1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO ĐỔI MỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THEO NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII

14 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 107 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Triết học Mác Lênin là một trong ba bộ phận cơ bản hợp thành chủ nghĩa Mác được xây dựng và phát triển trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc nhưng thành tựu tiến bộ của tư duy nhân loại. Triết học Mác Lênin ra đời đã đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển về tư tưởng triết học nhân loại khắc phục triệt để những hạn chế của thế giới quan duy vật siêu hình, phương pháp luận nhận thức duy tâm và sự tách rời cơ học giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trước đó. Trong triết học Mác Lênin, chủ nghĩa duy vật và phương pháp luận tư duy biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau. Lênin đã viết MácĂnghen đã “ làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức xã hội loại người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”1. Sự ra đời của triết học MácLênin là một tất yếu khách quan trước những yêu cầu của các điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội loại người nói chung và của triết học nhân loại nói riêng. Triết học MácLênin từ khi ra đời, cho đến khi hoàn thành với tính cách là một hệ thống triết học hoàn chỉnh nhất, đã phải trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trước sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, và các luồng triết học phi mác xít; nhưng với bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn triết học MácLê nin không những đã tồn tại, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, hợp quy luật của mình; mà còn là vũ khí lý luận sắc bén cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh chống lai sự áp bực, bốc lột của giai cấp tư sản để giải phóng mình, giải phóng xã hội, xây dựng nên một xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ QUỐC PHÒNG

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ



THU HOẠCH MÔN: TRIẾT HỌC NỘI DUNG NGUYÊN LÝ VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ SỰ VẬN DỤNG VÀO ĐỔI MỚI NỀN GIÁO DỤC VIỆT NAM THEO NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẢNG LẦN THỨ XIII Số phách (Do Phòng SĐH ghi) Người chấm (Ký, ghi rõ họ tên) Điểm Bằng số Bằng chữ 

Số phách (Do Phòng SĐH ghi) Họ và tên:

Ngày sinh:

Lớp:

Chuyên ngành:

Ngày thực hiện: 24/10/ 2021

Trang 2

Triết học Mác -Lênin là một trong ba bộ phận cơ bản hợp thành chủ nghĩa Mác được xây dựng và phát triển trên cơ sở kế thừa và tiếp thu có chọn lọc nhưng thành tựu tiến bộ của tư duy nhân loại Triết học Mác -Lênin ra đời

đã đánh dấu bước ngoặt cách mạng trong sự phát triển về tư tưởng triết học nhân loại khắc phục triệt để những hạn chế của thế giới quan duy vật siêu hình, phương pháp luận nhận thức duy tâm và sự tách rời cơ học giữa thế giới quan duy vật và phép biện chứng trước đó Trong triết học Mác - Lênin, chủ nghĩa duy vật và phương pháp luận tư duy biện chứng thống nhất hữu cơ với nhau Lênin đã viết Mác-Ănghen đã “ làm cho chủ nghĩa duy vật trở nên hoàn

bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ nhận thức

xã hội loại người, chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”1 Sự ra đời của triết học Mác-Lênin là một tất yếu khách quan trước những yêu cầu của các điều kiện hoàn cảnh khách quan và chủ quan để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội loại người nói chung và của triết học nhân loại nói riêng Triết học Mác-Lênin từ khi ra đời, cho đến khi hoàn thành với tính cách là một hệ thống triết học hoàn chỉnh nhất, đã phải trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm trước sự chống phá quyết liệt của chủ nghĩa cơ hội, xét lại, và các luồng triết học phi mác xít; nhưng với bản chất cách mạng, khoa học và nhân văn triết học Mác-Lê nin không những đã tồn tại, khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo, hợp quy luật của mình; mà còn là vũ khí lý luận sắc bén cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động trong sự nghiệp đấu tranh chống lai sự áp bực, bốc lột của giai cấp tư sản để giải phóng mình, giải phóng xã hội, xây dựng nên một xã hội xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa

Phép biện chứng duy vật là một nội dung quan trọng của triết học Mác-Lênin-phương pháp luận nhận thức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn-là sự thống nhất hữu cơ giữa lý luận và phương pháp khoa học, cách mạng Phép biện chứng là khoa học về mối liên hệ phổ biến, là bộ môn khoa học nghiên cứu

1 V.I.Lênin:Toàn tập,Nxb Tiến bộ Matxcơva, 1980, t23, tr.53

Trang 3

những quy luật vận động phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Phép biện chứng có nhiệm vụ phải chỉ ra những quy luật để định hướng cho con người trong nhiệm vụ thực tiễn Phép biện chứng duy vật không chỉ phản ánh đúng

sự vận động của tự nhiên, xã hội, tư duy mà còn giúp con người nhận thức đúng đắn hơn về thế giới khách quan từ đó tích cực lao động cải tạo thế giới nhằm mục đích phục vụ cho cuộc sống con người Lịch sử phát triển của triết học gắn liền với sự ra đời, tồn tại và thay thế của ba hình thức của phép biện chứng đó là: Phép biện chứng chất phác, phép biện chứng duy tâm, phép biện chứng duy vật Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển nên các nhà triết học chỉ dựa vào cảm giác, vào cái nhìn trực tiếp để xem xét mọi vật Phép biện chứng này còn thiếu căn cứ khoa học do vậy mà nó đã bị phép siêu hình, xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XV thay thế Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học Cantơ và hoàn thiện trong triết học của Hêghen Kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các nhà triết học trước đó Mác và Anghen đã xây dựng và phát triển phép biện chứng lên một tầm cao mới và khác biệt hẳn về chất so với các phép biện chứng ra đời trong lịch sử: Phép biện chứng duy vật Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ sở, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực là cơ sở lý luận để xây dựng các nguyên tắc phương pháp luận trong nhận thức và hoạt động thực tiễn đó là: toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển Trong hệ thống các nguyên lý của phép biện chứng duy vật, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong những nguyên lý khái quát nhất nó giúp làm sáng tỏ những quy luật của sự liên hệ tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng phong phú, đa dạng của thế giới khách quan

Mối liên hệ phổ biến là khái niệm đúng để chỉ sự ràng buộc, nương tựa, tác động qui định lẫn nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Theo quan điểm của các nhà duy vật siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách rời nhau, cái này bên cạnh cái kia, giữa chúng không có

Trang 4

sự phụ thuộc, không có sự ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ giữa chúng

có chăng chỉ là những sự liên hệ hời hợt, bên ngoài mang tính ngẫu nhiên, không phổ biến Một số người theo quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau Các nhà duy tâm thì cho rằng mối liên hệ tác động qua lại giữa các sự vật, hiện tượng chẳng qua chỉ là sự phản ánh của tư tưởng, ý niệm tuyệt đối ra ngoài hiện thực Nhân tố quy định sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới là các lực lượng siêu tự nhiên hay ở ý thức, ở cảm giác của con người Xuất phát từ quan điểm duy tâm chủ quan, Béccơli coi cơ sở của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng là cảm giác, còn trên quan điểm duy tâm khách quan, Hêghen lại cho rằng cơ sở của sự liên hệ qua lại giữa các sự vật, hiện tượng là ở ý niệm tuyệt đối

Đối lập với các quan điểm phản động, phản khoa học của các nhà duy vật siêu hình và duy tâm, quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định mọi sự vật hiện tượng đều tồn tại trong mối liên hệ phổ biến Mọi mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, là vốn có của mọi sự vật, hiện tượng

Sự vật là tiền đề, là điều kiện tồn tại và phát triển của nhau Chúng thường xuyên thâm nhập, chuyển hoá lẫn nhau làm cho ranh giới giữa các lớp sự vật không phải là tuyệt đối mà bao giờ cũng có lớp trung gian chuyển tiếp Mối liên hệ phổ biến không chỉ diễn ra giữa các sự vật khác nhau mà còn diễn ra trong bản thân từng sự vật và đều là khách quan Như vậy, các sự vật hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng, khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao nhất là bộ

óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh của các quá trình vật chất khách quan Ngay cả những vật vô tri vô giác cũng đang hàng ngày chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác như: ánh sáng, nhiệt độ,

độ ẩm và đôi khi cũng chịu sự tác động của con người Con người - một

Trang 5

sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên luôn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng trong giới tự nhiên và ngay cả các yếu tố trong chính bản thân mình Ngoài sự tác động của tự nhiên như các sự vật khác còn tiếp nhận sự tác động của xã hội và của những người khác Chính con người và chỉ có con người mới có thể tiếp nhận vô vàn mối quan hệ đó Vấn đề là con người phải hiểu biết các mối liên hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã hội và của bản thân

Mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng không chỉ mang tính khách quan

mà còn mang tính phổ biến Tính phổ biến của mối liên hệ được thể hiện ở chỗ: thứ nhất bất cứ sự vật, hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, liên hệ với quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế hiện nay trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt của đời sống xã hội Nhiều vấn đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh tật Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các

sự vật hiện tượng, các quá trình, mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, có mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động, phát triển qua nhiều giai đoạn phát triển khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau, tạo thành lịch sử phát triển hiện thực của các sự

Trang 6

vật và các quá trình tương ứng Tính đa dạng của sự liên hệ do tính đa dạng trong sự tồn tại, sự vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng quy định Các mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới vật chất phong phú, đa dạng cả về cấp độ, phạm vi, tính chất, vị trí và vai trò nhưng dù tồn tại dưới những hình thức riêng biệt, cụ thể trong những điều kiện nhất định thì cũng chỉ là biểu hiện của mối liên hệ phổ biến nhất, chung nhất Dựa vào tính đa dạng có thể phân chia ra các mối liên hệ khác nhau theo từng cặp: Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Mối liên

hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định Sự tác động, ảnh hưởng của các mối liên hệ bên ngoài thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy tác dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật Tuy nhiên, trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định mối liên hệ bên ngoài cũng hết sức quan trọng, đôi khi có thể giữ vai trò quyết định Mối liên hệ bản chất và không bản chất; mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên cũng có tính chất tương tự như đã nói ở trên Ngoài ra chúng còn có những nét đặc thù Chẳng hạn như, cái ngẫu nhiên khi xem xét trong quan hệ này lại là cái tất nhiên khi xem xét trong mối liên hệ khác, ngẫu nhiên lại là hình thức biểu hiện ra bên ngoài của cái tất nhiên, hiện tượng là hình thức biểu hiện ít nhiều đầy đủ của bản chất Đó là những hình thức đặc thù của sự biểu hiện những mối liên hệ tương ứng

Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hoá lẫn nhau Sự chuyển hoá như vậy có thể diễn ra hoặc

do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do kết quả vận động khách

quan của chính sự vật và hiện tượng Tuy sự phân chia thành các loại mối liên

hệ chỉ mang tính tương đối nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết bởi vì mỗi

Trang 7

loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ để có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là cơ sở lý luận trực tiếp để xây dựng quan điểm toàn diện trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về

sự vật hiện tượng Một mặt, chúng ta phải xem xét sự vật, hiện tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp) V.I Lênin đã viết "muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó" Bên cạn đó, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Tương ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn Nhận thức đúng điều này mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem

đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để đánh giá đúng bản chất sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để để phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc."

Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ

nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ có thể sẽ là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi phải

Trang 8

đi tới tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng Quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng mà phải làm nổi bật cái

cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật ngụy biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên

hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Thuật ngụy biện cũng chỉ chú ý đến những mặt, những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện đèu là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng

Nắm chắc nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và quan điểm toàn diện xem xét sự vật hiện tượng từ nhiều khía cạnh, từ mối liên hệ của nó với sự vật hiện tượng với sự vật hiện tượng khác sẽ giúp con người có nhận thức sâu sắc, toàn diện về sự vật và hiện tượng tránh được quan điểm phiến diện về sự vật và hiện tượng chúng ta nghiên cứu Từ đó có thể kết luận về bản chất qui luật chung của chúng để đề ra những biện pháp kế hoạch có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất cho hoạt động của bản thân Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, trung thành tuyệt đối và vận dụng linh hoạt sáng tạo các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng nói chung và quan điểm toàn diện nói riêng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đổi mới các lĩnh vực của đời sống xã hội thu được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa trọng đại và giá trị lịch sử to lớn Đối với giáo dục và đào

Trang 9

tạo-lĩnh vực trực tiếp thực hiện chiến lược bồi dưỡng nguồn nhân lực cho cách mạng Việt Nam- Đảng đã vận dụng có hiệu quả những nội dung cơ bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và quan điểm toàn diện vào đổi mới và phát triển nền giáo dục cho phù hợp với điều kiện thực tiễn phát triển của đất nước Đổi mới và phát triển toàn diện giáo dục-đào tạo được Đảng và Nhà nước ta xác định là quốc sách hàng đầu, nền tảng và động lực để thúc đẩy sự phát triển xã hội Tư tưởng về đổi mới và phát triền toàn diện nền giáo dục cách mạng đã được bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX,

X, XI của Đảng, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001- 2010, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020

Sau 25 năm qua tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử Lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển toàn diện trên cả ba mặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, giáo dục và đào tạo nước ta những năm qua vẫn còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm được khắc phục Văn kiện Đại hội XI của Đảng đánh giá toàn diện thực trạng nền giáo dục nước nhà đó là: "Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục

nhân của những yếu kém trước hết phải kể đến tư duy phân tích, đánh giá, xem xét toàn diện về giáo dục-đào tạo còn chậm đổi mới, chưa thích ứng với

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr167-168

Trang 10

nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; chưa nhận thức đúng vai trò quyết định của đội ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, giáo dục và đào tạo phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, bị chi phối bởi tâm lý truyền thống và chịu nhiều tác động tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường trong khi khả năng đáp ứng của ngành và trình độ phát triển kinh tế của đất nước còn hạn chế Bước vào thời kì mới sự phát triển của đất nước, bên cạnh những thuận lợi cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục-đào tạo của nước nhà Bên cạnh những thời cơ thì cũng xuất hiện nhiều thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục-đào Những vấn đề đó đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới cả về triết lý, lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn để phát triển giáo dục, đào tạo Vì vậy đổi mới toàn diện nền giáo dục Việt Nam

là yêu cầu khách quan, nhu cầu cấp thiết của xã hội

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục-đào tạo theo tinh thần Đại hội XI của Đảng là sự vận dụng sáng tạo quan điểm toàn diện của chủ nghĩa duy vật biện chứng, là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo Đó là phát triển kinh tế - xã hội phải là

cơ sở quan trọng để tiến hành đổi mới giáo dục, đào tạo Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo phải gắn chặt với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo phải tiến hành đồng bộ, hệ thống trong tất cả các khâu, các bước, các nhân tố của nền giáo dục; phải đặt bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển khoa học công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức đang diễn ra trên phạm vi toàn thế giới, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại, nhu cầu học tập của nhân dân, truyền thống giáo dục, đào tạo của đất nước Đổi mới toàn diện giáo dục-đào tạo cũng phải tiếp biến và phát huy được truyền thống lịch

sử giáo dục Việt Nam, nhất là những thành tựu của nền giáo dục, đào tạo cách mạng từ năm 1945 đến nay

Ngày đăng: 12/01/2022, 14:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w