Tuy nhiên, luật không nêu rõ khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà chỉ quy định về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, điều kiện, nguyên tắc bồi thường, … Theo khoản
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG
TRƯỜNG HỢP CÁC BÊN CÙNG CÓ LỖI – THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN
NGHỊ HOÀN THIỆN
2020
Trang 2-MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG 1
1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 1
1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng2
1.3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng 2
1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại 4
1.5 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại 5
CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG TRƯỜNG HỢP CÁC BÊN ĐỀU CÓ LỖI 6
2.1 Khái quát chung về lỗi 6
2.1.1 Khái niệm về lỗi trong Luật Dân sự Việt Nam 6
2.1.2 Ý nghĩa của yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 6
2.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 7
2.2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 7
2.2.2 Chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 7
2.2.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 8 2.2.4 Mức bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường trong trường hợp các bên cùng có lỗi 8
2.3 Đánh giá pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 9
2.3.1 Ưu điểm 9
2.3.2 Hạn chế 10
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 12
3.1 Thực tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi 12
3.2 Một số kiến nghị 13
Trang 3CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP
ĐỒNG
1.1 Khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Thiệt hại ngoài hợp đồng là những thiệt hại không phải do vi phạm nghĩa
vụ có thoả thuận trong hợp đồng gây ra mà là do vi phạm pháp luật, do tội phạm gây ra Ví dụ: do xâm phạm sức khoẻ, tính mạng, do gây tai nạn gây ra, Do
đó, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm pháp lý, thực hiện trách nhiệm dân sự Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một chế định quan trọng trong luật dân sự
Căn cứ theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, phần thứ ba của Bộ luật Dân sự năm 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” Tuy nhiên, luật không nêu rõ khái niệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng mà chỉ quy định về các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường, điều kiện, nguyên tắc bồi thường, …
Theo khoản 1 Điều 584 quy định về Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh
dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác” 1 Dựa vào đó, ta có thể đưa ra khái niệm cơ bản về trách
nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như sau:
Thứ nhất, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là loại trách nhiệm dân sự
phát sinh bên ngoài, không phụ thuộc hợp đồng mà chỉ cần tồn tại một hành vi
vi phạm pháp luật dân sự, cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác và hành vi
1 Khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
1
Trang 4này cũng không liên quan đến bất cứ một hợp đồng nào có thể có giữa người gây thiệt hại và người bị thiệt hại
Thứ hai, thiệt hại phải là nền tảng cơ bản và là điều kiện bắt buộc của
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
1.2 Đặc điểm trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Dựa vào khái niệm đã nêu ở trên, có thể thấy trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng có những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự
Thứ hai, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm vật chất
Thứ ba, việc chịu trách nhiệm gây ra hậu quả bất lợi mà một chủ thể phải gánh chịu
Thứ tư, việc bồi thường chỉ phát sinh khi có thiệt hại xảy ra
Thứ năm, việc bồi thường được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế
Thứ sáu, không có quan hệ hợp đồng giữa hai bên chủ thể
1.3 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ phát sinh khi có đủ các điều kiện do pháp luật quy định Tuy Bộ luật Dân sự năm 2015 không quy định cụ thể các điều kiện làm phát sinh quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng những ta có thể dựa trên những căn cứ phát sinh trách nhiệm mà pháp luật quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015:
“Điều 584 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại
1 Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà
2
Trang 5gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác.
2 Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
3 Trường hợp tài sản gây thiệt hại thì chủ sở hữu, người chiếm hữu tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, trừ trường hợp thiệt hại phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều này.” 2
Theo đó, những điều kiện để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là:
- Phải có thiệt hại xảy ra Vì thiệt hại là điều kiện bắt buộc phải có trong
trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, không có thiệt hại thì không phải bồi thường Thiệt hại có thể là thiệt hại về vật chất và thiệt hại do tổn thất tinh thần
- Phải có hành vi trái pháp luật Hành vi trái pháp luật là những xử sự cụ
thể của con người được thể hiện thông qua hành động hoặc không hành động trái với các quy định của pháp luật
- Phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp
luật Nhân quả là mối liên hệ nội tại, khách quan và tất yếu giữa các hiện tượng
tựu nhiên cũng như xã hội, trong phải tồn tại nguyên nhân và sau đó là kết quả Việc xác định mối quan hệ nhân quả chính là xác định mối liên hệ khách quan
đó, nguyên nhân bao giờ cũng có trước kết quả và kết quả là hậu quả của nguyên nhân Vì vậy, thiệt hại xảy ra phải là kết quả tất yếu của hành vi trái pháp luật và ngược lại hành vi trái pháp luật là nguyên nhân gây ra thiệt hại
- Phải có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý của người gây thiệt hại Lỗi là một trong
những điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường Tuy nhiên, trong trách
2 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3
Trang 6nhiệm dân sự do gây thiệt hại, mức độ lỗi ảnh hưởng rất ít đến việc xác định trách nhiệm Có những trường hợp người gây ra thiệt hại vẫn phải bồi thường dù không có lỗi như trong khoản 3 Điều 601, Điều 602 Bộ luật Dân sự năm 2015
Thêm vào đó, các trường hợp người gây thiệt hại không có lỗi mà pháp luật quy định vẫn phải bồi thường là trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự gây thiệt hại thì cha mẹ hoặc người giám hộ phải có trách nhiệm bồi thường Với quy định này pháp luật đã dự liệu các trường hợp gây ra thiệt hại dù không có lỗi vẫn phải bồi thường nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại
1.4 Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi, tình trạng tài sản và khả năng bồi thường của cá nhân Theo đó, dựa vào Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015, có thể thấy các quy định về năng lực bồi thường thiệt hại của cá nhân như sau:
“1 Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây thiệt hại thì phải tự bồi thường.
2 Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà còn cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều
599 của Bộ luật này.
Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình.
3 Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi gây thiệt hại mà có người giám hộ thì người giám hộ đó được dùng tài sản của người được giám hộ
4
Trang 7để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường thì người giám hộ phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ thì không phải lấy tài sản của mình để bồi thường.” 3
1.5 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại
Căn cứ vào Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định năm nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng:
“1 Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Các bên
có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2 Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
3 Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.” 4
3 Điều 586 Bộ luật Dân sự năm 2015
4 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015
5
Trang 8CHƯƠNG 2 TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI NGOÀI HỢP ĐỒNG TRONG
TRƯỜNG HỢP CÁC BÊN ĐỀU CÓ LỖI
2.1 Khái quát chung về lỗi
2.1.1 Khái niệm về lỗi trong Luật Dân sự Việt Nam
Lỗi là quan hệ giữa chủ thể thực hiện hành vi trái pháp luật với xã hội mà nội dung của nó là sự phủ định yêu cầu của xã hội được thể hiện thông qua các quy định của pháp luật Khi một người có đủ nhận thức và điều khiển để lựa chọn cách xử sự sao cho xử sự đó phù hợp với pháp luật, tránh thiệt hại cho chủ thể khác nhưng vẫn thực hiện hành vi gây thiệt hại thì người đó có lỗi
Như vậy, lỗi là trạng thái tâm lý của người có hành vi gây thiệt hại, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả của hành vi mà họ thực hiện Căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự, lỗi được khái quát như sau:
Lỗi trong trách nhiệm dân sự bao gồm lỗi cố ý, lỗi vô ý.
Lỗi cố ý là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Lỗi vô ý là trường hợp một người không thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy
ra hoặc thấy trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được5
2.1.2 Ý nghĩa của yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
Thứ nhất, lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
5 Điều 364 Bộ luật Dân sự năm 2015.
6
Trang 9Thứ hai, lỗi có ý nghĩa trong việc xác định mức bồi thường thiệt hại.
2.2 Quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
2.2.1 Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại dựa vào việc có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường
Tuy nhiên, ở trường hợp các bên cùng có lỗi, pháp luật lại đưa ra căn cứ riêng, quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015: “Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.”
Như vậy, căn cứ để phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong trường hợp các bên đều có lỗi ngoài các vấn đề cơ bản như có thiệt hại xảy ra, các hành vi trái pháp luật thì yếu tố lỗi phát sinh được đặt lên hàng đầu để trường hợp này được hoàn chỉnh và cụ thể, trở thành căn cứ tiên quyết để phát sinh trách nhiệm bồi thường
2.2.2 Chủ thể của trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
Trong trường hợp các bên đều có lỗi, căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường được chia thành các trường hợp như sau:
Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó
là vô ý hay cố ý, mà người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường Trường hợp này phù hợp với việc gây thiệt hại trong tình huống bất ngờ
7
Trang 10Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại cũng có lỗi vô ý trong việc gây ra thiệt hại thì trách nhiệm này là trách nhiệm hỗn hợp
Người gây thiệt hại có lỗi vô ý, người bị thiệt hại có lỗi cố ý thì người gây thiệt hại không phải bồi thường
Qua ba cách phân tích trên, trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định cụ thể ở yếu tố lỗi, từ đó thấy được trách nhiệm của các bên trong từng trường hợp cụ thể
2.2.3 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được xác định dựa vào nguyên tắc chung
về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của pháp luật dân sự Nguyên tắc bồi thường thiệt hại dựa vào mức độ lỗi của các bên, bên cạnh đó còn dựa vào các nguyên tắc cơ bản được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015
Tuy nhiên, đối với trường hợp các bên đều có lỗi, Bộ luật Dân sự năm
2015 lại thể hiện tính cụ thể và rõ ràng trong việc nêu rõ từng trường hợp tại khoản 4 và khoản 5 Điều 585
“4 Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
5 Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.” 6
Như vậy, có thể thấy rằng, nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định dựa vào các yếu tố cơ bản, nhưng đều dựa trên nguyên tắc công bằng và bình đẳng
2.2.4 Mức bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm bồi thường trong trường hợp các bên cùng có lỗi
6 Khoản 4, 5 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015.
8
Trang 11Để xác định mức bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên đều có lỗi, nhà làm luật cần xác định dựa trên yếu tố lỗi, ngoài ra còn là mức độ thiệt hại gây ra Cụ thể, theo quy định của pháp luật, tại Điều 363 Bộ luật Dân sự 2015 quy định “Trường hợp vi phạm nghĩa vụ và có thiệt hại là do một phần lỗi của bên bị vi phạm thì bên vi phạm chỉ phải bồi thường thiệt hại tương ứng với mức
độ lỗi của mình.” Như vậy, mức độ bồi thường thiệt hại được xác định tùy theo từng trường hợp cụ thể, cũng như cần căn cứ vào các yếu tố khác như nguyên tắc bồi thường, trách nhiệm bồi thường
2.3 Đánh giá pháp luật hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên cùng có lỗi
2.3.1 Ưu điểm
Thứ nhất, pháp luật hiện hành quy định cụ thể và rõ ràng trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp các bên đều cùng có lỗi.
Để có cái nhìn cụ thể hơn nhằm thấy được ưu điểm của pháp luật hiện hành, ta so sánh và đối chiếu một vài điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với Bộ luật Dân sự năm 2005:
Nếu như trước đây, Bộ luật Dân sự năm 2005 không có quy định về trách nhiệm hạn chế thiệt hại của chủ thể gây thiệt hại, cụ thể hơn là lỗi của bên bị
thiệt hại thì ở Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung nguyên tắc này vào khoản 5 Điều 585: “Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt
hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”.
Thứ hai, pháp luật hiện hành ưu tiên bảo vệ con người hơn việc cứng nhắc tuân thủ theo pháp luật
Ở các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 585 Bộ luật Dân sự năm
2015 về việc chịu trách nhiệm bồi thường, trong đó nêu rõ người chịu trách
nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình Điều này
9