Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng xử lý chất hữu cơ của trùn Quế, và cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định, và đó cũng là đề tài mà nhóm của chúng em sẽ
Trang 1KHOA MÔI TRƯỜNG VÀ TÀI NGUYÊN
Nguyễn Thị Thanh Tâm
Lê Thị Thùy Loan Phạm Hữu Thái Sơn Nguyễn Trương Gia Hân Huỳnh Minh Tuấn
Lê Nguyễn Đăng Khoa
Lê Hòa Phát
Trang 2MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 3
1.1 Đặt vấn đề 3
1.2 Mục tiêu đề tài 4
1.3 Nội dung đề tài 4
1.5 Phương pháp thực hiệ n 4
1.6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.7 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài 5
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 5
2.1 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TRÙN QUỀ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM5 2.2 SƠ LƯỢC VỀ TRÙN QUỀ 6
2.3 ĐẶC TÍNH SINH HỌC, CẤU TẠO, SINH LÝ CỦA TRÙN QUẾ 7
2.3.1 Đặc tính sinh học 7
2.3.2 Đặc tính sinh lý 7
2.3.3 Tập tính ăn của trùn quế 7
2.3.4 Sinh s ản và phát triể n 7
2.3.5 Thức ăn của trùn 8
2.4 KỸ THUẬT VÀ MÔ HÌNH NUÔI TRÙN QUẾ 8
2.4.1 Kĩ thuật nuôi trùn quế 8
2.4.2 Các mô hình nuôi trùn 11
2.5 MỘT SỐ ỨNG DỤNG QUAN TRỌNG KHÁC 13
2.5.1 Xử lý chất thải rắn 13
2.5.2 Một số ứng dụng khác 14
CHƯƠNG 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
3.1 Thời gian và địa điể m tiến hành thí nghiệ m 16
3.2 Quy trình thực nghiệ m 16
3.4 Các chỉ tiêu cần theo dõi 18
3.4 Kết quả sơ bộ 18
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ THU HOẠCH SAU 1 THÁNG 18
4.1 Lượng thức ăn trùn xử lý 19
4.2 Kết quả thu trùn 19
4.2 Đề xuất quy trình xử lý 20
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 22
1 Kết luận 22
2 Kiế n nghị 23
TÀI LIỆU THAM KHẢO 24
Trang 3CHƯƠNG 1 MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Sự phát triển kinh tế cùng với sự gia tăng dân số không ngừng khiến rácthải tại các thành phố lớn ở Việt Nam tăng nhanh hơn so với các nước khác trênThế giới Theo báo MTX (Môi trường xanh), tính đến tháng 5/2015 thì trungbình mỗi ngày Việt Nam phát sinh lượng rác thải là 12 triệu tấn/ngày Dự kiếnđến năm 2020, lượng rác thải phát sinh là 20 triệu tấn/ngày Phần lớn lượng rácthải phát sinh chủ yếu tại các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Thành Phố
Hồ Chí Minh, Đặc biệt tại thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7000 tấnrác thải sinh hoạt, mỗi năm cần tới 235 tỉ đồng để xử lý Bên cạnh đó, việc quản
lý và xử lý chất thải rắn ở nước ta còn lạc hậu, chủ yếu là chôn lắp
Việc quản lý và xử lý rác thải chưa hợp lý là một trong những nguyênnhân chính gây ô nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm do nước rỉ rác, gây ônhiễm không khí bởi mùi hôi Các bãi rác không hợp vệ sinh là môi trườngthuận lợi cho chuột, ruồi, muỗi và các vi sinh vật gây bệnh sinh sản và pháttriển Rác thải không chỉ ảnh hưởng đến môi trường, mĩ quan mà còn ảnhhưởng trực tiếp đến sức khỏe của con người
Tuy nhiên, khoảng 1/3 tổng lượng rác thải sinh hoạt là chất hữu cơ có thểtái chế một cách dễ dàng Chất thải hữu cơ là một loại nguyên liệu thô có giá trị
có thể được chế biến thành phân ủ có chất lượng tốt nhất, đưa chất hữu cơ thiếtyếu vào đất trồng Phân ủ đem lại sự phì nhiêu cho đất, cải tạo cấu trúc của đất,giúp giữ nước đồng thời làm cho đất tiêu úng tốt Nếu như loại chất thải này bịchôn lấp thì tiềm năng của chúng bị mất đi và các chất gây ô nhiễm này sẽ pháttán vào không khí, nguồn nước, gây ô nhiễm môi trường Dùng trùn Quế để ủphân là một phương pháp ủ có thể dễ dàng được sử dụng ngay tại nhà
Xử lý rác thải hữu cơ bằng cách nuôi trùn là một công nghệ đơn giản, khôngđòi hỏi trình độ vận hành, quản lý hay trình độ kỹ thuật cao cũng như ít tốn chi phí
so với những phương pháp xử lý khác, lại thân thiện với môi trường
Rác thải hữu cơ có thời gian phân hủy nhanh, công nghê này có thể làm giảm thời gian thu gom, hạn chế sự phát tán ô nhiễm vào không khí, và tiết kiệm chiphí thu gom, phân loại rác Ở Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng xử lý chất hữu cơ của trùn Quế, và cũng đã đạt được một số thành tựu nhất định, và đó cũng là đề tài mà nhóm của chúng em sẽ thực hiện
và báo cáo, đề tài “Kỹ thuật xử lý chất thải rắn hữu cơ bằng trùn Quế”
Trang 41.2 Mục tiêu đề tài
Nghiên cứu khả năng tiêu thụ cải thảo, chuối và phân bò của trùn quế.Đánh giá thành phần dinh dưỡng cơ bản của phân trùn sau thu hoạch.Tốc độ sinh trưởng của trùn
1.3 Nội dung đề tài
Lượng thức ăn trên mỗi nghiệm thức trong quá trình nuôi
Theo dõi khối lượng trùn để đánh giá tốc độ sinh trưởng
Theo dõi các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của trùn:nhiệt độ, pH, độ ẩm, các sinh vật
Lượng thức ăn trên mỗi nghiệm thức trong quá trình nuôi
Theo dõi khối lượng trùn để đánh giá tốc độ sinh trưởng
Theo dõi các điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sự phát triển của trùn:nhiệt độ, pH, độ ẩm, các sinh vật
Cân lượng thức ăn mỗi nghiệm thức trong suốt quá trình nuôi
Đánh giá cảm quan độ ẩm môi trường nuôi, các sinh vật ảnh hưởng đến đời sống môi trường
Trang 51.6 Ý nghĩa thực tiễn và khoa học của đề tài
Ý nghĩa thực tiễn
Xử lý được nguồn phế phẩm nông sản tránh gây ô nhiễm môi trường,tận dụng được nguồn phân cung cấp cho nông nghiệp, lượng trùn khai thácđược là nguồn thức ăn giàu chất dinh dưỡng cho vật nuôi: gia cầm, thủy sản.Đây là mô hình chăn nuôi mới dễ áp dụng thực tế đem lại nguồn thunhập ổn định cho người dân
Ý nghĩa khoa học
Hướng đi mới giúp xử lý nguồn phế phẩm nông nghiệp tại các vùngnông nghiệp
Hướng xử lý chất thải thân thiện với môi trường
Điều kiện để mở rộng nghiên cứu với các nguồn phế phẩm khác
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ TRÙN QUỀ TRÊN
THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Chăn nuôi trùn quế công nghiệp khai sinh từ nước Mỹ và phát triển nhấtcũng ở nước Mỹ Chính Hugh Carter, là người đầu tiên nuôi trùn quế vàonăm 1947 trong một chiếc quan tài cũ kỹ (khó mà tin nhưng đó là sự thật).Sau 25 năm, Carter có thể cung cấp trùn cho tất cả các cửa hàng câu cá ởnước Mỹ Cuối năm 1976 doanh thu của hoạt động sản xuất kỳ lạ này vượt quácon số 4,5 tỷ Franc chỉ ở California
Nghề nuôi trùn đã nhanh chống chinh phục nhiều nhà chăn nuôi trên thếgiới Đến thập niên 80 các nhà khoa học Việt Nam mới thật sự nghiên cứuloài động vật quen thuộc này
Nhật Bản là nước tiêu thụ trùn quế lớn, dùng trùn quế làm nguyên liệu chếbiến mỹ phẩm, thức ăn cho thủy hải sản, gia súc và gia cầm Đặc biệt là dùngthịt trùn làm bánh bích quy, dinh dưỡng cho người, rất được ưa chuộng.Một số nước khác:
Ở Italia: người ta dùng thịt trùn để làm pate
Trang 6Đã xây dựng được nhiều mô hình nuôi trùn khác nhau ở miền bắc vàvùng Tây Nguyên, như nuôi vịt, cá kết hợp trùn quế ở Hưng Yên; trồng cây
ăn quả, nuôi trùn quế và nuôi cá ở Hà Nội; nuôi cá tầm kết hợp nuôi trùn quế
Trùn quế mang từ nước ngoài về, đến nay đã được thuần dưỡng vàthích hợp với điều kiện sống ở Việt Nam
2.2 SƠ LƯỢC VỀ TRÙN QUỀ
Trùn quế có tên khoa học là Perionyx excavatus, chi Pheretima, họ
Megascocidae, ngành ruột khoang
Trùn quế là một trong những giống trùn đã được thuần hóa, nhập nội vàđưa vào nuôi công nghiệp ở quy mô vừa và nhỏ, thường xuất hiện ở vùngnhiệt đới
Trang 72.3 ĐẶC TÍNH SINH HỌC, CẤU TẠO, SINH LÝ CỦA TRÙN QUẾ 2.3.1 Đặc tính sinh học
Trùn có kích thước tương đối nhỏ, độ dài vào khoảng 10-15 cm, thânhơi dẹt, bề ngang có thể đạt đến 0,1- 0,2 cm, có màu từ đỏ đến màu mậnchính, màu nhạt dần về phía bụng, hai đầu hơi nhọn Cơ thể trùn có hình thondài nối với nhau bằng nhiều đốt, trên mỗi đốt có một vành tơ
Lượng thức ăn tương đương với trọng lượng cơ thể chúng Chúng thải
ra phân rất giàu chất dinh dưỡng, những vi sinh vật cộng sinh có ích trong hệthống tiêu hóa này theo phân ra khỏi cơ thể trùn nhưng vẫn còn hoạt động ởmàng dinh dưỡng trong một khoảng thời gian dài Đây là một trong nhữngnguyên nhân làm cho phân trùn có nhiều chất hữu cơ và có khả năng tái tạođất tốt hơn các loại phân khác
2.3.2 Đặc tính sinh lý
Trùn quế rất nhạy cảm, chúng phản ứng mạnh với ánh sáng, nhiệt độ vàbiên độ nhiệt cao, độ mặn và điều kiện khô hạn Nhiệt độ thích hợp nhất vớitrùn Quế nằm trong khoảng từ 20 – 30oC Chúng thích hợp nhất với pH vàokhỏang 7.0 – 7.5, nhưng chúng có khả năng chịu đựng được pH khá rộng, từ
4 – 9
Trùn quế thích nghi với thức ăn khá rộng, chúng ăn bất kỳ chất thải hữu
cơ nào có thể phân hủy trong tự nhiên (rác đang phân hủy, phân gia súc, giacầm…).`
2.3.3 Tập tính ăn của trùn quế
Trong tự nhiên trùn có thể sử dụng rất nhiều chất hữu cơ để làm thức ăn.Trong điều kiện không thuận lợi, chúng vẫn có thể lấy dinh dưỡng từ trongđất làm thức ăn Evans Guild (1948) nghiên cứu ảnh hưởng của thức ăn trên
sự đẻ kén của trùn và thấy rằng trùn ăn thức ăn có phân động vật sẽ có nhiềukén hơn chỉ có chất hữu cơ và thực vật
2.3.4 Sinh sản và phát triển
Trùn quế sinh sản rất nhanh trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tương đối ổnđịnh và có độ ẩm cao như điều kiện của khu vực phía Nam Theo nhiều tài liệu,
Trang 8từ một cặp ban đầu trong điều kiện sống thích hợp có thể tạo ra từ 1.000 –1.500 cá thể trong một năm.
Trùn quế là sinh vật lưỡng tính, chúng có đai và các lỗ sinh dục nằm ởphía đầu của cơ thể, có thể giao phối chéo với nhau để hình thành kén ở mỗicon, kén được hình thành ở đai sinh dục, trong mỗi kén mang từ 1 – 20trứng, kén Trùn di chuyển dần về phía đầu và hơi ra đất Mỗi kén có thể nở từ
2 – 10 con Khoảng từ 15 –30 ngày sau, chúng trưởng thành và bắt đầu xuấthiện đai sinh dục
2.3.5 Thức ăn của trùn
Thức ăn của trùn chủ yếu là các chất hữu cơ không có độc tố, có độ pHthích hợp, có độ muối khoáng cao và đã được VSV phân giải như các loạiphân gia súc, gia cầm, bã của các nhà máy chế biến thực phẩm, chế biến gỗ,nhà máy làm giấy, các loại phế thải của nông sản, các cành lá mục, rau cải bỏ,
…nhưng lá các loại cây gia vị ( rau húng, rau quế, rau đắng…), lá các loạicây tinh dầu ( như lá chanh, lá cam, lá tràm bông vàng) điều có thể giết trùnhoặc làm trùn bỏ trốn
Đặc biệt trùn rất thích hợp với thức ăn ngọt và các vị tanh Do vậy khinuôi trùn phải chú ý đến thức ăn Cho ăn các loại hoa quả dập nát và tướinước tôm cá lên thức ăn sẽ làm tăng tính thèm ăn của trùn
Bùn cống rãnh được phơi khô là một trong những thức ăn có thể tốt nhấtcho việc vỗ béo trùn Bùn cống rãnh nên được phơi khô và đem ủ ít nhất mộtnăm trước khi sử dụng để phân giải những chất độc có trong bùn cống rãnh
2.4 KỸ THUẬT VÀ MÔ HÌNH NUÔI TRÙN QUẾ
2.4.1 Kĩ thuật nuôi trùn quế
Yêu cầu kỹ thuật của việc nuôi trùn
Luống trại nuôi trùn: Luống hoặc trại nuôi phải đặt nơi thoáng mát, không
bị ngập úng và không nên bị ánh sáng chiếu trực tiếp, có nguồn nước tướithường xuyên, trung tính và sạch, cần thoát nhiệt, thoát nước tốt Bảo đảm các
Trang 9điều kiện về nhiệt độ và độ ẩm Nên có biện pháp ngăn ngừa các thiên địch(kiến, cóc, nhái, chuột).
Chất nền: Chất nền có cơ cấu xốp, kết cấu tương đối thô, có khả năng giữ
ẩm tốt, không gây phản ứng nhiệt, pH không nằm ngoài khoảng chịu đựng củaTrùn, có thể là môi trường sống tạm của Trùn khi gặp điều kiện bất lợi
Phương pháp làm nền
Trước hết chúng ta cho vào ô nuôi một lượng phân gia súc ủ kỹ với rơm rạhay mùn cưa làm chất nền Chất nền là nơi tạm thời hay lâu dài để trùn trú ẩn,đồng thời làm thức ăn ban đầu cho trùn Chất nền cần tơi xốp, giữ ẩm cao,không chua, không độc tố Chúng ta có thể dùng phân bò, heo, gà, vịt, dê, thỏ…
và các phụ phế phẩm của thực vật như rơm rạ, cây đậu, cỏ, lá cây…(cần dùngnhững cây không chứa tinh dầu và không có độc tố) Sau khi chọn được các loạiphế phẩm kể trên, cần ủ cho hoai trước khi cho vào ô nuôi làm nền
Tỷ lệ ủ như sau: 70% phân bò + 30% phụ phẩm thực vật hoặc 70% phânheo + 30% phụ phẩm thực vật hay 60% phân gà + 40% phụ phẩm thực vật.Các thứ kể trên cần xử lý chế phẩm vi sinh EM 1% phun đều vào đống để ủthành từng lớp giúp cho phân mau hoai và diệt mầm bệnh, đống phân đượcđậy bằng tấm nilon hay tấm bạt Thời gian ủ từ 10 – 15 ngày trở lên
Phương pháp làm nền: Luân phiên nhau từ dưới lên, cứ xếp một lớp thực vậtdày khoảng 20cm thì đến một lớp phân gia súc dày 10cm, vừa xếp vừa tưới nướcgiữ độ ẩm 50 – 60% kết hợp với chế phẩm vi sinh EM, khi hố đầy dùng nilon phủkín, dùng nọc tre nhọn có tiết diện 5,8 – 10cm xuyên một lỗ thủng từ đỉnh xuốngđáy để làm chỗ tưới nước cho đống ủ Sau 4 – 7 ngày, nhiệt độ đống
ủ tăng lên 70 – 800C, sau đó nhiệt độ hạ dần cần đảo đống ủ, khi sờ taythấy không còn nóng là việc ủ đã hoàn thành Nguyên liệu mới cần từ
30 – 45 ngày ủ, nguyên liệu đã mục thì chỉ cần từ 12 – 15 ngày
(Nguồn:http://vndgkhktnn.vietnamgateway.org/news.php?newsid=5061008353)
Thức ăn: Thức ăn là chất thải hữu cơ ở dạng đang phân hủy (chủ yếu là phân),khi cho ăn có thể bố trí thức ăn thành những luống nhỏ xen kẽ nhau hoặc
Trang 10đổ thành từng cụm Mỗi ngày, trùn ăn một lượng thức ăn bằng chính trọnglượng cơ thể trùn Sau đó tiếp tục cho ăn khi thấy trên bề mặt luống đã xốpkhông còn thức ăn cũ Chú ý không cho trùn ăn khi lượng thức ăn cũ còn quánhiều, bởi vì điều đó làm cho trùn chỉ tập trung ăn và sống ở phía dưới luống
mà không lên trên bề mặt Điều này khiến cho trùn giảm khả năng sinh sản.(Nguồn: http://agriviet.com/nd/2500-kinh-nghiem-nuoi-trun-que)
Cách ủ thức ăn: trước khi ủ các nguyên liệu như các loại phân bò, phânngựa, phân lợn, phải được tưới nước và làm tơi nát Nếu dùng các loại phụphẩm nông sản như: rơm rạ, thân cây đậu phụng, thân cây ngọ, các loại rau củkhác… thì phải băm nhỏ từ 6-9 cm, tưới nước và trộn đều rồi mới chất đóng ủ
Ở Nhật bản, người ta nghiên cứu thấy thức ăn và môi trường sống tốtnhất của trùn gồm có: 50% (rơm rạ, giấy vụn…) cộng với 30% phân gia súc(heo, bò…) và 20% chất thải thực vật (vỏ chuối, rau cải…) Trộn lẫn các thứtrên, tưới nước và ủ kín trước khi cho trùn ăn
Độ ẩm: Hàng ngày kiểm tra độ ẩm và tưới bổ sung (nước tưới phải có
pH trung tính, không nhiễm mặn và phèn) Độ ẩm thích hợp từ 60-70%; nhiệt
độ thích hợp từ 17-26oC
Thu hoạch: Có nhiều phương pháp thu hoạch nhưng nhử mồi là phươngpháp hữu hiệu nhất Sau khi cho trùn ăn được 3 ngày, dùng tay hốt trên bềmặt luống, nơi chúng ta đã bỏ phân bò (vì chúng sẽ tập trung vào đây để ăn).Trải tấm nilon ngoài sân trống có ánh nắng càng tốt Đổ phần hỗn hợp này lêntấm nilon, sau đó gạt bỏ phần phân trùn bên trên lần lượt vì khi trùn ra ngoài
sợ ánh nắng nên trốn xuống phía dưới cho đến khi chỉ còn trùn Chú ý rằnglớp phân trùn bên trên này không được bỏ làm phân mà cho trở lại luống đểtiếp tục nuôi như là sinh khối, và trùn sẽ được nhân luống rất mau vì trongsinh khối này chứa rất nhiều kén trùn
Bệnh của trùn:
Bệnh no hơi: Do trùn ăn nhầm những loại thức ăn quá giàu "chất đạm" như
phân bò sữa, heo làm cho phân có mùi chua Sau khi cho ăn, trùn có hiện
Trang 11tượng nổi lên trên mặt luống và trường dài sau đó chuyển sang màu tím bầm và chết Cách tốt nhất khi phát hiện trường hợp này nên hốt hết phần phân lỡ cho ăn ra và tưới nước lên luốn.
Bệnh trúng khí độc: Do đáy chất nền đã bị thối rữa, trong thời gian dài chấtnền thiếu O2 làm cho khí CO2 chiếm lĩnh hết khe hở của chất nền, làm Trùn chuilên trên lớp mặt Cách khắc phục: Dùng cuốc chĩa xới toàn bộ mặt luống và tướinước
Ngoài ra thật chú trọng với các loại thuốc trừ sâu, xà bông, nước rửa
chén vì trùn sẽ lập tức chết khi tiếp xúc
Địch hại: Kiến, chim, cóc, nhái là những địch hại nguy hiểm nhất của trùnquế Đối với kiến hãy diệt tận gốc, dùng vật nhọn moi tận gốc của ổ kiến,xịch thuốc và vệ sinh thật sạch khu vực xung quanh trại
2.4.2 Các mô hình nuôi trùn
Nuôi trong khay chậu:
Áp dụng cho những hộ gia đình không có đất sản xuất hoặc muốn tận dụng tối
đa các diện tích trống có thể sử dụng được, mô hình này có thể sử dụng cácdụng cụ đơn giản và rẻ tiền như các thùng gỗ, thau chậu, thùng xô…Các thùng
gỗ chỉ nên có kích thước vừa phải (vào khoảng 0,2 – 0,4 m2 với chiều caokhoảng 0,3m) Các dụng cụ nuôi nên được che mưa gió, đặt nơi có ánh sáng hạnchế càng tốt Ưu điểm là dễ thực hiện, có thể sử dụng lao động phụ trong giađình hoặc tận dụng thời gian rảnh rỗi Công tác chăm sóc cũng thuận tiện vì dễquan sát và gọn nhẹ Tuy nhiên, nó có nhược điểm là tốn nhiều thời gian hơncác mô hình khác, số lượng sản phẩm có giới hạn, việc chăm sóc cho Trùn phảiđược chú ý cẩn thận hơn
Nuôi trên đồng ruộng có mái che:
Mái che nên làm ở dạng cơ động để dễ di chuyển, thay đổi trong những thời tiết khác nhau
Thích hợp cho quy mô gia đình vừa phải hoặc mở rộng, thích hợp chonhững vườn cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm có bóng râm vừa phải
Trang 12Nuôi trên đồng ruộng không có mái che: phương pháp nuôi này bị tácđộng mạnh bởi các yếu tố thời tiết
Với phương pháp này, người nuôi không phải làm lán trại, có thể sửdụng các trang thiết bị cơ giới để chăm sóc và thu hoạch sản phẩm
Luống nuôi có thể nổi hoặc âm trong mặt đất, bề ngang khoảng 1 – 2m, chiều dài thường không giới hạn mà tùy theo diện tích nuôi
Nuôi trong nhà với quy mô công nghiệp và bán công nghiệp: Là dạngcải tiến và mở rộng của luống nuôi có mái che trên đồng ruộng và nuôi trongthau chậu
Phương pháp này có nhiều ưu điểm là chủ động được điều kiện nuôi.Chăm sóc tốt, nuôi theo quy mô lớn nhưng tốn chi phí xây dựng
Cách thu hoạch trùn
Có nhiều phương pháp thu hoạch nhưng nhử mồi là phương pháp hữuhiệu nhất Sau khi cho trùn ăn được 3 ngày, dùng tay hốt trên bề mặt luống,nơi chúng ta đã bỏ phân bò (vì chúng sẽ tập trung vào đây để ăn) Trải tấmnilon ngoài sân trống có ánh nắng càng tốt Đổ phần hỗn hợp này lên tấmnilon, sau đó gạt bỏ phần phân trùn bên trên lần lượt vì khi trùn ra ngoài sợánh nắng nên trốn xuống phía dưới cho đến khi chỉ còn trùn Chú ý rằng lớpphân trùn bên trên này không được bỏ làm phân mà cho trở lại luống để tiếptục nuôi như là sinh khối, và trùn sẽ được nhân luống rất mau vì trong sinhkhối này chứa rất nhiều kén trùn
hình thức thu hoạch “cuống chiếu” Lấy phần phân còn lại ta có được phân trùn
Trong trường hợp luống đã đầy phân mà chúng ta không có chuồng mới(chuồng trống) để nhân giống hoặc vì trời mưa nhiều quá chúng ta không thểtách được trùn và phơi phân chúng ta có thể làm như sau: Xúc toàn bộ sinh khốitrong chuồng đổ cao lên qua một bên chuồng, sau đó dùng phên tre (là loại bồđược đan bằng tre) để chắn giữ lại, dùng cọc tre để giữ phên Bỏ thức ăn mớivào phần bên chuồng trống, trùn sẽ nghe được mùi thức ăn mới và sẽ chui qua