NỘI DUNG
Khái quát tình hình kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016
Năm 2005, Việt Nam ghi nhận tốc độ tăng trưởng GDP 8,4%, vượt xa mức 7,8% của năm 2004 và đạt mức cao nhất trong 9 năm qua kể từ 1997 Sự tăng trưởng mạnh mẽ này đã đóng góp quan trọng vào việc hoàn thành mục tiêu tăng trưởng GDP trung bình 7,5%/năm theo Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001-2005.
Tăng trưởng GDP và đóng góp vào tăng trưởng GDP theo ngành giai đoạn 2001-2005
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
Dịch vụ 6,10 6,54 6,45 7,26 8,48 6,97 Đóng góp vào tăng trưởng GDP theo điểm phần trăm
Nguồn: Tổng cục Thống kê (TCTK) và tính toán của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (Viện NCQLKTTƯ).
Năm 2005, công nghiệp và xây dựng đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng GDP với tỷ trọng 49,7%, tương đương 4,2 điểm phần trăm, nhờ vào giá trị tăng thêm cao nhất đạt 10,6% Trong khi đó, khu vực nông - lâm - thủy sản gặp nhiều khó khăn do thời tiết và dịch bệnh, chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 4,0%, đóng góp 9,8% hay 0,8 điểm phần trăm vào GDP Đáng chú ý, khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng 8,5%, cao nhất từ năm 1997 và lần đầu tiên vượt qua tăng trưởng GDP toàn nền kinh tế, với mức đóng góp 40,5% hay 3,4 điểm phần trăm vào tốc độ tăng trưởng GDP, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ trong 5 năm qua.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành:
Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế giai đoạn 2001-2005 Đơn vị tính: %
Nguồn: TCTK và tính toán của Viện NCQLKTTƯ.
Từ năm 2000 đến năm 2005, tỷ trọng khu vực nông - lâm - thủy sản giảm trong khi tỷ trọng khu vực công nghiệp - xây dựng tăng Xét chung trong giai đoạn 2001-
Năm 2005, sự chuyển dịch cơ cấu giữa ba khu vực kinh tế diễn ra không mạnh mẽ, dẫn đến việc không đạt được mục tiêu đề ra cho khu vực dịch vụ, với tỷ trọng chỉ đạt khoảng 41-42%.
GDP, trong khi đây là khu vực có rất nhiều cơ hội và tiềm năng phát triển cho nền kinh tế đất nước
Trong khu vực nông - lâm - thủy sản, sự chuyển dịch cơ cấu diễn ra chậm, chủ yếu giữa nông nghiệp và thủy sản Bên trong ngành nông nghiệp, sự chuyển dịch cũng không nhanh chóng, với kết quả đáng chú ý nhất là việc giảm diện tích trồng lúa để chuyển sang trồng các loại cây khác có năng suất và giá trị kinh tế cao hơn.
Sự chuyển dịch cơ cấu trong khu vực dịch vụ tại Việt Nam diễn ra chậm, với các ngành dịch vụ quan trọng như tài chính, ngân hàng và bảo hiểm có tỷ trọng nhỏ trong GDP Điều này hạn chế khả năng nâng cao sức cạnh tranh và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng, đặc biệt khi Việt Nam đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế và phấn đấu trở thành thành viên của WTO Thêm vào đó, nhiều lĩnh vực dịch vụ như tư vấn xúc tiến đầu tư, pháp lý, công nghệ và xuất khẩu lao động vẫn chưa được khai thác hiệu quả và còn kém phát triển.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo thành phần kinh tế:
Từ năm 2001 đến 2005, sự chuyển dịch cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế diễn ra chậm, với khu vực kinh tế nhà nước duy trì tỷ trọng cao và ổn định Sự chuyển dịch chủ yếu giữa hai khu vực kinh tế ngoài nhà nước và có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế giai đoạn 2001-2005 Đơn vị tính: %
Cơ cấu GDP (giá hiện hành) 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
Kinh tế nhà nước 38,52 38,40 38,38 39,08 39,23 38,42Kinh tế ngoài quốc doanh 48,20 47,84 47,86 46,45 45,61 45,68
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 13,27 13,76 13,76 14,47 15,17 15,89
Nguồn: TCTK và tính toán của Viện NCQLKTTƯ.
Tình hình thực hiện vốn đầu tư xã hội:
Vốn đầu tư xã hội năm 2005 đạt 326 nghìn tỷ VNĐ, tương đương 38,9% GDP, nhưng mức tăng so với năm 2004 vẫn thấp Khu vực FDI ghi nhận mức tăng nhanh nhất, gấp gần 2,8 lần vốn nhà nước, trong khi khu vực ngoài quốc doanh cũng có sự tăng trưởng mạnh mẽ Mặc dù vốn đầu tư nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn, nhưng xu hướng giảm dần cho thấy sự cải thiện của môi trường đầu tư, phản ánh sự phát triển tích cực của nền kinh tế thị trường.
Cơ cấu đầu tư theo lĩnh vực thể hiện vai trò quan trọng của chính phủ trong nền kinh tế thị trường, với vốn đầu tư cho lĩnh vực xã hội ngày càng tăng, chủ yếu từ ngân sách nhà nước Nguồn vốn đầu tư nhà nước đóng góp tích cực vào cải thiện hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng và giảm nghèo Đồng thời, đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh đang chứng minh vai trò ngày càng quan trọng và tiềm năng lớn trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Năm 2005, dòng vốn FDI vào Việt Nam tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ, với 41/64 tỉnh thành thu hút được đầu tư Khu vực FDI đã khẳng định vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam, trở thành một phần không thể thiếu trong nền kinh tế quốc gia.
Trong năm 2005, việc thu hút vốn đầu tư, đặc biệt là từ khu vực tư nhân và FDI, đã có những chuyển biến tích cực, đóng góp quan trọng vào sự tăng trưởng kinh tế Trong giai đoạn 2001-2005, tổng vốn đầu tư xã hội gần đạt mục tiêu đề ra Tiết kiệm trong nước cũng có xu hướng tăng, hiện chiếm khoảng 30% GDP, tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động vốn trong nước và ổn định các cân đối vĩ mô.
Nước ta bước vào thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 -
2010 trong bối cảnh có nhiều thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đều lớn, đan xen nhau
Trên thế giới, xu thế “hoà bình, hợp tác và phát triển” vẫn chiếm ưu thế, với toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế đang được thúc đẩy mạnh mẽ Đầu tư và lưu chuyển hàng hoá, dịch vụ, lao động, và vốn ngày càng mở rộng, đặc biệt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nơi ASEAN đóng vai trò quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của từng quốc gia Trong nước, chúng ta đang hưởng lợi từ những thành tựu to lớn và bài học kinh nghiệm quý báu sau 20 năm đổi mới.
Từ năm 2006 đến 2010, hoạt động đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam, bao gồm cả vốn nội địa và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, đã nổi bật như một điểm sáng trong bức tranh kinh tế - xã hội Sự gia nhập WTO năm 2007 đã thu hút nhiều công ty và tập đoàn lớn từ khắp nơi trên thế giới đến tìm kiếm cơ hội đầu tư, nhờ vào môi trường chính trị và kinh tế ổn định Những dự án đầu tư này đã tạo ra sức bật đáng kể cho nền kinh tế Việt Nam, ảnh hưởng tích cực đến các giai đoạn phát triển sau này.
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2006 đạt 8,23%, năm 2007 đạt 8,46%, năm 2008 đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32% và năm 2010 ước tính đạt
Trong giai đoạn 2006-2010, nền kinh tế Việt Nam ghi nhận mức tăng trưởng bình quân đạt 7,01% mỗi năm Cụ thể, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 3,34%/năm, khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 7,94%/năm, trong khi khu vực dịch vụ tăng 7,73%/năm.
- Tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tăng từ 11694 nghìn đồng năm
Từ năm 2006 đến năm 2010, tổng sản phẩm trong nước bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng mạnh, từ 7.300 USD lên 11.680 USD, tương đương với mức tăng 1,6 lần, tức là 438 USD Đồng thời, mức thu nhập bình quân cũng tăng từ 22.778 nghìn đồng lên gần 45.556 nghìn đồng, gấp gần 2 lần trong cùng thời gian.
Trong giai đoạn 2006 - 2010, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đã đạt trên 40% GDP, với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 45 tỷ USD, vượt 77,8% kế hoạch Đặc biệt, số lượng đăng ký mới đạt kỷ lục 146,8 tỷ USD, gấp gần 3 lần kế hoạch đề ra và tăng gấp 7 lần so với giai đoạn 2001 - 2005.
Khái quát tình hình lao động Việt Nam những năm gần đây
Việt Nam sở hữu nguồn lao động phong phú với dân số ước tính đạt 92,70 triệu người vào năm 2016, tăng 987,8 nghìn người, tương đương với mức tăng 1,08% so với năm 2015.
- Dân số thành thị 32,06 triệu người, chiếm 34,6%; dân số nông thôn 60,64 triệu người, chiếm 65,4%.
- Dân số nam 45,75 triệu người, chiếm 49,4%; dân số nữ 46,95 triệu người, chiếm 50,6%.
Lao động Việt Nam đã tăng từ 38,545 triệu người vào năm 2000 lên 54,454 triệu người vào năm 2016, nhưng xu hướng tăng trưởng đang chậm lại Phần lớn lao động tập trung ở nông thôn, dẫn đến sự phân bổ không hợp lý, với việc làm không đầy đủ tại khu vực này Điều này góp phần làm tăng tỷ lệ thất nghiệp trong cả nước.
Năm 2016, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đạt 54,4 triệu người, tăng 455,6 nghìn người so với năm 2015 Trong số đó, lao động nam chiếm 51,6% với 28,1 triệu người, trong khi lao động nữ chiếm 48,4% với 26,3 triệu người Theo khu vực, lực lượng lao động tại thành phố là 17,5 triệu người (32,1%), trong khi khu vực nông thôn có 36,9 triệu người, chiếm 67,9%.
Năm 2016, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước đạt 47,7 triệu người, tăng 275,9 nghìn người so với năm trước Trong số đó, lao động nam chiếm 54,1% với 25,8 triệu người, trong khi lao động nữ chiếm 45,9% với 21,9 triệu người Cụ thể, khu vực thành thị có 16,0 triệu người lao động, chiếm 33,4%, còn khu vực nông thôn có 31,8 triệu người, chiếm 66,6%.
Trong năm 2016, tổng số lao động từ 15 tuổi trở lên ước tính đạt 53,3 triệu người, tăng 451,1 nghìn người so với năm 2015 Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 41,9% tổng số lao động, giảm so với 44,0% năm 2015, trong khi khu vực công nghiệp và xây dựng tăng lên 24,7% từ 22,8% năm trước, và khu vực dịch vụ giữ ổn định ở mức 33,4% Tỷ lệ lao động ở khu vực thành thị là 31,9%, tăng nhẹ so với 31% năm 2015, trong khi khu vực nông thôn giảm xuống 68,1% Đặc biệt, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo đạt 20,6%, cao hơn mức 19,9% của năm 2015.
Số lượng lao động càng tăng dẫn đến áp lực việc làm càng lớn, tỷ lệ thất nghiệp càng cao.Cụ thể như sau:
Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi năm 2016 là 2,30%, giảm nhẹ so với 2,33% của năm 2015 và tăng từ 2,10% của năm 2014 Cụ thể, khu vực thành thị ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp là 3,18%, trong khi khu vực nông thôn là 1,86% Đặc biệt, tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên từ 15-24 tuổi đạt 7,34%, với 11,30% ở khu vực thành thị và 5,74% ở khu vực nông thôn.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi lao động năm 2016 đạt 1,64%, giảm so với 1,89% của năm 2015 và 2,40% của năm 2014 Cụ thể, khu vực thành thị ghi nhận tỷ lệ 0,73%, giảm từ 0,84% năm 2015 và 1,20% năm 2014, trong khi khu vực nông thôn có tỷ lệ 2,10%, giảm so với 2,39% năm 2015 và 2,96% năm 2014.
Việt Nam hiện đang trong giai đoạn dân số vàng với nguồn lực trẻ dồi dào, tạo cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội Tuy nhiên, số lượng người trong độ tuổi lao động cao không đảm bảo rằng thị trường lao động đáp ứng đủ nhu cầu của doanh nghiệp Vấn đề chính nằm ở chất lượng nguồn nhân lực, khi mà thiếu hụt nghiêm trọng lao động có trình độ tay nghề cao và công nhân kỹ thuật lành nghề.
Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới năm 2014, chỉ số cạnh tranh nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,39/10, cho thấy sự yếu kém trong chất lượng lao động cả về ý thức lẫn trình độ kỹ thuật Nhiều người lao động Việt Nam chưa nắm vững luật lao động công nghiệp và chưa có thói quen làm việc chuyên nghiệp, bao gồm giờ giấc và thái độ Hơn nữa, các kỹ năng mềm như làm việc nhóm, thuyết trình, chia sẻ kinh nghiệm và giao tiếp vẫn chưa được phổ biến, gây cản trở cho sự phát triển nghề nghiệp của họ.
Tuy nhiên, tỷ lệ nguồn lao động đã qua đào tạo tăng qua các năm, nhưng cũng chưa có sự cải thiện đáng kể về chất lượng lao động.
Nguồn lao động phong phú, kết hợp với nguồn lực tự nhiên và cơ sở vật chất, kỹ thuật, được coi là yếu tố then chốt trong việc phát triển kinh tế xã hội của đất nước Giá tiền công tương đối thấp hiện nay đã thu hút nhiều nhà đầu tư nước ngoài, tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững.
Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam vẫn còn đối mặt với một số khó khăn về lao động Cụ thể là:
Lao động ở Việt Nam được phân bố không đồng đều giữa các vùng, với sự chênh lệch rõ rệt về trình độ học vấn giữa lực lượng lao động ở nông thôn và thành phố.
- Chất lượng lao động thấp, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, cơ cấu ngành nghề đào tạo có nhiều bất cập:
Nguồn cung lao động ở Việt Nam hiện nay đang đối mặt với tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao, đặc biệt trong các ngành dịch vụ như ngân hàng, tài chính, thông tin - viễn thông và du lịch, cũng như trong công nghiệp mới Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, dẫn đến kỹ năng, tay nghề và tác phong lao động công nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu, làm giảm khả năng cạnh tranh của lao động Việt Nam Đáng chú ý, có một nghịch lý là lực lượng lao động qua đào tạo lại thiếu những người đủ năng lực cho công việc, trong khi lại thừa những người không thể thực hiện được nhiệm vụ.
Tình trạng thể lực của lao động Việt Nam hiện đang ở mức trung bình kém, thể hiện qua chiều cao, cân nặng, sức bền và sự dẻo dai không đạt yêu cầu Điều này khiến họ chưa đủ khả năng đáp ứng cường độ làm việc và các tiêu chuẩn quốc tế trong việc sử dụng máy móc thiết bị.
Kỷ luật lao động của người lao động Việt Nam hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu sản xuất công nghiệp, do một bộ phận lớn chưa được đào tạo về kỷ luật lao động Nguồn lao động chủ yếu xuất thân từ nông thôn, mang theo thói quen sản xuất nông nghiệp với giờ giấc và hành vi không ổn định Họ thiếu kiến thức và kỹ năng làm việc nhóm, không có khả năng hợp tác, ngại rủi ro và ít phát huy sáng kiến cũng như chia sẻ kinh nghiệm làm việc.
- Còn nhiều rào cản hạn chế quá trình dịch chuyển lao động.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, Việt Nam đang đối mặt với cả cơ hội và thách thức trong phát triển thị trường lao động Thị trường lao động hiện tại và trong tương lai sẽ tiếp tục phát triển nhờ vào đổi mới công nghệ và nâng cao quản lý Sự phát triển quy mô sản xuất kinh doanh và quy mô doanh nghiệp sẽ tạo ra nhiều việc làm mới, đặc biệt là nhu cầu ngày càng cao đối với lao động chất lượng.
Cầu lao động và năng suất lao động
Cầu lao động trong nền kinh tế phản ánh nhu cầu về sức lao động cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế Nó thể hiện khả năng của nền kinh tế trong việc thu hút và sử dụng nguồn lao động để đáp ứng các yêu cầu phát triển.
Trên thị trường lao động, cầu lao động là lượng lao động mà người thuê có thể thuê ở mỗi mức giá chấp nhận.
Phân loại: cầu lao động thực tế và cầu lao động tiềm năng.
Cầu lao động thực tế đề cập đến nhu cầu sử dụng lao động tại một thời điểm cụ thể, bao gồm cả việc làm mới và các vị trí còn trống.
Cầu lao động tiềm năng đề cập đến nhu cầu sử dụng số lao động tương ứng với tổng số chỗ làm việc, sau khi xem xét các yếu tố tạo việc làm trong tương lai như vốn, đất đai, tư liệu sản xuất, công nghệ, và các yếu tố chính trị, xã hội.
Các nhân tố ảnh hưởng đến cầu lao động:
Các nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến cầu lao động bao gồm khả năng phát triển kinh tế của quốc gia, cơ cấu ngành nghề và sự phân bố giữa nông thôn và thành thị, cùng với trình độ công nghệ và thiết bị sử dụng Thêm vào đó, tỷ lệ thất nghiệp và lạm phát, cùng với các chính sách can thiệp của Nhà nước cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cầu lao động.
Các yếu tố vi mô ảnh hưởng đến cầu lao động bao gồm giới tính, lứa tuổi, dân tộc và đẳng cấp xã hội Những yếu tố này không chỉ tác động đến cầu lao động mà còn chi phối sự biến động của mức cầu, từ đó ảnh hưởng đến thị trường lao động.
Năng suất là chỉ số quan trọng phản ánh hiệu quả của con người và doanh nghiệp trong việc chuyển đổi nguồn lực sản xuất như lao động và vốn thành hàng hóa và dịch vụ phục vụ xã hội Trong các phương pháp đo lường năng suất, năng suất lao động nổi bật là chỉ tiêu thiết yếu trong phân tích kinh tế và thống kê quốc gia.
Năng suất lao động (NSLĐ) là chỉ số phản ánh khả năng tạo ra của cải và hiệu suất lao động trong quá trình sản xuất, được đo bằng số lượng sản phẩm hoặc giá trị tạo ra trong một đơn vị thời gian NSLĐ cũng thể hiện thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Chỉ số này không chỉ phản ánh tính chất và trình độ tiến bộ của tổ chức hay phương thức sản xuất, mà còn là yếu tố quyết định sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), năng suất lao động (NSLĐ) được xác định dựa trên số lượng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất cho mỗi đơn vị lao động Tổng sản phẩm trong nước (GDP) phản ánh giá trị của những hàng hóa và dịch vụ này, thể hiện thời gian, công sức và kỹ năng của lực lượng lao động NSLĐ thường được đo lường qua số lượng lao động đang làm việc, tổng giờ công lao động hoặc lực lượng lao động đã được điều chỉnh theo chất lượng.
Tại Việt Nam, NSLĐ (Năng suất lao động) là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu suất làm việc của người lao động, được xác định thông qua GDP bình quân trên mỗi lao động trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm NSLĐ xã hội được tính toán dựa trên công thức cụ thể, góp phần đánh giá tình hình phát triển kinh tế và hiệu quả lao động trong xã hội.
Năng su tấ lao đ ngộ xã h iộ =T ngổ s nả ph mẩ trong n cướ (GDP)
T ngổ sống iườ làm vi cệ bìnhquân
Năng suất lao động là chỉ số quan trọng phản ánh khả năng tạo ra của cải, đồng thời thể hiện trình độ phát triển và tính chất của một tổ chức, đơn vị sản xuất hay phương thức lao động.
3.3 Tác động của năng suất lao động đến cầu lao động:
Tăng năng suất lao động (NSLĐ) là việc rút ngắn thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất một đơn vị hàng hóa NSLĐ có tác động hai chiều đến cầu lao động: khi NSLĐ tăng mà quy mô sản xuất không thay đổi, cầu lao động sẽ giảm do lượng lao động cần thiết giảm Ngược lại, nếu NSLĐ tăng và quy mô sản xuất cũng tăng, cầu lao động sẽ tăng lên để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Cơ sở lý thuyết
4.1 Xác định cầu lao động cần có kỳ kế hoạch:
Phương pháp xác định các chỉ tiêu trong kế hoạch lao động – việc làm chủ yếu dựa vào việc cân đối giữa nhu cầu lao động theo mục tiêu tăng trưởng GDP và khả năng cung cấp lực lượng lao động Khả năng lực lượng lao động được phân tích theo từng địa phương, khu vực thành thị và nông thôn, trong khi nhu cầu lao động thường được xác định theo từng ngành cụ thể Phương pháp này bao gồm ba phần chính để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong việc lập kế hoạch.
Xác định khả năng cung cấp lực lượng lao động kỳ kế hoạch.
Xác định nhu cầu về lực lượng lao động cần có trong kỳ kế hoach.
Xác định cân đối cung - cầu lao động.
Để xác định cầu lao động theo năng suất lao động trong kỳ kế hoạch, ta cần xem xét nhu cầu lao động xã hội, bao gồm quy mô và cơ cấu lao động cần thiết để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Nhu cầu lao động cũng phản ánh khả năng cung cấp việc làm của nền kinh tế, thể hiện khả năng thu hút và tiếp nhận lực lượng lao động từ các hoạt động kinh tế - xã hội, tức là số lượng việc làm mà các ngành kinh tế xã hội tạo ra trong thời kỳ kế hoạch.
Những nhân tố chi phối tổng lượng nhu cầu lực lượng lao động xã hội chủ yếu bao gồm:
Quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế phụ thuộc vào số lượng và năng suất lao động Khi các yếu tố khác không đổi, sự tăng trưởng của nền kinh tế được xác định bởi nhu cầu sức lao động xã hội, điều này phản ánh mối liên hệ chặt chẽ giữa năng suất lao động và sự phát triển kinh tế.
Khi quy mô sản xuất xã hội đạt đến một mức nhất định, việc nâng cao trình độ và tốc độ lao động sẽ dẫn đến năng suất lao động gia tăng Năng suất lao động càng cao thì lượng sức lao động cần thiết để sản xuất càng giảm.
Sự thay đổi trong cơ cấu nghề nghiệp, sản phẩm và hoạt động kinh tế - xã hội xuất phát từ nhu cầu sử dụng sức lao động đa dạng Một số hoạt động yêu cầu lượng lao động lớn, trong khi những hoạt động khác chỉ cần ít sức lao động Do đó, sự biến đổi trong kết cấu hoạt động kinh tế - xã hội tác động trực tiếp đến tổng nhu cầu về sức lao động trong xã hội.
Khả năng đổi mới sức lao động trong một thời kỳ nhất định là cần thiết do sự thay thế và bổ sung lao động khi một bộ phận rời khỏi chỗ làm việc, ảnh hưởng đến nhu cầu sức lao động xã hội Để xác định nhu cầu sức lao động trong kỳ kế hoạch ở tầm vĩ mô, có thể áp dụng phương pháp Tinbergan – Parnes, được phát triển từ nghiên cứu của Jan Tinbergan và Herbert Parnes, dựa trên mô hình công nhân và kế hoạch tăng trưởng kinh tế.
Có nhiều phương pháp để dự báo nhu cầu lao động trong kỳ kế hoạch, trong đó phương pháp xác định nhu cầu lao động dựa trên năng suất lao động là một trong những cách hiệu quả.
4.2 Phương pháp xác định nhu cầu lao động theo năng suất lao động:
Phương pháp này tổng hợp nhu cầu lao động toàn nền kinh tế từ kết quả tính toán nhu cầu lao động của từng ngành, dựa trên năng suất lao động khác nhau Để xác định nhu cầu lao động cho mỗi ngành, cần thực hiện các bước tính toán cụ thể.
Để xác định mức GDP hay GO theo giá cố định cho từng ngành trong kỳ kế hoạch, cần thu thập số liệu từ kết quả của kế hoạch tăng trưởng GDP của các ngành và toàn bộ nền kinh tế.
Để xác định năng suất lao động trong kỳ kế hoạch, có nhiều phương pháp khác nhau, trong đó phổ biến nhất là phương pháp ngoại suy từ dữ liệu năng suất của các năm trước Tốc độ tăng trưởng năng suất lao động trung bình hàng năm được tính toán thông qua hồi quy tuyến tính và điều chỉnh theo mục tiêu của kỳ kế hoạch, từ đó dự báo được tốc độ tăng trưởng năng suất lao động cho kỳ kế hoạch (ký hiệu ρ k) Năng suất lao động trong kỳ kế hoạch được tính bằng công thức: p k = p 0 × (1 + ρ k), trong đó p 0 là năng suất lao động kỳ gốc.
Để xác định nhu cầu lao động, hay số việc làm trong từng ngành, cần tính toán dựa trên giá trị GDP hoặc GO và năng suất lao động theo từng ngành Số việc làm của ngành I được xác định bằng cách chia giá trị GDP hoặc GO dự kiến trong kỳ kế hoạch cho năng suất lao động tương ứng của ngành đó.
Dựa trên kết quả tính toán nhu cầu lao động theo từng ngành, chúng ta có thể tổng hợp nhu cầu lao động toàn nền kinh tế và cơ cấu lao động theo các ngành nghề khác nhau.
Tỷ trọng nhu cầu lao động theo ngành trong tổng nhu cầu lao động được xác định như sau:
Để xác định nhu cầu lao động từ năng suất lao động kỳ kế hoạch, ta áp dụng công thức %VL k (i) =( VL VL k(i) k ) × 100 và thực hiện các bước minh họa cụ thể.
Thu thập số liệu GDP và số lao động – việc làm của giai đoạn cụ thể.
Xác định năng suất lao động qua các kỳ theo công thức p k (i) =GDP k(i)
Để tính toán tỷ lệ tăng trưởng trung bình năng suất lao động trong một giai đoạn, cần xác định hàm Ln(NSLĐ) = a + nt, được ước lượng thông qua phương pháp bình phương bé nhất Phương pháp này giúp biểu diễn xu hướng biến thiên theo thời gian của ln(NSLĐ) t.
Ln(NSLĐ) được coi là Y, trong khi t được gọi là X Hệ số n là a cần ước lượng, và a trong phương trình này tương ứng với hệ số chặn b trong hàm tổng quát Y = a.X + b.
Tỷ lệ tăng trưởng bình quân sẽ là: r=e n −1
Ta lập bảng tính hồi quy tốc độ biến đổi bình quân của năng suất lao động. t t ’=t−t 0 NS Ln(NS) t ' − ´t ' (t¿¿'− ´t ') lnNS¿ (t ' − ´t ') 2
Cột (1) ta ghi các năm trong một giai đoạn cụ thể.
Cột (2) lấy giá trị của cột (1) trừ đi giá trị của năm gốc.
Cột (3) ghi các giá trị năng suất đã tính được tương ứng với các năm.
Cột (4) tính các giá trị Ln(NS) tương ứng.
Cột (5) ghi các giá trị của cột (2) trừ đi giá trị trung bình được tính từ tổng các số trong cột (2) chia cho số quan sát.
Cột (6) bằng các giá trị cột (4) nhân với các giá trị cột (5).
Cột (7) bằng bình phương các giá trị cột (5).
Như vậy, giá trị n được tính bằng tổng cột (6) chia cho tổng cột (7). n=(t¿ ¿'− ´t ') lnNS
Khi đó ta tính được tốc độ tăng trưởng bình quân của năng suất lao động như công thức đã nêu.
Xác định cầu lao động theo năng suất lao động Việt Nam giai đoạn
5.1 Chuyển đổi giá cố định từ năm 1994 sang giá cố định năm 2010:
Bảng số liệu GDP Việt Nam giai đoạn 2000 – 2016
Năm GDP theo giá năm gốc 1994 (triệu USD)
GDP theo giá năm gốc 2010 (Tỷ đồng)
Nguồn số liệu: Tổng Cục Thống Kê
Phương pháp tính đổi số liệu từ năm 2010 trở về trước bao gồm hai bước chính Đầu tiên, chuyển đổi số tuyệt đối của chỉ tiêu theo giá cố định 1994 từ bảng phân ngành kinh tế cũ sang bảng phân ngành kinh tế mới theo Hướng dẫn của Tổng cục Thống kê Tiếp theo, lấy chỉ tiêu giá trị của năm 2011 theo hai mức giá cố định cũ và mới để tính hệ số, sau đó nhân với số liệu cũ đã được chuyển đổi sang hệ thống ngành kinh tế mới.
Hệ số chuyển đổi H = chỉ tiêu c a ủ năm 2011 tính theo giá cốđ nhị năm2010 chỉtiêu c aủ năm2011tínhtheo giá cốđ nhị 1994
Bảng tỉ giá hối đối USD - VNĐ
Năm Tỷ giá (USD – VNĐ)
Nguồn số liệu: finance.vietstock.vn
Chuyển đổi GDP theo giá cố định năm 1994 từ triệu USD sang triệu đồng:
Năm GDP theo giá năm gốc 1994 (triệu USD)
GDP theo giá năm gốc 1994 ( triệu đồng)
Hệsốc h uyển đổi H=c hỉti ê u của n ă m2011t í nh t h eo giá cốđịn h n ă m2010 c hỉti ê u của n ă m2011t í n h t h eo gi á cốđịn h1994 ¿2779880000
Bảng tổng hợp số liệu:
GDP theo giá năm gốc 1994 (triệu đồng)
GDP theo giá năm gốc 2010 (triệu đồng)
Tổng hợp số liệu sau khi chuyển đổi giá (triệu đồng)
Năm GDP đã chuyển đổi
(triệu đồng) Số lao động - việc làm (nghìn người) Năng suất lao động
Bảng số liệu tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2000 -2016 Đơn vị tính: %
Năm Tốc độ tăng GDP ( g k
Nguồn số liệu: Tổng Cục Thống Kê
5.4 Dự báo tốc độ tăng GDP gaii đoạn 2017 – 2020:
Biểu đồ thể hiện sự biến động của GDP theo thời gian dưới dạng một nhánh của hàm bậc ba, có thể được mô phỏng bằng dạng log-tuyến tính.
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
S.E of regression 0.678577 Akaike info criterion 2.264686
Sum squared resid 5.986064 Schwarz criterion 2.460736
Log likelihood -15.24983 Hannan-Quinn criter 2.284174
Giá trị p-value của các hệ số c, t, t², t³ đều nhỏ hơn 0.05, cho thấy chúng có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Đồng thời, p-value của F là 0.005973, cũng nhỏ hơn 0.05, khẳng định rằng mô hình này phù hợp.
- Dự báo cho gk từ năm 2000 – 2020 ta được:
Forecast: GKF Actual: GK Forecast sample: 2000 2020 Included observations: 17 Root Mean Squared Error 0.593398 Mean Absolute Error 0.472350 Mean Abs Percent Error 7.153896 Theil Inequality Coefficient 0.043951 Bias Proportion 0.000000 Variance Proportion 0.125378 Covariance Proportion 0.874622
Ta có, RMSE = 0.593398; MAE = 0.472350; MAPE = 7.153896
- Ước lượng hàm Log – tuyến tính:
Variable Coefficient Std Error t-Statistic Prob
S.E of regression 0.130378 Akaike info criterion -1.126622
Sum squared resid 0.254978 Schwarz criterion -1.028596
Log likelihood 11.57628 Hannan-Quinn criter -1.116878
Giá trị p-value của c và t đều nhỏ hơn 0.05, cho thấy các hệ số có ý nghĩa thống kê ở mức 5% Thêm vào đó, p-value của F-statistic là 0.041532, cũng nhỏ hơn 0.05, xác nhận rằng mô hình là phù hợp.
- Dự báo cho gk những năm sau:
Forecast: GKF2 Actual: GK Forecast sample: 2000 2020 Included observations: 17 Root Mean Squared Error 0.823110 Mean Absolute Error 0.680450 Mean Abs Percent Error 10.22195 Theil Inequality Coefficient 0.061298 Bias Proportion 0.003662 Variance Proportion 0.332554 Covariance Proportion 0.663784
Ta có, RMSE = 0.823110; MAE = 0.680450; MAPE = 10.22195
So sánh giá trị sai số giữa hai mô hình:
Hàm bậc 3 Hàm log –tuyến tính
Mô hình bậc 3 cho thấy sự phù hợp tốt hơn so với mô hình log-tuyến tính, vì các giá trị sai số của mô hình bậc 3 đều nhỏ hơn.
Tiến hành dự báo g k dựa trên mô hình bậc 3:
Ta có giá trị dự báo cho giá trị gk sau khi chạy eview như sau:
Năm Giá trị dự báo
Bảng tổng hợp số liệu cho tốc độ tăng GDP qua các năm từ 2000 – 2020 Đơn vị tính: %
Giá trị dự báo cho những năm sau
5.5 Dự báo nhu cầu lao động giai đoạn 2017 – 2020: t t'= t –t 0 NS LnNS t' - t ´ ' (t' - t ´ ' )LnNS (t ' − ´t ') 2
Tốc độ tăng năng suất bình quân (gns): gns = e k – 1 = e 0.14 – 1 = 0.15
Mà ta có: gns ´ 0 ≈ gns(k) = 0.15
Năng suất lao động kì kế hoạch: (Đơn vị : VND/người)
Xác định GDP kì kế hoạch: (đơn vị: triệu đồng)
Xác định nhu cầu việc làm (VL) kì kế hoạch: (đơn vị: người)
Kết quả dự báo cho thấy năng suất lao động và GDP trong kỳ kế hoạch từ năm 2017 đến 2020 có sự gia tăng liên tục so với các năm trước Tuy nhiên, nhu cầu việc làm trong kỳ kế hoạch lại có xu hướng giảm.
Đề xuất giải pháp
6.1 Giải pháp đối với lực lượng lao động: Đối với cá nhân người lao động, theo yêu cầu thể lực và trí tuệ của người lao động phải được phát triển và vận dụng tự do, đầy đủ, cần phải làm cho sức lao động được lưu chuyển hợp lý, đó là yếu tố đảm bảo khách quan khiến người lao động thực hiện đầy đủ quyền lực lao động cần thỏa mãn các yếu tố sau:
- Người lao động phải có quyền tự do lựa chọn nghề và nơi làm việc của mình theo sở trường và sở thích.
Với vai trò là nhà sản xuất và kinh doanh độc lập, xí nghiệp có quyền tự chủ trong việc quản lý nhân sự, bao gồm việc lựa chọn, tuyển dụng và sa thải nhân viên dựa trên nhu cầu sản xuất và yêu cầu kỹ thuật.
Nhà nước, với vai trò đại diện cho lợi ích của toàn dân, cần thực hiện các biện pháp can thiệp và điều tiết hợp lý nhằm kiểm soát sức lao động một cách hiệu quả.
6.2 Giải pháp nâng cao năng suất lao động:
Có 3 phương thức để nâng cao năng suất lao động:
Để nâng cao chất lượng đầu tư, cần tăng cường đầu tư vào các tài sản và công nghệ tiên tiến, bao gồm cả công nghệ thông tin và các tài sản phi công nghệ thông tin, nhằm cải thiện tốc độ và chất lượng sản xuất Đồng thời, cải cách thủ tục hành chính và khuyến khích khu vực tư nhân đầu tư sẽ giúp đổi mới quy trình sản xuất và ứng dụng khoa học công nghệ, tạo ra môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp cạnh tranh hiệu quả hơn.
Để nâng cao chất lượng và kỹ năng lao động, cần cải thiện NSLĐ thông qua việc nâng cao chất lượng lao động và tính linh hoạt của thị trường Điều này đòi hỏi xây dựng các chương trình khuyến khích đào tạo, phổ biến kiến thức về yêu cầu kỹ năng công việc, và tự do hóa các quy định lao động Những nỗ lực này sẽ giúp tăng cường sự kết nối giữa kỹ năng và công việc, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho dòng chảy lao động giữa các khu vực, doanh nghiệp và ngành công nghiệp.
Hoàn thiện thể chế và môi trường pháp lý là yếu tố then chốt để nâng cao năng suất lao động và sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh tế Việc tối ưu hóa các nguồn lực, đặc biệt là nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của sản xuất kinh doanh.
Giữ vững sự ổn định kinh tế vĩ mô, sử dụng hiệu quả cơ sở hạ tầng và các quy hoạch phát triển ngành công nghiệp.
Thực hiện hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế, có chính sách hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước tham gia vào thị trường toàn cầu.
Thúc đẩy nghiên cứu và đổi mới sáng tạo ở cấp độ doanh nghiệp;
Khuyến khích các doanh nghiệp nâng cao chất lượng quản lý.
Thúc đẩy sự hình thành các cụm công nghiệp, quản lý tốt quá trình đô thị hóa.
Để nâng cao năng suất lao động, góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững, trong thời gian tới cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
- Giải pháp về thể chế, chính sách:
Tiếp tục cải cách thể chế và nâng cao hiệu lực quản trị Nhà nước là cần thiết để phát triển kinh tế - xã hội Cần tăng cường vai trò của cơ chế thị trường, tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng cho tất cả các ngành và doanh nghiệp, phù hợp với cam kết quốc tế Đồng thời, đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của các thị trường như hàng hóa, lao động, tài chính, bất động sản và khoa học công nghệ để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Để nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công, cần đẩy mạnh xã hội hóa và huy động các nguồn lực từ xã hội Đồng thời, cơ cấu lại các đơn vị sự nghiệp công, giao quyền tự chủ phù hợp nhằm nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp.
Chính phủ và các Bộ, ngành cần nhận thức rằng việc xây dựng chính sách nâng cao năng suất lao động là ưu tiên hàng đầu để cải thiện năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế Cần có quyết tâm chính trị và cam kết thực hiện các giải pháp nhằm nâng cao năng suất lao động tại Việt Nam Ngoài ra, cần định kỳ đánh giá tình hình thực hiện các giải pháp để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.
Xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia nhằm nâng cao năng suất lao động của Việt Nam là mục tiêu quan trọng để nước ta bắt kịp các quốc gia trong khu vực Cần nghiên cứu và bổ sung các chỉ tiêu phản ánh năng suất, chất lượng và hiệu quả, bao gồm tốc độ tăng năng suất lao động, tốc độ tăng năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (ICOR) Những chỉ tiêu này sẽ được tích hợp vào hệ thống kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội hàng năm và 5 năm tới.
Phát động phong trào tăng năng suất trong tất cả các khu vực của nền kinh tế
Chương trình thí điểm nhằm thúc đẩy tăng năng suất lao động sẽ được triển khai tại một số lĩnh vực như may mặc, sản xuất máy móc thiết bị và điện tử Các tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương sẽ là địa điểm thực hiện chương trình này, nhằm nâng cao hiệu quả lao động và cải thiện chất lượng sản phẩm.
Việt Nam cần thường xuyên theo dõi và đánh giá tiến bộ trong việc thu hẹp khoảng cách năng suất lao động so với các nước trong khu vực Đồng thời, việc phổ biến kiến thức và phương pháp cải thiện năng suất, cùng với các trường hợp thành công điển hình từ quốc tế, cần được thực hiện rộng rãi qua các phương tiện truyền thông và công nghệ di động.
Học hỏi từ kinh nghiệm và nhận sự hỗ trợ từ các quốc gia phát triển trong khu vực như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, cùng với các tổ chức quốc tế như ILO và OECD, là cần thiết để nghiên cứu và xây dựng các chính sách, biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao năng suất lao động.
- Giải pháp nâng cao năng suất lao động cho khu vực doanh nghiệp
Tiếp tục nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, là điều cần thiết để họ có thể đầu tư vào trang thiết bị, ứng dụng công nghệ thông tin và đào tạo nhân lực, từ đó tăng năng suất lao động Việc sử dụng Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ hỗ trợ tài chính cho việc nuôi dưỡng và triển khai các ý tưởng sáng tạo, đổi mới trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp cần điều chỉnh chiến lược kinh doanh để phù hợp với thực tế và năng lực tài chính hiện tại Việc lựa chọn quy mô hợp lý và phát triển sản phẩm mới với giá trị gia tăng cao, cùng với công nghệ tiên tiến, là rất quan trọng Đồng thời, doanh nghiệp nên tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, giữ vững thị trường truyền thống và từng bước mở rộng vào các thị trường cao cấp.