Phân tích, đánh giá các tác động của gia tăng dân số lên t
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ- ĐỊA CHẤT
***
TIỂU LUẬN
MÔI TRƯỜNG VÀ CON NGƯỜI
Chủ đề:
Trình bày hiện trạng tài nguyên đất tại Tây Ninh Phân tích, đánh giá các tác động của gia tăng dân số lên tài nguyên đó.
Sinh viên; Nguyễn Ngọc Hoan
Mã sinh viên: 1721030068 Lớp: DCTDTD62
Hà Nội, ngày 23, tháng 10, năm 2021
Trang 2Mục Lục
Contents
Trang 3Lời nói đầu
Đất là một trong ba yếu tố tổng hợp của môi trường sống Cùng với nước và không khí, đất có tầm quan trọng đặc biệt xem xét dưới góc độ môi trường Đồng thời đây là một tư liệu sản xuất quan trọng bậc nhất Đất không
chỉ là nguồn tài nguyên mà còn là nền tảng không gian để phân bổ dân cư và các hoạt động kinh tế-xã hội, quốc phòng và an ninh Điều 54 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Đất đai là tài nguyên đặc biệt của Quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước, được quản lý theo pháp luật”
Trang 4Phần nội dung
Chương 1: Điều kiện địa lý tự nhiên
I Thông tin khái quát
1 Điều kiện địa lý, tự nhiên
a Vị trí địa lý: Tây Ninh là một tinh thuộc vùng Đông Nam Bộ, Việt
Nam, Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm
Pênh, vương quốc Campuchia và là một trong những tinh nằm trong vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam Tinh có thành phố Tây Ninh nằm cách Thành phố Hồ Chí
Minh khoảng 100 km theo đường Quốc lộ 22, cách biên giới Campuchia 40
km về
phía Tây Bắc Vùng đất Tây Ninh từ thời xưa vốn là một vùng đất thuộc Thủy
Trang 5Chân Lạp, với tên gọi là Romdum Ray, có nghĩa là “Chuông Voi” vì nơi đây chỉ có
rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi, beo, rắn, cư ngụ Những người thổ dân
ở đây sống rất thiếu thốn, cơ cực cho đến khi người Việt đến khai hoang thì vùng
đất này mới trở nên phát triển
Trang 6b Địa hình: Tây Ninh nối cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông
Cửu Long, vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của
vùng đồng bằng Trên địa bàn vùng cao phía Bắc nồi lên núi Bà Đen cao nhất Nam
Bộ (986 m) Nhìn chung, địa hình Tây Ninh tương đối bằng phẳng, rất thuận lợi
cho phát triển toàn diện nông nghiệp, công nghiệp và xây dựng
c Dân só Tính đến năm 2014, dân số toàn tỉnh Tây Ninh đạt gần 1.104,2
nghìn người, mật độ dân số đạt 274 người km Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009,
toàn tỉnh Tây Ninh có 9 tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Đạo Cao Đài có 379.752
người, Phật giáo có 95.674 người Công giáo có 32.682 người, các tôn giáo khác
như Hồi giáo 3.337 người, Tin Lành có 684 người, Phật giáo hòa hảo có 236 người,
Minh Sư Đạo có 4 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 2 người,
Trang 7có 1 người Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng
4 năm 2009, toàn tỉnh Tây Ninh có đủ 29 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống
Trong đó dân tộc Kinh có 1.050.376 người, người Khmer có 7.578 người, người
Chăm có 3.250 người, người Xtiêng có 1.654 người, người Hoa có 2.495 người,
còn lại là những dân tộc khác như Mường Thái, Tày
Trang 8Chương 2 : Hiện trạng tài nguyên đât
I.Tài nguyên đât là gì?
Tài nguyên đất chính là một dạng tài nguyên vật liệu của con người Nguồn tài nguyên này thường được hiểu theo 2 nghĩa khác nhau Một là tài nguyên đất đai phục vụ nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng của con người Hai là thổ nhưỡng, dùng làm mặt bằng sản xuất trong nông nghiệp, lâm nghiệp
II.Cơ câu tài nguyên đât ở Tây Ninh
Tây Ninh có 05 loại đất chính với tổng diện tích 402.817 ha; trong đó:
- Nhóm đất xám có khoảng 344.928 ha, chiếm tỷ trọng lớn nhất khoảng 85,63% diện tích đất tự nhiên, phân bố ở địa hình cao; đặc điểm chung là thành phần cơ giới nhẹ, dễ thoát nước, phù hợp với nhiều loại cây trồng
- Nhóm đất phèn: Tổng diện tích đất phèn có khoảng: 25.359 ha, chiếm 6,3% diện tích đất tự nhiên, phân bố chủ yếu ven sông Vàm Cỏ Đông
Trang 9- Nhóm đất đỏ vàng: Nhóm đất này chiếm tỷ trọng không lớn, khoảng 6.850
ha, chiếm 1,7% tổng diện tích tự nhiên được phân bố vùng đồi núi ở huyện Tân
Biên, Tân Châu, Loại đất này thích hợp cho việc trồng rừng, cây công
nghiệp
- Nhóm đất phù sa: Đất phù sa ở Tây Ninh có khoảng 1.775 ha, chiếm 0.44% diện tích đất tự nhiên, được phân bố ở các huyện Trảng Bàng, Dương Minh Châu,
Châu Thành và Gò Dầu Đất phù sa thích hợp với trồng lúa nước và rau màu
- Nhóm đất than bùn chôn vùi: Đất này có diện tích 1.072 ha, chiếm 0,27% diện tích tự nhiên nằm xen các vùng đất phèn men theo hạ lưu trũng của sông Vàm
Cỏ thuộc các huyện Châu Thành, Gò Dầu, Bến Cầu, có thể trồng lúa và rau màu
khác
III Hiện trạng tài nguyên đất ở Tây Ninh
Sau khi tìm hiểu tài nguyên đất là gì và cơ cấu đất tại Tây Ninh, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về hiện trạng tài nguyên đất tại Tây Ninh hiện nay
Diện tích đất tự nhiên của Tây Ninh 4.032,61 km2
Trang 10Cảnh báo tình trạng suy thoái đất ở Tây Ninh
ự gia tăng các loại chất thải công, nông nghiệp cộng với những tác động từ tự nhiên khiến tài nguyên đất ở Đông Nam Bộ nói chung và Tây Ninh nói riêng ngày càng suy thoái mạnh
Trang 11Đất bị suy thoái biểu hiện rõ cả về tính chất vật lý và thành phần hóa học Dung trọng đất bị thay đổi (theo chiều hướng tăng lên), độ xốp của tầng đất canh
tác giảm; khả năng giữ nước, giữ phân kém; màu sắc đất xám bạc và độ chua
tăng
Theo nghiên cứu của GS.TSKH Lê Huy Bá và Th.S Võ Đình Long (Viện Khoa học Công nghệ và Quản lý môi trường), tài nguyên đất ở Tây Ninh chủ yếu là loại đất cát và đất cát pha thịt, hàm lượng cát trong đất rất cao, có nơi lên đến 96,18%, do vậy, khả năng xói mòn, bạc màu hóa đất là rất lớn và hầu như trên toàn bộ diện tích
Bên cạnh đó, sự xáo trộn cấu trúc đất do canh tác không hợp lý cũng góp phần làm ảnh hưởng tới chất lượng của đất, tạo điều kiện cho các quá trình phèn hóa, axit hóa, gây bất lợi cho sản xuất nông nghiệp Đó là chưa kể tới những tác động từ quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, làm sản sinh ra nhiều loại hóa chất độc hại
và khó phân hủy
Tài nguyên đất ở Tây Ninh chủ yếu là đất xám/phù sa cổ Khi kết hợp với lượng mưa lớn, khả năng xói mòn, rửa trôi diễn ra mạnh mẽ và đất trở nên đất bạc màu Một số khu vực có tiềm năng xói mòn mạnh như: ấp Phước Hậu, xã Gia Bình, huyện Trảng Bàng; ấp Bình Linh, xã Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu; ấp Tân Xuân, xã Mỏ Công, huyện Tân Biên; xã Ninh Thạnh, thị xã Tây Ninh; ấp Trường Xuân, xã Trường Hòa, huyện Hòa Thành
Trang 12Chương 3: Gia tăng dân số và các tác động lên tài
nguyên đất Các giải pháp giảm thiểu tác động xấu.
I.Gia tăng dân số ở Tây Ninh
Theo thống kê về dân số năm 2020, dân số tỉnh Tây Ninh ước đạt 1.178.329 người Trong đó, khu vực thành thị 381.l06 người (chiếm 32,3%, tăng 82,96%), dân số nông thôn 797.223 người (chiếm 67,7%, giảm 17,75% so với năm 2019), do các xã được nâng lên phường
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên ước 724.609 người, chiếm 61,5% tổng dân
số, tăng 2,3% so năm trước Số lao động đang làm việc 712.324 người cũng chiếm 60,5%, tăng 2,2% so với năm 2019
Đối chiếu kết quả tổng điều tra dân số tỉnh Tây Ninh (thời điểm 0 giờ ngày
1.4.2019), toàn tỉnh có 1.169.165 người Trong đó, dân số nam 584.180 người (chiếm 49,97%), dân số nữ 584.985 người (chiếm 50,03%) Địa phương có dân số đông nhất là Trảng Bàng với 178.148 người, thấp nhất là Bến Cầu với 69.849 người Dân số khu vực thành thị 207.186 người (chiếm 17,72%), nông thôn có 961.979 người (chiếm 82,28%)
Như vậy, sau hơn 1 năm (tính từ tháng 4.2019 đến tháng 12.2020), dân số tỉnh Tây Ninh tăng thêm 9.164 người, tốc độ tăng dân số không cao Theo thống kê, bình quân mỗi năm, dân số tỉnh chỉ tăng 0,92%, thấp so với cả nước (1,14%/năm)
Trang 13Tây Ninh hiện có 9 đơn vị cấp huyện (gồm 1 thành phố, 2 thị xã, 6 huyện), trong đó
có 2 thị xã mới (Hòa Thành và Trảng Bàng); 94 đơn vị hành chính cấp xã (giảm 1xã
so với năm 2019, do sáp nhập 2 xã ở thị xã Trảng Bàng), trong đó có 17 phường (10 phường được nâng lên từ xã), 6 thị trấn, 71 xã
Toàn tỉnh hiện có 31 dân tộc cùng sinh sống Trong đó, dân tộc Kinh chiếm
98,31%, các dân tộc khác 1,69%
II Các tác động của gia tăng dân số lên tài nguyên đất
a Dân số tác động đến điều kiện tự nhiên và gây áp lực tới đất đai, môi trường Bản thân con người là sản phẩm của tự nhiên, hơn thế còn được coi như một
cơ thể phức tạp nhất mà giới tự nhiên sinh ra được Xét theo tiến trình phát triển, xã hội loài người cũng là sự phát triển lâu dài của giới tự nhiên, là một hình thức tồn tại đặc biệt của giới tự nhiên Từ xa xưa, quan niệm về mối quan hệ giữa con người với tự nhiên đã bị phân thành hai khuynh hướng Một khuynh hướng cho rằng con người không đối lập với tự nhiên mà luôn được coi là một thành tố, một bộ phận cấu thành giới tự nhiên, do đó, con người cần phải sống hoà mình với tự nhiên (theo quan điểm phương Đông) Còn khuynh khác trái ngược lại đã coi con người
là thước đo của mọi vật, con người phải chinh phục, thống trị giới tự nhiên (theo quan điểm phương Tây) Ở cả phương Đông và phương Tây, quan hệ con người với môi trường tự nhiên đã nảy sinh nhiều mâu thuẫn khác nhau
b Dân số tăng nhanh gây áp lực tới đất sản xuất nông nghiệp
Trang 14Đó là sự thu hẹp do quá trình biến đất sản xuất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp Mặt khác, do dân số tăng nhanh cần phải tăng thêm số lượng lương thực, người ta phải khai thác tiềm năng cuả đất một cách triệt để, trong khi đó các biện pháp bảo vệ và tăng độ phì cho đất không được chú trọng dẫn đến hậu quả môitrường sinh thái bị phá vỡ, hàng loạt diện tích đất bị thoái hoá và ước tính có tới 15% tổng diện tích đất trên trái đất bị thoái hoá do những hành động bất cẩn của con người gây ra Đối với nước ta (năm 2005), tổng diện tích tự nhiên
33.069.348,12 ha Trong đó, đất sản xuất nông nghiệp 9.415.568,0 ha, với dân số 83,121 triệu người, bình quân diện tích đất sản xuất nông nghiệp trên đầu người là 1.132,75 m2/ người, giảm so với năm 2000 là 1.203,0 m2/ người và như vậy quá trình phát triển tăng diện tích đất sản xuất nông nghiệp chậm hơn so với sự gia tăng dân số hàng năm
c Dân số tăng nhanh còn là một nguyên nhân làm mất đi tính đa dạng của tài nguyên đất
Những bộ phận, yếu tố cấu thành của tự nhiên luôn tồn tại trong một chỉnh thể thống nhất, có sự tương tác, gắn kết chặt chẽ với nhau Nhưng trong quá trình sinh sống, do nhu cầu và khả năng của mình, con người chỉ tập trung khai thác ở một số khu vực, một số bộ phận của tự nhiên Sự biến động bất thường này làm ảnh hưởng đến sự thống nhất của toàn bộ giới tự nhiên và từ đó dẫn tới sự mất cân bằng sinh thái, đe doạ đến sự sinh tồn của loài người
Như vậy, thông qua hoạt động sống của mình, con người đã phá vỡ sự thống nhất của mối quan hệ con người và tự nhiên Sự gia tăng của dân số đã gây nên hàng loạt những vấn đề về môi trường và con người đang phải trả giá cho chính những hành động của mình Cho nên cần có các giải pháp quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, đất đai và môi trường
Trang 15Chương 4: Kêt luận và kiên nghị
I.Kêt luận
Muốn khai thác và sử dụng đất hợp lý, cần phải đánh giá hiện trạng quỹ đất, mức
độ và các dạng suy thoái, từ đó xây dựng phương án, lựa chọn mô hình hợp lý để phục hồi sức sống cho đất và phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững
Ngoài ra, cần tiến hành cải tạo đất, tăng tỷ lệ thấm hút nước, tạo độ che phủ trên bề mặt đất; thực hiện chống xói mòn đất bằng cách kết hợp ba biện pháp lâm nghiệp, nông nghiệp, hóa học kết hợp sinh học
II.Kiên nghị giải pháp
Xây dựng, hoàn thiện dự án Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi nhằm hạn chế, khắc phục các hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Bảo vệ môi trường hiện hành và các Luật có liên quan, kịp thời điều chỉnh các vấn đề quản lý mới phát sinh Rà soát lại toàn bộ hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, tiến hành sửa đổi các quy chuẩn bảo đảm tiệm cận với quy chuẩn của các nước tiên tiến, trên cơ sở
đó xem xét ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương về môi trường, đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật của địa phương phải cao hơn quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với toàn bộ các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ, các khu xử lý rác thải, bãi chôn lấp, các nguồn thải lớn có xả thải ra các lưu vực sông và các sông nhánh; xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, kể cả biện pháp đình chỉ hoạt động hoặc đóng cửa
Trang 16Tiến hành phân vùng để áp dụng công nghệ xử lý tích hợp đối với từng nguồn nước Với những nguồn nước đã và đang bị ô nhiễm, sớm nghiên cứu, áp dụng công nghệ cải tạo phù hợp Bên cạnh đó, phải chú trọng công tác xử lý tại nguồn thông qua việc triển khai thực hiện tốt quy định về hoạt động thoát nước và xử lý nước thải tại các đô thị, các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu dân cư nông thôn tập trung
Tăng cường nghiên cứu, áp dụng các công nghệ, biện pháp xử lý chất thải rắn tiên tiến Song song với đó cần chú trọng nâng cao ý thức cho người dân về phân loại chất thải rắn tại nguồn, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn
Không cho phép các dự án đầu tư chưa xây dựng hệ thống xử lý nước thải, biện pháp quản lý chất thải rắn đảm bảo yêu cầu về bảo vệ môi trườngđi vào hoạt động; các khu, cụm công nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có xả thải ra nguồn nước phải đảm bảo xử lý nước thải theo quy định Kiểm soát chặt chẽ việc thẩm định, cấp phép xả nước thải vào nguồn nước
Thực hiện lộ trình đưa các cơ sở sản xuất trong làng nghề di dời vào các cụm công nghiệp để có thể tập trung thu gom và xử lý chất thải Có biện pháp kiểm soát chặt chẽ nước thải, chất thải trong sản xuất nông nghiệp để giảm thiểu ô nhiễm nguồn tại khu vực nông thôn