1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp Trung học cơ sở, từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên

92 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên nhân của hạn chế ...64 Chương III: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ KHỎI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ, TỪ THỰC TIỄN TÌNH HƯNG YÊN ..

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

NGUY ỄN THỊ THẢO LY

LU ẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ N ỘI – 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

NGUY ỄN THỊ THẢO LY

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các

số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo

vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NG ƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Thị Thảo Ly

Trang 4

M ỤC LỤC

Lời cam đoan 1

Mục lục 2

Danh mục các chữ viết tắt 5

MỞ ĐẦU 6

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ KHỎI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH CẤP THCS 10

1.1 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường và các hình thức bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở 10

1.1.1.Khái niệm, đặc điểm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở 10

1.1.2 Các hình thức bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở 20

1.1.3 Ý nghĩa của quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở .24

1.2 Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường 26

1.2.1 Pháp luật quốc tế 26

1.2.2 Pháp luật Việt Nam 29

1.3 Thực trạng bạo lực học đường tại một số quốc gia trên thế giới – ý nghĩa đối với Việt Nam 37

1.3.1 Tình hình bạo lực học đường ở một số nước trên thế giới 38

1.3.2 Bài học đối với Việt Nam 41

Chương II: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ KHỎI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH CẤP THCS Ở TỈNH HƯNG YÊN 46

Trang 5

2.1 Khái quát đặc điểm tình hình học sinh cấp trung học cơ sở và bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở ở Việt Nam và tỉnh Hưng Yên 462.1.1 Đặc điểm tình hình học sinh cấp trung học cơ sở 462.1.2 Tình hình bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở ở Việt Nam và

ở tỉnh Hưng Yên từ năm 2016 đến năm 2020 482.2 Kết quả, hạn chế bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở ở tỉnh Hưng Yên 552.2.1 Kết quả bảo đảm 552.2.2 Hạn chế 612.3 Nguyên nhân của những kết quả và hạn chế trong việc bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở ở tỉnh Hưng Yên 632.3.1 Nguyên nhân của những kết quả 632.3.2 Nguyên nhân của hạn chế 64

Chương III: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG BẢO ĐẢM QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ KHỎI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ, TỪ THỰC TIỄN TÌNH HƯNG YÊN 68

3.1.Quan điểm bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở, từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên 683.2.Giải pháp tăng cường bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở, từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên 703.2.1 Rà soát, sửa đổi bổ sung các quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực

học đường 703.2.2 Đưa nội dung quyền con người, quyền trẻ em, phòng chống bạo lực học đường, vào chương trình giáo dục cấp trung học cơ sở 72

Trang 6

3.2.3 Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền các quan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, của Tỉnh Ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh về phòng,

chống bạo lực học đường 743.2.4 Nâng cao nhận thức của học viên về tác hại của bạo lực học đường, kết hợp giáo dục kỹ năng sống, kỹ năng xử lý xung đột, bạo lực; phòng, chống bạo lực cho học sinh cấp trung học cơ sở 763.2.5 Có hình thức xử lý đối với các hành vi vi phạm bạo lực học đường 773.2.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nội bộ đối với các cơ sở giáo dục cấp trung học cơ sở 803.2.7 Thường xuyên nêu gương người tốt, việc tốt trong việc phát hiện, giải quyết bạo lực học đường 81

KẾT LUẬN 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO 85

Trang 8

M Ở ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trẻ em chính là những chủ nhân tương lai của đất nước, vị trí của trẻ em được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định rõ: “Ngày nay các cháu là nhi đồng Ngày sau các cháu là người chủ của nước nhà, của thế giới” [16, tr.185-187] Ngày nay,

tư tưởng đó của Bác Hồ vẫn tiếp tục được kế thừa, phát triển và hoàn toàn phù hợp

với tư tưởng của thời đại “Trẻ em hôm nay –thế giới ngày mai” Chính vì vậy, việc

bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là một sự nghiệp lớn lao mang ý nghĩa to lớn

Sự nghiệp ấy đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, kết hợp chặt chẽ giữa gia đình - nhà trường - xã hội Việc bảo đảm mọi quyền lợi và nghĩa vụ của trẻ em chủ yếu phụ thuộc vào trách nhiệm của gia đình, nhà trường, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân Mặc dù đã có sự nỗ lực rất lớn của các

cấp, các ngành xong sự nghiệp bảo đảm quyền được bảo vệ của trẻ em trong môi

trường học đường đang tồn tại những hạn chế, bất cập không đáng có

Tình trạng bạo lực học đường trước giờ vẫn là vấn nạn tại hầu hết những

quốc gia trên thế giới, giờ đây đang là vấn đề rất nghiêm trọng tại Việt Nam Theo

số liệu của Bộ GD-ĐT, chỉ trong một năm học toàn quốc xảy ra gần 1600 vụ học sinh đánh nhau trong và ngoài trường học, khoảng 5.200 học sinh thì có một vụ đánh nhau và 11.000 học sinh thì có một em bị thôi học vì đánh nhau[44] Trong Hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực học đường do Bộ GD-ĐT tổ chức ngày 25/11/2009

tại Hà Nội, Bộ GD-ĐT cho biết: Thống kê từ 38 Sở GD-ĐT (trên tổng số 63 Sở GD-ĐT) gửi về bộ từ năm 2003 đến năm 2009 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử lý kỷ luật Gần đây xảy ra nhiều vụ bạo lực học đường như:

nữ sinh tụ tập đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn; nam sinh dùng dao, kiếm, mã tấu chém nhau ngay trong trường học Ở nhiều nơi, do mâu thuẫn trong tình bạn, tình yêu đã dùng dao rạch mặt bạn, đâm chết bạn giữa sân trường… Đáng lưu ý là các

Trang 9

vụ việc học sinh nữ đánh nhau hội đồng, làm nhục bạn, quay phim rồi đưa lên mạng internet Những vụ giết người, cướp tài sản, hiếp dâm của học sinh, sinh viên cũng ngày càng nhiều Những số liệu này cho thấy, tình trạng bạo lực học đường đang là vấn đề nhức nhối tại mọi cấp học, lớp học với mức độ gia tăng ngày càng cao và hậu quả ngày càng lớn

Cũng theo báo cáo của Tổng cục Cảnh sát phòng chống tội phạm, từ năm

2013 đến năm 2015, đã xử lý hơn 25.00 vụ phạm pháp hình sự với 42.000 đối tượng, trong đó có hơn 75% là thanh niên và học sinh, sinh viên Nghiêm trọng hơn, đối tượng phạm tội ngày càng có xu hướng trẻ hóa đặt biệt đối với cấp THCS, mức độ phạm tội ngày càng nghiêm trọng, hành vi bạo lực cũng ngày càng

đa dạng hơn Học sinh trung học cơ sở đang ở trong giai đoạn phát triển tâm lí và

nhận thức xã hội không cân bằng với phát triển sinh học Chính sự mất cân bằng trong quá trình phát triển tâm sinh lý đã khiến học sinh ở lứa tuổi này gặp khó khăn khi kiểm soát cảm xúc và hành vi của mình Cùng với những ảnh hưởng từ môi trường sống, gia đình, nhà trường, nhóm bạn… học sinh ở giai đoạn này rất dễ gây

ra những hành vi bạo lực với những học sinh khác

Trong thời gian gần đây, dư luận xuất hiện rất nhiều các vụ việc liên quan đến hành vi bạo lực của học sinh đặc biệt là cấp THCStrong đó có nhiều trường hợp xảy ra ở địa bản tỉnh Hưng Yên Ban giám hiệu nhà trường đã có nhiều biện pháp kỉ luật học sinh và các biện pháp phối hợp cùng gia đình và các cơ quan có

chức năng giáo dục ý thức học sinh nhằm hạn chế tình trạng trên nhưng hành vi

bạo lực giữa các học sinh trong trường vẫn còn tồn tại Câu hỏi đặt ra là: Thực

trạng bạo lực học đường và việc bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay như thế nào? Nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng trên? Gia đình, nhà trường và xã hội đã có

những giải pháp như thế nào để bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của trẻ em cấp THCS? Đặc biệt, cho đến nay chưa có nghiên cứu chuyên

Trang 10

biệt nào về quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS, thực tiễn tại một địa phương cụ thể Với tất cả những lý do trên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp

Trung học cơ sở, từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên” Hi vọng nghiên cứu này có thể

làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn, đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo quyền được bảo

vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nói riêng và đóng góp những giải pháp thiết thực vào sự nghiệp bảo vệ trẻ em ở nước

ta hiện nay

2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 M ục tiêu nghiên cứu

Đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về quyền được bảo vệ khỏi bạo lực

học đường của học sinh cấp THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; đánh giá thực tiễn

thực thi cơ chế ngăn ngừa tình trạng bạo lực học đường từ đó chỉ ra những ưu điểm, mặt tích cực, cùng với những bất cập, hạn chế, những tác động của bạo lực học đường đến sức khỏe tinh thần, sức khỏe thể chất và sức khỏe xã hội Trên cơ

sở đó, đề xuất các giải pháp xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đề xuất các

giải pháp thúc đẩy thực thi pháp luật về bảo đảm bảo quyền được bảo vệ khỏi bạo

lực học đường của học sinh cấp THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

2.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ của đề tài là tìm hiểu thực trạng bạo lực học đường của cấp THCS trên địa bàn cả nước nói chung và cụ thể tại tỉnh Hưng Yên hiện nay Tìm

hiểu những nguyên nhân làm nảy sinh hành vi bạo lực trên địa bàn hiện nay

Những hậu quả của hành vi bạo lực trong học đường ảnh hưởng đến trẻ em, gia đình, nhà trường và toàn xã hội Tìm hiểu dư luận xã hội về thực trạng và những

giải pháp phòng chống bạo lưc học đường đã được thực hiện

3 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu về các nhóm quyền của trẻ em được pháp

Trang 11

luật Việt Nam quy định Theo đó, Luận văn tập trung đánh giá thực trạng pháp luật

và thực thi pháp luật về việc bảo vệ tất cả các quyền của trẻ em trên nói chung và quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường nói riêng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

hiện nay

4 Phạm vi nghiên cứu

- Không gian : địa bàn tỉnh Hưng Yên

- Phạm vi về thời gian nghiên cứu: từ năm 2015 - 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng kết hợp nhiều phương pháp, bao gồm phương pháp duy vật

biện chứng, phương pháp so sánh, phương pháp hệ thống, phương pháp phân tích

và tổng hợp để nghiên cứu cơ sở lý luận khoa học, hoàn thiện hệ thống lý luận pháp lý Các phương pháp được sử dụng một cách linh hoạt để đảm bảo hiệu quả

và tính thuyết phục của việc nghiên cứu

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống, toàn diện về thực trạng việc bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp Trung học cơ sở trên địa bàn cả nước nói chung và cụ thể tại tỉnh Hưng Yên hiện nay

Luận văn phân tích, đánh giá khái quát và đưa ra khái niệm cũng như nội hàm của quyền được bảo vệ, quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp Trung học cơ sở trên địa bàn cả nước nói chung và cụ thể tại tỉnh Hưng Yên hiện nay

Luận văn hệ thống và đánh giá tương đối toàn diện các quy định pháp luật liên quan đến thực trạng của vấn đề, có minh chứng thực tiễn để đánh giá thực trạng, tính phù hợp của quy định Từ đó, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp pháp

luật để góp phần thực hiện triệt để việc bảo vệ quyền của các em học sinh, đồng

thời phòng, chống tình trạng bạo lực học đường trong trường học trên địa bàn tỉnh

Trang 12

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN QUỐC TẾ VỀ QUYỀN ĐƯỢC BẢO VỆ KHỎI BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG CỦA HỌC SINH CẤP THCS 1.1 Khái ni ệm, đặc điểm và ý nghĩa quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường và các hình thức bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở 1.1.1.Khái ni ệm, đặc điểm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh c ấp trung học cơ sở

- Khái niệm Bạo lực

Trước tiên cần tìm hiểu khái niệm bạo lực là gì ? Theo từ điển Tiếng Việt –

Viện ngôn ngữ học thì “Bạo lực chính là dùng sức mạnh để trấn áp hoặc lật đồ”[15, tr41] Theo định nghĩa trên thì có thể hiểu rằng bạo lực là hành động thiên

về việc dùng sức mạnh, tấn công nhằm đàn áp hoặc lật đổ một cá nhân, tổ chức hay thế lực nào đó Một định nghĩa khác lại cho rằng bạo lực là tất cả những hành động

có nguy cơ hoặc đã đưa đến kết quả là sự đau đớn, tổn thất về mặt tinh thần, văn hóa, xã hội cho đối tượng chịu bạo lực

Trong cuốn “Bạo lực trên cơ sở giới” của TS Vũ Mạnh Lợi lại cho rằng:

“Những hàng động có tính thỉnh thoảng gây ra những tổn thương nghiêm trọng về sức khỏe hay tâm lý được coi là bạo lực”[50] Khái niệm này nhấn mạnh về mức

độ tổn thương về mặt sức khỏe và tâm lý cho người chịu bạo lực, đồng thời nhấn

mạnh về tần suất của hành động theo nghĩa, dù hành động là thỉnh thoảng nhưng gây ra những tổn thương về mặt sức khỏe hay tâm lý của người chịu bạo lực đều được coi là hành động bạo lực

Trên thế giới, bạo lực là một vấn đề được luật pháp và văn hóa quan tâm với

những nỗ lực nhằm khống chế và ngăn chặn bạo lực Xét về ngữ nghĩa, hành vi

bạo lực được xem xét ở hai góc độ Một là hành vi bạo lực là hành vi có chủ ý, được lên kế hoạch từ trước hoặc do bốc đồng theo tình huống Hai là hành vi bạo lực luôn có mục đích và động cơ thúc đẩy nhằm gây tổn thương về thể chất hoặc

Trang 13

tinh thần cho đối phương nhằm chiếm một ưu thế nào đó về lợi ích hoặc địa vị, danh dự

Những định nghĩa trên tựu trung lại đều nhấn mạnh rằng bạo lực là hành động có nguy cơ hoặc dẫn đến kết quả là sự tổn thương về mặt thể chất, tinh thần, văn hóa, xã hội cho người chịu bạo lực Dù hành động đó diễn ra thường xuyên hay chỉ thỉnh thoảng

Tóm lại bạo lực là những lời nói, thái độ, hành động có khả năng dẫn đến

tổn thất về mặt thể chất, tinh thần, văn hóa, xã hội cho người chịu bạo lực Theo đó hành vi bạo lực là bất cứ những hành vi nào mang tính tấn công, xâm kích (sử dụng lời nói, thể hiện thái độ, hành vi đe dọa, sử dụng công cụ, phương tiện ); không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, pháp lý (xúc phạm, cô lập, uy

hiếp…người khác) dẫn đến hay có khả năng dẫn đến những tổn thất về mặt thể

chất, tinh thần, văn hóa, xã hội cho người chịu bạo lực

- Khái niệm Bạo lực học đường

Học đường là danh từ chỉ môi trường giáo dục trong nhà trường hay các cơ

sở giáo dục khác Môi trường học đường gồm các thành viên: cán bộ quản lý, giáo viên, cán bộ, nhân viên khác và học sinh Trong môi trường học được diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục của cán bộ quản lý, hoạt động giáo dục của giáo viên

và hoạt động học của học sinh

Theo tác giả Dan Olweus, trong cuốn sách “Bắt nạt trong trường học, chúng

ta biết gì và chúng ta có thể làm gì”[55, tr16-17] đã đưa ra định nghĩa bắt nạt trong trường học như một “hành vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có ý định xấu của một

hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn trong việc tự bảo vệ bản thân” Tác giả Milton Keynes định nghĩa: “Bắt nạt là một hành động lặp đi lặp lại một cách hiếu chiến để cố ý làm tổn thương về tinh thần hoặc thể xác cho người khác Bắt nạt là đặc trưng của một cá nhân hành xử theo một cách nào đó để đạt được quyền lực trên người khác”[53] Theo đó, có thể hiểu

Trang 14

khái quát bắt nạt học đường là hiện tượng học sinh mạnh hơn đe dọa học sinh yếu hơn và không có khả năng chống trả Thuật ngữ chung nhất, quen nhất gọi là “bạo

lực học đường” Tựu trung lại thì các khái niệm này đều có bản chất chung là “làm

hại, gây tổn thương về thể chất, tinh thần cho học sinh một cách cố ý”

Khái niệm Bạo lực học đường được giải thích tại Khoản 5, Điều 2, Nghị định 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về môi trường giáo

dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường như sau: “

Bạo lực học đường là hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức

khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi và các hành vi cố ý khác gây tổn hại về thể chất, tinh thần của người học xảy ra trong cơ sở giáo dục hoặc lớp độc lập.” Như vậy, bạo lực học đường là một dạng thức của bạo lực trong

xã hội, hành vi lệch chuẩn thể hiện qua những hành vi thô bạo, ngang ngược, bất

chấp công lý, đạo lý, xúc phạm, trấn áp người khác (có thể dùng lời nói, sức mạnh

cơ bắp hay vũ khí….) gây nên những tổn thương về tinh thần và thể xác ở phạm vi các mối quan hệ trong trường học

Tóm lại bạo lực học đường là việc một hoặc một số thành viên trong môi trường học đường đe dọa sử dụng hoặc sử dụng sức mạnh thể chất hay quyền lực

của mình để gây ra những tổn thương về thể chất, tinh thần hay vật chất cho một hoặc một số thành viên khác Hành vi bạo lực học đường là bất kì một hành vi bạo lực nào làm hại, gây tổn thương về thể chất, tinh thần cho học sinh một cách cố ý, bao gồm các mức độ khác nhau từ không lời đến có lời, từ hành động đơn giản đến thù địch, phá phách, sử dụng công cụ, phương tiện…xảy ra ở trường học hoặc ở bên ngoài trường học nhưng do mối quan hệ học đường gây nên Hành vi bạo lực học đường còn là những hành vi như kết bang nhóm hăm họa bạn bè, ăn hiếp người nhỏ hoặc yếu thế, có thể là hành vi trấn lột đồ đạc - tiền bạc của bạn khác,

thậm chí có thể do ghét nhau lâu ngày nên dẫn đến xô xát đánh nhau hoặc đánh nhau có sử dụng hung khí

Trang 15

Để xác định hành vì nào là hành vi bạo lực, hành vi nào không trong các mối quan hệ giữa các học sinh trong nhà trường, người ta căn cứ vào hai biểu hiện: Một

là, chủ thể có hành vi bạo lực khi thực hiện hành vi có cố ý thực hiện hành động đó hay không; Hai là, mục đích thực hiện hành vi bạo lực nhằm hướng đến điều gì

Chẳng hạn, một học sinh trong lúc vui đùa đã vô tình làm bị thương bạn của mình Hành vi này không được coi là hành vi bạo lực học đường bởi lẽ học sinh gây chấn thương cho bạn là do vô tình, không chủ đích Kết quả chấn thương nằm ngoài mong muốn của học sinh khi chơi đùa Còn trong trường học, học sinh này lợi dung việc chơi đùa để gây chấn thương cho bạn thì học sinh đó được coi là có hành

vi bạo lực học đường

- Khái niệm Học sinh cấp THCS

Học sinh cấp THCS là một bậc học trong hệ thống giáo dục ở Việt Nam, trên học sinh cấp Tiểu học và dưới học sinh cấp Trung học phổ thông THCS kéo dài 4 năm (từ lớp 6 đến lớp 9) Độ tuổi học sinh ở trường THCS là từ 11 tuổi đến

15 tuổi Độ tuổi này trùng khớp với độ tuổi của trẻ em được quy định trong Công ước quốc tế về trẻ em năm 1989: theo quy định tại Điều 1 của Công ước thì trẻ em

là người có độ tuổi dưới 18, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó có quy định độ tuổi sớm hơn và độ tuổi này đã được nội luật hóa vào hệ thống pháp luật Việt Nam thông qua Luật Trẻ em năm 2016 quy định tại Điều 1: Trẻ em là người dưới 16 tuổi

Giai đoạn học sinh THCS là giai đoạn có nhiều biến động trong quá trình phát triển tâm sinh lí, đặc biệt là những thay đổi về tâm lí cá nhân và tâm lí xã hội

Th ứ nhất, đây là thời kỳ quá độ từ tuổi thơ sang tuổi trưởng thành, là độ tuổi có rất

nhiều khả năng, nhiều phương án, nhiều con đường để mỗi trẻ em phát triển thành

một cá nhân độc lập Trong thời kỳ này, nếu sự phát triển được định hướng đúng, được tạo thuận lợi thì trẻ em có nhiều cơ hội sẽ trở thành những cá nhân thành đạt, công dân tốt Ngược lại, nếu không được định hướng đúng, hay bị tác động bởi các

Trang 16

yếu tố tiêu cực thì sẽ xuất hiện hàng loạt nguy cơ dẫn trẻ em đến bên bờ của sự phát triển lệch lạc về nhận thức, thái độ, hành vi và nhân cách; Thứ hai, đây là thời

kỳ mà tính tích cực xã hội của trẻ em được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt trong việc thiết lập các quan hệ bình đẳng với người lớn và bạn ngang hàng, trong việc lĩnh

hội các chuẩn mực và giá trị xã hội, thiết kế tương lai của bản thân và những kế hoạch hành động cá nhân tương ứng; Thứ ba, trong suốt giai đoạn trẻ em luôn diễn

ra sự cấu tạo lại, cải tổ lại hoặc hình thành các cấu trúc mới về thể chất, sinh lý, tương tác xã hội, hành vi, tâm lí, nhân cách Từ đó hình thành cơ sở nền tảng và

vạch chiều hướng cho sự trưởng thành thực thụ của cá nhân; Thứ tư, đây cũng giai

đoạn phát triển nhiều khó khăn, phức tạp và đầy mâu thuẫn của đời người Sự phức tạp thể hiện qua tính hai mặt của hoàn cảnh phát triển của trẻ em Một mặt có

những yếu tổ thúc đẩy phát triển tính cách của người lớn Mặt khác, hoàn cảnh

sống của các em có những yếu tố kìm hãm sự phát triển tính người lớn: Phần lớn

thời gian các em bận học, ít có nghĩa vụ khác với gia đình; nhiều bậc cha mẹ quá chăm sóc trẻ, không để các em phải chăm lo việc gia đình

Nhiều nghiên cứu trên thế giới[54] và trong nước[10, tr26-31][40, tr1-2][36,

tr 35-38]đã chỉ ra những yếu tố cá nhân của học sinh độ tuổi này có liên quan đến hành vi bạo lực học đường Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến đặc điểm tính cách, kiểu khí chất của học sinh có liên quan trực tiếp đến hành vi bạo lực học đường

Cụ thể như: Cáu kỉnh, khó tính, dễ tức giận, thiếu sự đồng cảm với người khác, bất mãn với cuộc sống hiện tại, mong muốn thống trị người khác, có thái độ chống đối

với các quy tắc đạo đức trong xã hội và các quy định của trường học, sự đồng cảm

thấp Ngoài ra, những học sinh có hành vi bạo lực học đường thường có nhu cầu rất lớn được công nhận về mặt xã hội Các em muốn được mọi người coi mình là người mạnh mẽ, được mọi người chấp nhận và được nổi bật trong nhóm bạ Những

học sinh này thường có thái độ chống đối đối với những quy định của nhà trường

Trang 17

cũng như những chuẩn mực đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội, không nghe lời ông bà, cha mẹ, thầy cô giáo, thậm chí là không sợ cả công an, cảnh sát

Như vậy dựa trên cơ sở lí luận về khái niệm bạo lực học đường, khái niệm

học sinh THCS thì khái niệm hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS được

hiểu như sau: Hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS là những hành vi có

ý thức làm hại người khác (về các mặt: thể chất, tinh thần, vật chất) xảy ra trong

hoặc ngoài phạm vi trường học, được thực hiện bởi một hoặc một nhóm học sinh THCS hướng đến một học sinh khác

- Khái niệm Quyền được bảo vệ

Là bảo vệ trẻ em khỏi bị phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế,

sự làm dụng, xâm hạm về thể xác và tinh thần, bị xao nhãng và bỏ rơi, bị đối xử tàn tệ, các em phải được bảo vệ trong tình trạng khẩn cấp, khủng hoảng Nghiêm cấm lạm dụng trẻ em, bất kỳ một hành vi, hoặc yếu tố tình huống có chủ ý của cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng như xâm phạm đến thể chất, tình cảm, nhân cách,

lạm dụng tình dục, ngược đãi, xao nhãng, bỏ rơi, sử dụng quá mức lao động hoặc khai thác thương mại, tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ, gây hại gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ Khi trẻ em bị lâm vào tình trạng khủng hoảng khẩn cấp như tình trạng rối loạn, thiếu hụt, mất thăng bằng nghiêm

trọng do những yếu tố bên ngoài tác động có thể ảnh hưởng xấu đến sự phát triển

thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ

- Khái niệm Quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp

THCS

Từ các định nghĩa trên, theo đó quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS là bảo vệ học sinh cấp THCS tránh khỏi những hành vi hành hạ, ngược đãi, đánh đập; xâm hại thân thể, sức khỏe; lăng mạ, xúc phạm danh

dự, nhân phẩm; cô lập, xua đuổi, bao gồm các mức độ khác nhau từ không lời đến

có lời, từ hành động đơn giản đến thù địch, phá phách, sử dụng công cụ, phương

Trang 18

tiện…xảy ra ở trường học hoặc ở bên ngoài trường học nhưng do mối quan hệ học đường gây nên

- Đặc điểm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp trung

thể chất và tinh thần ấy đã khiến các em có những hành vi thiếu kiểm soát, để lại nhiều hệ lụy xấu cho xã hội Cần loại bỏ hành vi xấu này ra khỏi môi trường học đường bằng những biện pháp giáo dục, bằng luật pháp bảo vệ học sinh trong lứa

tuổi này một cách phù hợp và thể hiện đúng quyền được bảo vệ của trẻ em

Quyền của học sinh trung học được quy định tại Điều 39 Thông tư 12/2011/TT-BGDĐT về Điều lệ trường trung học cơ sở, phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học như sau:

1 Được bình đẳng trong việc hưởng thụ giáo dục toàn diện, được bảo đảm

những điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, vệ sinh, an toàn để học tập ở lớp và tự

học ở nhà, được cung cấp thông tin về việc học tập của mình, được sử dụng trang thiết bị, phương tiện phục vụ các hoạt động học tập, văn hoá, thể thao của nhà trường theo quy định

2 Được tôn trọng và bảo vệ, được đối xử bình đẳng, dân chủ, được quyền khiếu nại với nhà trường và các cấp quản lý giáo dục về những quyết định đối với bản thân mình; được quyền học chuyển trường khi có lý do chính đáng theo quy

Trang 19

định hiện hành; được học trước tuổi, học vượt lớp, học ở tuổi cao hơn tuổi quy định theo Điều 37 của Điều lệ này

3 Được tham gia các hoạt động nhằm phát triển năng khiếu về các môn học,

thể thao, nghệ thuật do nhà trường tổ chức nếu có đủ điều kiện; được giáo dục kỹ

năng sống

4 Được nhận học bổng hoặc trợ cấp khác theo quy định đối với những học sinh được hưởng chính sách xã hội, những học sinh có khó khăn về đời sống và

những học sinh có năng lực đặc biệt

5 Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật

Chủ thể chịu trách nhiệm là các chủ thể cơ bản có trách nhiệm tôn trọng, bảo

vệ và thúc đẩy quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS bao gồm: Nhà nước, nhà trường, thầy, giáo, cô giáo, cán bộ đội… Trong đó:

- Nhà nước mà cụ thể là các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cùng các cán bộ quản lý giáo dục Nhà nước quản lý mọi mặt hoạt động, trong đó có hoạt động giáo dục Vậy, quản lý Nhà nước về giáo dục là tập hợp những tác động hợp quy luật được thể chế hoá bằng pháp luật của chủ thể quản lý nhằm tác động đến các phân hệ quản lý để thực hiện mục tiêu giáo dục mà kết quả cuối cùng là chất lượng, hiệu quả đào tạo thế hệ trẻ Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục được quy định tại Điều 105 Luật Giáo dục 2019 như sau:

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục

Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm, báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục; trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội trước khi quyết định việc áp dụng đại trà đối với chính sách mới trong giáo dục

đã được thí điểm thành công mà việc áp dụng đại trà sẽ ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước

Trang 20

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản

lý nhà nước về giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục đại học, trung cấp

sư phạm, cao đẳng sư phạm, giáo dục thường xuyên

3 Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục nghề nghiệp, trừ trung cấp sư phạm, cao đẳng sư phạm

4 Bộ, cơ quan ngang Bộ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động - Thương binh và

Xã hội thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục

5 Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo phân cấp của Chính phủ, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện

các nhiệm vụ sau đây:

a) Kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục của cơ sở giáo dục trên địa bàn;

b) Bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thư viện và thiết bị dạy học của trường công lập thuộc phạm vi quản lý;

c) Phát triển các loại hình nhà trường, thực hiện xã hội hóa giáo dục; bảo đảm đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương;

d) Thực hiện chủ trương, chính sách của Nhà nước và chính sách của địa phương để bảo đảm quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình về thực hiện nhiệm vụ và chất lượng giáo dục của cơ sở giáo dục thuộc phạm vi quản lý;

đ) Chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục tại địa phương

- Cán bộ quản lý giáo dục bao gồm: Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm là người đại diện cho Nhà nước về mặt pháp lý, có trách nhiệm và thẩm quyền về mặt hành chính và chuyên môn, chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản

Trang 21

lý cấp trên về tổ chức và các hoạt động giáo dục của nhà trường, có vai trò ra quyết định quản lý, tác động điều khiển các thành tố trong các hệ thống nhà trường nhằm

thực hiện mực tiêu, nhiệm vụ Giáo dục – đào tạo được quy định bằng pháp luật

hoặc bằng các văn bản, hướng dẫn do các cấp có thẩm quyền ban hành Cán bộ

quản lý giáo dục giữ vai trò quan trọng trong việc tổ chức, quản lý, điều hành các hoạt động giáo dục, có trách nhiệm học tập, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý và thực hiện các chuẩn, quy chuẩn theo quy định của pháp luật

Cơ chế bảo đảm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh nói chung và học sinh cấp THCS nói riêng bao gồm những cơ quan có nghĩa vụ bảo vệ quyền trẻ em như sau: Chính phủ; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội; Bộ Công an; Bộ Y tế; Bộ Tư pháp; Tòa án nhân dân;

Viện kiểm sát nhân dân; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Văn hóa, Thể thao và

Du lịch; Ủy ban nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận; Các tổ chức xã hội; Tổ chức phối hợp liên ngành về trẻ em; Quỹ Bảo trợ trẻ em

- Một số đặc điểm quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh

THCS khác v ới bạo lực trong môi trường xã hội, và với nhóm tuổi khác

Quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của cấp học sinh THCS có

những khác biệt lớn so với bạo lực ở các lứa tuổi khác trong môi trường xã hội

Chủ thể của quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường là lứa tuổi trẻ em, phạm vi hẹp hơn so với chủ thể của các nhóm bạo lực khác trong xã hội Trẻ em ở

lứa tuổi này nằm trong sự bao bọc của phụ huynh, sợ hãi thầy cô, yếu thế không dám nói sự thật vì những sự đe dọa của người có hành vi bạo lực mình nên đã giấu cha mẹ và không muốn để mọi người xung quanh biết Dẫn đến ảnh hưởng không nhỏ đến tâm sinh lý, gây ra sự sa sút trong học tập cũng như thay đổi về tâm lý,

Trang 22

thậm chí bị tự kỉ, thu mình vào thế giới riêng của mình, hạn chế tiếp xúc với người xung quanh

Chính vì chủ thể trách nhiệm là trẻ em nên những hành động của các em gây

ra hầu như các em không nhận thức được hậu quả hệ lụy về sau, trách nhiệm sau

những hành động đó các em cũng chưa thể gánh vác mà chủ yếu nhờ đến sự hỗ trợ của gia đình Trong những trường hợp vụ việc nghiêm trọng thì trách nhiệm hình

sự cũng chưa thể áp dụng trên đối tượng này, mà chỉ có thể áp dụng hình thức cải

tạo, giúp các em trở về đúng bản chất tích cực cần có của một học sinh THCS không bốc đồng, gây bạo lực ở môi trường trong và ngoài trường học

Các hình thức bạo lực cũng đa dạng hơn bởi đây là lứa tuổi đang trong giai đoạn chuyển giao giữa trẻ em và người lớn, suy nghĩ chưa chín chắn, muốn thể

hiện, hành động còn mang tính bộc phát không nghĩ đến hậu quả về sau Các hành

vi bạo lực ở lứa tuổi này diễn ra giữa các em học sinh với nhau, ngoài ra cũng có

thể diễn ra giữa thầy cô, cán bộ quản lý giáo dục với học sinh Người gây ra bạo lực lại chính là người thầy, người cô của các em học sinh Bạo lực giữa thầy cô với

học sinh không chỉ ở thể chất mà còn ở tinh thần, thậm chí có vụ việc xảy ra tình

trạng bạo dâm Nó ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển về thể chất và tinh thần của các em trong suốt cuộc đời Vì nhận thức còn chưa đầy đủ, lứa tuổi nhỏ nên khó vượt qua được những rào cản trong quá khứ khiến các em tự ti về bản thân, ám ảnh

về những sự việc đã xảy ra với mình trong quá khứ Từ đó các em thu mình hơn và nhìn thế giới xung quanh một cách tiêu cực, thậm chí là có những hành vi hủy hoại

bản thân và những người xung quanh - người mà các em không thích hoặc không hài lòng về họ

1.1.2 Các hình th ức bạo lực học đường của học sinh cấp trung học cơ sở

Có 2 cơ sở để phân loại ra các hình thức bạo lực học đường, đây cũng là cơ

sở để phân loại và chỉ ra những biểu hiện cụ thể của hành vi bạo lực học đường:

- Thứ nhất là căn cứ vào cách thức mà học sinh thực hiện hành vi bạo lực học

Trang 23

đường, đó là những hành vi làm hại bằng sức mạnh thể chất hay thông qua mưu

đồ, ngôn ngữ, thông qua các thiết bị kỹ thuật thông tin (điện thoại, internet, );

- Thứ hai là căn cứ vào mục đích mà học sinh thực hiện hành vi bạo lực học đường nhằm gây ảnh hưởng đến sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, đến phương diện tài chính, hay đến sức khỏe tình dục Theo đó, nếu căn cứ vào mục đích học sinh thực hiện hành vi bạo lực thì có 4 loại hành vi bạo lực học đường là: Bạo lực

thể chất; Bạo lực tinh thần; Bạo lực vật chất và Bạo lực tình dục

Tuy nhiên, việc phân loại như trên chỉ mang tính tương đối Bởi vì có nhiều hành vi bạo lực học đường không chỉ dùng một cách thức mà dùng nhiều cách thức khác nhau; không chỉ gây ảnh hưởng về một khía cạnh nào đó, mà gây ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh khác nhau Thực tiễn hiện nay và cả trước đây cho thấy bạo

lực tình dục rất hiếm khi xảy ra giữa học sinh với nhau, ba hình thức còn lại là bạo lực thể chất, bạo lực tinh thần và bạo lực vật chất có mức độ xuất hiện phổ biến hơn Do đó, nghiên cứu chỉ tìm hiểu thực trạng bị bạo lực học đường của học sinh THCS ở ba hình thức bạo lực học đường phổ biến nhất là: bạo lực tinh thần, bạo

lực thể chất và bạo lực vật chất Ba hình thức bạo lực học đường này được biểu hiện cụ thể như sau:

- Bạo lực về vật chất:

Bạo lực về vật chất là những hành động gây thiệt hại về đồ dùng, trang phục, phương tiện đi lại, tiền của cho học sinh, ví dụ như hiện tượng “bảo kê” “trấn lột”,

kẻ mạnh trấn lột tiền hay tài sản có giá trị của kẻ yếu, chiếm đoạt các vật dụng của

bạn bè, yêu cầu hăm dọa học sinh khác phải nộp tiền hay tài sản có giá trị cho kẻ

mạnh, cố ý hủy hoại hay làm hư hỏng các vật dụng của người khác Ngoài ra, để khỏi bị bắt nạt từ những nhóm khác một số em phải chung tiền để được các “đại ca” bảo kê che chở Cũng có hiện tượng học sinh trong trường bị các thanh niên bên ngoài xã hội trấn lột xe đạp, lấy tiền, lấy đồ mà phải phục tùng không dám kêu,

Trang 24

không dám báo lại với thầy cô hay cha mẹ, mặc dù các em biết kẻ phạm tội là ai vì

sợ bị trả thù

Bạo lực về vật chất này thực ra có liên quan đến bạo lực về thể chất hay bạo

lực về tinh thần Thế nhưng, xét ở một góc độ nhất định, những biểu hiện của hành

vi bạo lực này thường hướng đến sự bắt ép có liên quan đến vật chất hay những phương tiện vật chất có liên quan Trong môi trường học đường, bạo lực vật chất này được xem là một đặc thù có liên quan chặt chẽ đến hành vi bắt nạt học đường hay bạo lực học đường vì đôi lúc nó diễn ra một cách rất “tự nhiên” Nhưng ngày nay, hành vi này cũng có những biểu hiện diễn ra một cách có chủ đích, cụ thể, có tính toán hay thậm chí là có “tổ chức” nhóm Đó là một thực tế cần được xem xét mang tính khách quan và hệ thống

- Bạo lực về thể chất:

Bạo lực về thể chất là một hiện tượng rất nghiêm trọng, nó không chỉ ảnh hưởng đến người bị bạo lực mà còn ảnh hưởng đến người bị chứng kiến cảnh bạo

lực Bạo lực về thể chất xảy ra khi một người bị người khác sử dụng công khai

những hành động cơ thể để áp đặt sức mạnh của họ lên người kia Bạo lực thể chất bao gồm các hành vi như đá, đấm đánh, nhéo hoặc các hành động tấn công về mặt thể chất khác Trong thực tế, có những em học sinh thường bị bạo lực bởi những hành vi tiêu cực về mặt thể chất như: trộm cắp, đánh nhau, quấy rối, chọc ghẹo… hành động này thường diễn ra liên tục trong một thời gian tương đối dài, gây tổn thương về thể chất cũng như tâm lý bên cạnh những mất mát hay những thương tổn

về thực thể hay định lượng được trên bình diện cụ thể

Các hình thức bạo lực thể chất như: Giật cặp, lục cặp, giật và giấu đồ dùng

học tập, giật mũ, giật áo, giày dép, khăn quàng, xì lốp xe, phá hoại đồ dùng học

tập… Ngoài ra, còn có các hình thức tác động vào thân thể chưa gây thương tích như: gõ lên đầu lên vai, đập vào người, xô đẩy, dùng các đồ dùng học tập, đất cát, sâu bọ ném vào người, kéo tóc, dính kẹo cao su lên tóc, cắt tóc, đổ nước lên đầu,

Trang 25

gạt chân… Bên cạnh đó, còn có hành động gây thương tích: cào, cấu, giật tóc, đánh, tát vào mặt, ném gạch hoặc đất đá vào người, cố ý dùng vũ khí để gây thương tích cho người khác… Những hành động bắt nạt này xảy ra thường xuyên

nhất là ở trường hoặc có thể trên đường đến trường, sau giờ tan học Ngoài ra, hình

thức của hành vi bạo lực này cũng diễn ra ở những dạng khác nhau, ở các mức độ

và cấp độ khác nhau phù thuộc vào độ tuổi, văn hóa cũng như tình hình thực tế ở

từng địa phương hay môi trường học đường

- Bạo lực về tinh thần:

Bạo lực về tinh thần đối với học sinh trong môi trường học đường được xác định gồm: lời nói, cử chỉ mang tính chất xúc phạm, dọa nạt, mắng mỏ, gây áp lực,

buộc làm những việc mà các em không muốn và các quan niệm gây ra hậu quả xấu

về mặt tâm lý tình cảm Đây là những hành vi gây sức ép đè nặng về mặt tâm lý và tinh thần của khách thể khác

Bạo lực về tinh thần trong môi trường học đường thường được thể hiện dưới

một số hình thức như: hình thức kỷ luật mang tính dọa dẫm, đe dọa, sỉ nhục gây ức

chế lo sợ cho học sinh Sự trêu ghẹo của học sinh cùng học gây khó chịu, xấu hổ, tủi thân, mặc cảm, tự ti Ngoài ra, đó còn là những hành động mang tính bắt nạt, dọa dẫm trong quan hệ bạn bè Sức ép giáo dục và các quan niệm hành vi mang tính chất bất bình đẳng giới Có những thầy cô giáo vì chạy theo thành tích mà bắt

ép học sinh theo ý mình để đạt được chỉ tiêu của nhà trường… Hoặc có những bạn

bè luôn ganh ghét và cạnh tranh nhau từng chút một dẫn đến những gánh nặng cho

“người khác” Chính điều đó đã gây ra áp lực học tập thái quá, gây ra những căng

thẳng tâm lý và những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe tâm thần của học sinh

Sự trêu ghẹo của bạn bè cùng lứa tuổi xuất phát từ bản tính vui đùa nghịch ngợm

của học sinh cũng được xem xét như hành vi bạo lực học đường Nếu sự trêu ghẹo mang tính chất vô tư đúng mực thì nó sẽ tạo ra niềm vui nhưng đôi khi sự trêu ghẹo thái quá không đúng mực lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ dẫn đến sự khó chịu, mặc

Trang 26

cảm, xấu hổ, thậm chí căng thẳng quá có thể dẫn đến loạn tâm lý Sự trêu ghẹo thường xuyên có thể gây nên những tổn thương tâm lý cho người khác như: Có

những lời nói, những bình luận thiếu thiện cảm về các tật trên cơ thể, hình dáng, cách đi đứng, cách nói năng, hoàn cảnh gia đình… Ngoài ra, có thể kể đến một số hình thức bạo lực tâm lý tinh thần như: dựng chuyện, tạo tin đồn quái ác, bêu riếu, tung hình ảnh trước công chúng, gán ghép những biệt hiệu xấu, gán ghép trong quan hệ với bạn khác giới, chửi rủa bằng những ngôn từ xúc phạm, đe dọa, ép buộc

với những điều không mong muốn, khai trừ, cô lập hay tẩy chay một cách có chủ ý

ra khỏi nhóm… Trong thời gian gần đây, bạo lực học đường kiểu này còn thể hiện

rõ trên các phương tiện truyền thông mà mạng xã hội là một kênh để dễ bề thực hiện hành vi bạo lực tinh thần này Sự bêu riếu trên mạng xã hội bằng cách lập các trang facebook hay fanpage giả, đưa những hình ảnh và những thông tin sai lệch,

dựng chuyện để bêu xấu là biểu hiện khá rõ… Đặc biệt, những bình luận ác ý,

những lời nhận xét mang tính công kích, mang dấu hiệu lăng mạ dẫn đến những sự căng thẳng tâm lý thậm chí là những sức ép tâm lý quá mức tạo nên sự khủng

hoảng tinh thần, tâm lý hay thậm chí là hành động tự tử

Một cái nhìn hệ thống và chuyên sâu về bạo lực học đường từ góc độ Tâm lý

học ở học sinh THCS theo góc độ lứa tuổi là rất cần thiết Thực hiện hành vi bạo lực dưới hình thức nào thì cũng đều gây ra những tổn thương cho người bị bạo lực như về sức khỏe thể chất, tinh thần và sức khỏe sinh sản - tình dục

1.1.3 Ý nghĩa của quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh

Trang 27

quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS góp phần quan trọng để giải quyết tất cả các hình thức bạo lực đối với trẻ em trong môi trường

hoạt động hàng ngày - như trong trường học, tại gia đình và cộng đồng - và xuyên

suốt các lĩnh vực giáo dục, y tế và phúc lợi Bảo đảm quyền trên bao gồm việc đảm bảo mọi học sinh có được môi trường học tập thân thiện, an toàn, lành mạnh, bảo đảm cho các em được tiếp cận hỗ trợ tư pháp và bảo vệ khỏi bị bạo hành, lạm dụng

và bóc lột Bảo đảm hiệu quả được quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của

học sinh chính là cách thể hiện sự tôn trọng, quan tâm của cộng đồng đối với trẻ

em – tương lai của đất nước

Về nguyên tắc thì sự phát triển cả về thể chất và năng lực của học sinh là sự phối hợp hài hòa giữa nhà trường, gia đình và xã hội, trong đó nhà trường luôn giữ vai trò đặc biệt quan trọng, là yếu tố cơ bản để tạo dựng nên nền tảng mỗi học sinh

sẽ là công dân tốt của xã hội Hằng ngày trên bục giảng và tiếp xúc với học sinh,

nếu quan tâm, thầy cô giáo sẽ dễ phát hiện những bất ổn trong tâm lý các em để chủ động vào cuộc, kịp thời có biện pháp điều chỉnh, ngăn chặn hoặc tác động phù

hợp

Nếu để xảy ra các hành vi bạo lực giữa học sinh, đồng nghĩa với việc để lại những hậu quả vô cùng nghiêm trọng, với các biểu hiện khác nhau như hành hạ, ngược đãi thể chất, tinh thần; lăng mạ, xúc phạm danh dự, nhân phẩm; quấy rối, xâm hại tình dục, bạo lực học đường sẽ là nguy cơ phá hỏng môi trường giáo dục Hậu quả gây ra là làm môi trường học đường ở một số nơi mất an toàn, suy giảm niềm tin của xã hội với thầy giáo, cô giáo, gây lo ngại về sự phát triển lành mạnh của trẻ, đem đến các nguy cơ khó lường với nạn nhân của bạo lực học đường Với những người bị hại, những hành vi bạo lực sẽ làm ảnh hưởng tới sức khỏe và tinh thần của họ Gây ra tâm lý hoang mang, lo sợ thường trực Gây ra những mất mát, thương đau cho các gia đình có con bị hại Thậm chí có những vụ bạo lực gây mất mạng Nó cũng làm cho tình trạng xã hội ngày một bất ổn

Trang 28

Vì vậy, đã đến lúc cần coi bạo lực học đường là một vấn nạn cần phải ngăn chặn ngay từ mầm mống, phải triệt tiêu ngay từ trong nhà trường, trong quan hệ giữa học sinh, với sự phối hợp đồng bộ của các gia đình và cả xã hội Bởi nếu không ngăn chặn bạo lực học đường từ hôm nay, không bảo đảm quyền được bảo

vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp THCS thì rất dễ nguy cơ chúng ta sẽ phải trả giá trong tương lai

1.2 Pháp lu ật quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền được bảo vệ khỏi bạo

l ực học đường

1.2.1 Pháp lu ật quốc tế

Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (CRC) đã bao quát được tất cả các khía cạnh của quyền trẻ em, bao gồm các nhóm quyền sau: Quyền được sống còn; quyền được phát triển; quyền được bảo vệ; quyền được tham gia

- Nhóm quyền được sống còn: bao gồm quyền của trẻ em được sống cuộc

sống bình thường và được đáp ứng những nhu cầu cơ bản nhất để tồn tại và phát triển thể chất Các nhu cầu đó gồm: mức sống đủ, có nơi ở, ăn uống đủ chất và được chăm sóc sức khỏe Trẻ em phải được khai sinh ngay sau khi ra đời Nhóm quyền được sống còn không chỉ bao gồm quyền sống mà còn bao gồm các quyền

có liên quan đến việc duy trì cuộc sống của trẻ em Không chỉ bao gồm việc bảo vệ tính mạng của trẻ khỏi bị tước đoạt, mà còn bao gồm việc cung cấp các điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc

- Nhóm quyền được phát triển: nghĩa là trẻ em cần có những điều kiện để có thể phát triển đầy đủ nhất về cả tinh thần và đạo đức, bao gồm quyền được hưởng giáo dục, vui chơi, tham gia các hoạt động văn hóa, tiếp nhận thông tin, tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo Trẻ em cần có sự yêu thương và cảm thông của cha mẹ để có thể phát triển hài hòa Khái niệm phát triển được hiểu trên tất cả các phương diện: thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội Vì vậy, nhóm quyền được phát triển bao gồm tất cả những quyền tạo điều kiện cho sự phát triển

Trang 29

những yếu tố trên

- Nhóm quyền được tham gia: nghĩa là cho phép trẻ em đóng một vai trò tích cực trong cộng đồng và đất nước của các em Các quyền này bao gồm sự tự do diễn đạt, bày tỏ quan điểm và ý kiến, được phát biểu về những vấn đề có liên quan đến cuộc sống của các em Trẻ em còn có quyền kết bạn, giao lưu và hội họp hòa bình, được tạo điều kiện tiếp cận các nguồn thông tin và chọn lựa thông tin phù hợp Quyền tham gia trên tư cách cá nhân hoặc tập thể và không có nghĩa là bắt buộc các chủ thể khác phải nghe theo mọi ý kiến của trẻ, nhưn bắt buộc các chủ thể khác phải lắng nghe và nghiêm túc xem xét các ý kiến của trẻ

- Nhóm quyền được bảo vệ: nghĩa là trẻ em phải được bảo vệ chống tất cả các hình thức lạm dụng, sao nhãng và bóc lột, cụ thể là bóc lột lao động, bóc lột và xâm hại tình dục, lạm dụng ma túy, sao nhãng và bị bỏ rơi, bị bắt cóc và buôn bán Trẻ em còn được bảo vệ khỏi sự can thiệp vô cớ vào thư tín và sự riêng tư Các quyền này còn bao gồm những vấn đề như: bảo vệ đặc biệt cho trẻ khỏi nạn tra tấn, lạm dụng khi vi phạm hình sự, không bị tham gia vào các cuộc xung đột vũ trang, lao động trẻ em…

Trong 4 nhóm quyền cơ bản của trẻ em thì nhóm quyền được bảo vệ là một trong những nhóm quyền được đề cập đến trong rất nhiều văn kiện về quyền trẻ

em Trong CRC, ngay tại lời mở đầu đã ghi nhận rất rõ ràng “do còn non nớt về mặt thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt” đồng thời tất

cả trẻ em đều được bảo vệ mà không phân biệt chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn giáo… Những quy định liên quan đến quyền được bảo vệ của trẻ em bao gốm một nhóm các quyền được đề cập rõ tại các điều 7, điều 9, điều 10, điều 20, điều 33, điều 34, điều 37 của công ước Theo đó hệ thống các quyền được bảo vệ của trẻ em được phân loại thành các quyền như sau:

 Bảo vệ quyền khai sinh, có họ tên và có quốc tịch của trẻ em

 Bảo đảm trẻ em không bị cách ly khỏi gia đình

Trang 30

 Bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực hình sự

 Bảo vệ trẻ em chống lại sự bóc lột và lạm dụng

 Bảo vệ trẻ em khỏi tệ nạn ma túy

 Bảo vệ trẻ em trong lĩnh vực lao động

 Bảo vệ trẻ em khuyết tật

 Bảo vệ trẻ em trong các cuộc xung đột vũ trang

 Bảo vệ trẻ em bản địa, thuộc một nhóm thiểu số

Pháp luật quốc tế dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề bạo lực học đường của trẻ em trên toàn thế giới, điều đó được thể hiện ở cuộc họp chuyên gia cấp cao

về bạo lực ở trường học được tổ chức tại Oslo (Na Uy) từ ngày 27 đến 28 tháng 6 năm 2011 được tổ chức bởi Chính phủ Na Uy, Hội đồng Châu Âu và Văn phòng Đại diện Đặc biệt về Bạo lực đối với Trẻ em Các kết quả của cuộc họp này là một thành phần quan trọng của báo cáo hiện tại, qua đó tìm cách tập hợp và ghi lại các khía cạnh thiết yếu của các giải pháp hiệu quả để chấm dứt bạo lực trong trường học Cụ thể, rút ra từ các bài học trên khắp thế giới, báo cáo này xem xét sáu lĩnh vực chính mà có thể điều chỉnh được và bắt buộc phải được thực hiện để đảm bảo rằng mọi trẻ em đều được hưởng quyền phát triển tối đa nhân cách, tài năng, các khả năng về trí tuệ và thể chất; Phát triển sự tôn trọng quyền con người và các tự

do cơ bản, tôn trọng những nguyên tắc được ghi trong Hiến chương Liên Hợp Quốc (theo điều 29 - Công ước Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em) Các lĩnh vực chính được giải quyết trong báo cáo này là: phát triển các chiến lược toàn diện, toàn trường học; xây dựng quan hệ đối tác với trẻ em; hỗ trợ cho giáo viên và những người có thẩm quyền quản lý giao dục; thay đổi thái độ và giải quyết các quan điểm về chuẩn mực xã hội Báo cáo đặc biệt chú ý đến vấn đề bạo lực ở trường học dưới góc nhìn của trẻ em thuộc các nhóm đặc biệt dễ bị tổn thương, bao gồm trẻ em gái, trẻ em khuyết tật, thuộc dân tộc thiểu số hoặc trẻ em bản địa, trẻ

Trang 31

em tị nạn và trẻ em là nạn nhân của bạo lực tình dục Nghiên cứu của Liên Hợp Quốc về Bạo lực đối với trẻ em là nghiên cứu toàn diện đầu tiên về bạo lực đối với

trẻ em, bao gồm ở trường học và xác định bốn hình thức bạo lực chính ở trường

học: bắt nạt, bạo lực tình dục và dựa trên giới tính, bạo lực thể xác và tinh thần, và

bạo lực bao gồm cả hành vi bên ngoài trường học, bao gồm bạo lực liên quan đến văn hóa băng đảng, vũ khí và chiến đấu

Như vậy có thể thấy pháp luật quốc tế về quyền của trẻ em đã lấy trẻ em làm trung tâm, thừa nhận trẻ em là chủ thể của các quyền cơ bản chứ không phải chỉ là

những người nhận đặc ân của người lớn Các quyền nêu trên của trẻ em đều là những quyền cơ bản, chính đáng, là một phần trong số các nhu cầu thiết yếu với tất

cả mọi người, mọi trẻ em đều có quyền như nhau Các quyền này đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của các quốc gia, vấn đề này phải được công nhận và quy định cụ thể bằng pháp luật của mỗi quốc gia

1.2.2 Pháp lu ật Việt Nam

Quyền trẻ em nói chung, quyền được bảo vệ khỏi mọi hình thức bạo lực, xâm hại của trẻ em được Nhà nước ta quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, trước hết là Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016, Luật giáo dục năm 2019, Bộ luật hình sự…và nhiều văn bản dưới luật

Tại Điều 37, Hiến pháp 2013 có quy định “Trẻ em được Nhà nước, gia đình

và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ

em Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” Trẻ em là những người còn

rất non nớt về thể xác và tinh thần Các em cần sự giúp đỡ của người lớn để được

an toàn Các em dễ bị rủ rê vào những việc làm trái pháp luật, dễ bị lợi dụng sức lao động và lạm dụng tình dục, dễ bị bỏ rơi… Có những trẻ em đôi khi bất ngờ bị rơi vào những tình trạng cực kỳ khó khăn mà các em không thể nào chịu đựng nổi Đây là những nguy cơ đe dọa trực tiếp tới sự sống còn của trẻ em Do vậy các em

Trang 32

cần đến sự giúp đỡ của người thân và cộng đồng để giảm bớt các hậu quả gây tổn thương và giúp trẻ em phục hồi tâm, sinh lý, tái hoà nhập vào cộng động và phát triển bình thường

Việt Nam là một trong những quốc gia sớm quan tâm đến việc bảo vệ quyền

trẻ em, là nước đầu tiên của Châu Á và là nước thứ hai thế giới phê chuẩn Công ước về quyền trẻ em Theo quy định tại Mục 1, Chương 2, Luật Trẻ em, trẻ em có

25 quyền, trong đó có một số quyền cơ bản như:

- Quyền sống: Trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển;

- Quyền được chăm sóc sức khỏe: Trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa

bệnh

- Quyền được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu: Trẻ em có quyền và bình đẳng về cơ hội được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt

nhất tiềm năng của bản thân

- Quyền bí mật đời sống riêng tư: Trẻ em có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình vì lợi ích tốt nhất của trẻ em

- Quyền được sống chung với cha, mẹ: Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em… Bên cạnh đó, Luật Trẻ em 2016 còn bổ sung thêm một số quyền của trẻ em như: Quyền được bảo vệ để không bị bóc lột sức lao động, quyền được bảo vệ để không

bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc, quyền được bảo vệ để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt, quyền được bảo vệ khỏi chất ma túy…

Tại Điều 27 của Luật quy định rõ : “Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em” Đồng thời, Luật quy định rõ mọi trẻ em đều được bảo vệ khỏi sự

Trang 33

phân biệt đối xử, thoát khỏi sự bóc lột về kinh tế, sự lạm dụng, xâm hại về thể xác

và tinh thần, bị lơ là và xao nhãng, bị đối xử tàn tệ Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị xâm hại tình dục, không bị bóc lột sức lao động; không phải lao động trước tuổi, quá thời gian hoặc làm công việc nặng nhọc, độc

hại, nguy hiểm theo quy định của pháp luật; không bị bố trí công việc hoặc nơi làm việc có ảnh hưởng xấu đến nhân cách và sự phát triển toàn diện của trẻ em Luật

Trẻ em 2016 nghiêm cấm lạm dụng, bóc lột sức lao động, hoặc khai thác thương mại trẻ em dưới bất kỳ một hành vi nào, hoặc bất kì một tình huống có chủ ý của

cá nhân, tổ chức hay của cộng đồng nhằm tước đoạt quyền và sự tự do của trẻ em, gây nguy hại đến sự phát triển thể chất, tinh thần, xã hội của trẻ Ngay từ đầu Chương II, Luật trẻ em 2016 đã quy định rõ, trẻ em có quyền được bảo vệ tính mạng, được bảo đảm tốt nhất các điều kiện sống và phát triển, quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển toàn diện Trẻ em có quyền được giáo dục, học tập để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân, bình đẳng về cơ hội học tập và giáo dục; được phát triển tài năng, năng khiếu, sáng tạo, phát minh, quyền bí mật đời sống riêng

tư Trẻ em có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt, được bảo vệ khỏi mọi hình thức sử dụng, sản xuất, vận chuyển, mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy; quyền được bảo vệ trong quá trình tố tụng và xử lý vi phạm hành chính; bảo đảm quyền được bào chữa và tự bào

chữa, được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp; được trợ giúp pháp lý, được trình bày ý kiến, không bị tước quyền tự do trái pháp luật; không bị tra tấn, truy bức, nhục hình, xúc phạm danh dự, nhân phẩm, xâm phạm thân thể, gây áp lực về tâm

lý và các hình thức xâm hại khác Quyền sống và hưởng các quyền của một con người giúp trẻ phát triển một cách toàn diện nhất, không bị những xâm hại tiêu cực

Trang 34

mà xã hội mang lại, giúp các em trở thành con người có ích cho xã hội, cho đất nước trong tương lai

Xác định việc bảo vệ đầy đủ các quyền của trẻ em là vấn đề cấp bách và quan trọng, Luật Trẻ em 2016 đã quy định về 03 cấp độ bảo vệ trẻ em và trách nhiệm thực hiện; căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 47 thì việc bảo vệ trẻ em

có thể được thực hiện theo các cấp độ: Phòng ngừa; Hỗ trợ; Can thiệp Cấp độ phòng ngừa gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với cộng đồng, gia đình

và mọi trẻ em nhằm nâng cao nhận thức, trang bị kiến thức về bảo vệ trẻ em, xây dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh cho trẻ em, giảm thiểu nguy cơ trẻ em bị xâm hại hoặc rơi vào hoàn cảnh đặc biệt Cấp độ hỗ trợ bao gồm các biện pháp bảo

vệ được áp dụng đối với trẻ em có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi hoặc trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt nhằm kịp thời phát hiện, giảm thiểu hoặc loại bỏ nguy cơ gây tổn hại cho trẻ em Cấp độ can thiệp bao gồm các biện pháp bảo vệ được áp dụng đối với trẻ em và gia đình trẻ em bị xâm hại nhằm ngăn chặn hành vi xâm hại; hỗ trợ chăm sóc phục hồi, tái hòa nhập cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt

Bên cạnh đó, Luật Trẻ em 2016 có những quy định về quyền tham gia của trẻ em bao gồm: Trẻ em có quyền được tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, phù hợp; có quyền tìm kiếm, thu nhận các thông tin dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật và được tham gia hoạt động xã hội phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành, nhu cầu, năng lực của trẻ em (Điều 33) Đồng thời, trẻ em có quyền được bày tỏ ý kiến, nguyện vọng về các vấn đề liên quan đến trẻ em; được tự do hội họp theo quy định của pháp luật phù hợp với độ tuổi, mức độ trưởng thành và

sự phát triển của trẻ em; được cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân lắng nghe, tiếp thu, phản hồi ý kiến, nguyện vọng chính đáng (Điều 34) Như vậy, Trẻ em được tham gia vào tất cả những vấn đề liên quan đến trẻ em thông qua các hình thức như: Diễn đàn, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, sự kiện; thông qua tổ chức

Trang 35

đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em; hoạt động của Đội TNTP Hồ Chí Minh, Đoàn TCNS Hồ Chí Minh; tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp hoạt động vì trẻ em; hoạt động của các câu lạc bộ, đội, nhóm của trẻ em được thành lập theo quy định của pháp luật: tham vấn, thăm dò, lấy ý kiến trẻ em; bày tỏ

ý kiến, nguyện vọng trực tiếp hoặc qua kênh truyền thông đại chúng, truyền thông

xã hội và các hình thức khác

Luật Giáo dục 2019 quy định quyền của người học là được giáo dục, học tập

để phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của bản thân; được tôn trọng; bình đẳng về cơ hội giáo dục và học tập; được học tập trong môi trường giáo dục

an toàn, lành mạnh (Điều 83) Luật cũng quy định các nhiệm vụ của nhà giáo cần thực hiện, trong đó có hành vi tôn trọng, đối xử công bằng với người học; bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của người học (Điều 69) Luật này có quy định về Các hành vi bị nghiêm cấm trong cơ sở giáo dục bao gồm hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự, xâm phạm thân thể nhà giáo, cán bộ, người lao động của cơ sở giáo dục và người học.Cùng với đó là quy định về trách nhiệm của xã hội (Điều 97) là tham gia xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, ngăn chặn hoạt động có ảnh hưởng xấu đến người học (Điều 93) Từ những quy định trên có thể thấy, pháp luật Việt Nam có có sự quan tâm và nhận thức đầy đủ về việc bảo vệ quyền trẻ em trong hoạt động giáo dục và việc tạo lập môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh trong khuôn khổ nhà trường có đóng góp to lớn của người quản lý nhà trường, giáo viên Góp ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thực hiện quyền được bảo

vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh

Bộ luật Dân sự năm 2015 để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ trẻ em trong quan hệ pháp luật dân sự, trong hoạt động tố tụng dân sự, Bộ luật đã xác định năng lực hành vi dân sự đối với người chưa thành niên, năng lực hành vi dân sự của trẻ em trong một số giao dịch dân sự mà các em được tự mình tham gia (Điều 21)

Trang 36

Bộ luật Lao động sửa đổi, bổ sung năm 2019 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01/01/2021 dành riêng một số quy định tại Điều 143 về lao động chưa thành niên Lao động chưa thành niên chỉ được làm công việc phù hợp với sức khỏe để bảo đảm sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách (Điều 144) Người sử dụng lao động chỉ được tuyển dụng và sử dụng người từ đủ 13 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi vào làm các công việc nhẹ theo quy định tại khoản 3 Điều 143 của Bộ luật này và phải bảo đảm điều kiện làm việc, an toàn, vệ sinh lao động phù hợp với lứa tuổi; nghiêm cấm nơi làm việc gây tổn hại đến sự phát triển thể lực, trí lực, nhân cách của người chưa thành niên Các quy định này đã góp phần phòng ngừa các trường hợp bóc lột sức lao động trẻ em, buộc người sử dụng lao động sử dụng phải tôn trọng và đảm bảo các quyền lợi của trẻ em

Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình nhằm hướng tới xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến

bộ, hạnh phúc, bền vững; bảo vệ tốt hơn các quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình (Chương V

- Quan hệ giữa cha, mẹ và con) Luật cũng chú ý bảo vệ quyền của trẻ em trong những vụ việc giải quyết hậu quả pháp lý của việc hủy kết hôn trái pháp luật và trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con được giải quyết theo quy định về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con khi ly hôn (Điều 12 và Điều 14)

Bộ luật Hình sự (BLHS) - một văn bản quan trọng trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em - đã có những quy định cụ thể bảo vệ trẻ em trên hai phương diện: trẻ em là đối tượng tác động của tội phạm và trẻ em là chủ thể của tội phạm Trên phương diện trẻ em là đối tượng tác động của tội phạm, BLHS năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS năm 2015) đã thể hiện rõ quan điểm của Nhà nước ta trong xử lý các tội phạm với trẻ em theo hướng tăng nặng trách nhiệm hình sự Đây là nhóm hành vi

Trang 37

gây ra những sang chấn tâm lý tiêu cực mạnh mẽ và có thể ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của trẻ nên đa phần được quy định là những tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng Bên cạnh đó, BLHS năm 2015 đã có những quy định mới thể hiện rõ hơn quan điểm bảo vệ quyền tự do và an ninh cá nhân cho trẻ em Trong đó, đáng chú ý là các quy định như bổ sung hành vi “thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác” bên cạnh hành vi giao cấu trong dấu hiệu định tội của các tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145) và hành

vi “Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm” (Điều 147) BLHS năm

2015 cũng đã quy định cụ thể đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên cơ sở kế thừa và sửa đổi, bổ sung chính sách xử lý hình sự đối với nhóm trẻ em này trong Chương XII - Những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã một lần nữa khẳng định “xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội” (khoản 1 Điều 91) Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên phạm tội nói chung và trẻ em phạm tội nói riêng được xem là một thủ tục đặc biệt Thủ tục này đã tối đa hóa các yêu cầu để trẻ em không bị ảnh hưởng tâm lý và đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ Trên tinh thần đó, Điều 415 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 yêu cầu điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán tiến hành tố tụng đối với vụ án có người dưới 18 tuổi phải có những hiểu biết cần thiết về tâm lý học, khoa học giáo dục cũng như

về hoạt động đấu tranh phòng, chống tội phạm của người chưa thành niên và đây cũng là một trong những trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa tham gia tố tụng; Điều 416 quy định: trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bên cạnh việc xác định được các đối tượng cần chứng minh như các vụ án hình sự người đã thành niên phạm tội thì các cơ quan tiến hành tố tụng phải xác định thêm các đối tượng

Trang 38

chứng minh đặc thù của người dưới 18 tuổi phạm tội nữa như mức độ nhận thức, điều kiện sống và giáo dục, nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội…

Trẻ em luôn luôn là đối tượng cần phải được quan tâm và ưu tiên bảo vệ

nhất trong xã hội Đem đến một môi trường an toàn là cách tốt nhất để bảo vệ các

em Để có một môi trường an toàn thì hệ thống pháp luật là điều kiện tiên quyết, bên cạnh đó là sự chung tay của các cơ quan hành pháp, tư pháp, của hệ thống hỗ

trợ - bảo vệ trẻ em cũng như những người làm việc trong đó

Trong thời gian qua, Bộ GD-ĐT đã rất tích cực tham mưu Quốc hội, Chính

phủ, Thủ tướng ban hành và Bộ trưởng Bộ GD-ĐT đã ban hành theo thẩm quyền

để hoàn thiện đầy đủ hệ thống hành lang pháp lý, văn bản quy phạm pháp luật nhằm chỉ đạo thực hiện kịp thời, đầy đủ các chỉ đạo cấp trên và các qui định của Ngành Giáo dục nhằm xây dựng môi trường sư phạm, văn hóa học đường, môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường

hiệu quả trong các cơ sở giáo dục, chú trọng công tác giáo dục toàn diện người học; đặc biệt là giáo dục đạo đức, hoàn thiện nhân cách, lối sống văn hóa ứng xử, ý

thức chấp hành pháp luật, tinh thần trách nhiệm công dân cho học sinh tại các nhà trường Bộ trưởng đã ban hành theo thẩm quyền 25 văn bản, gồm các thông tư, quyết định, chỉ thị, các văn bản chỉ đạo điều hành và văn bản hành chính khác như: Nghị định số 80/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường;

Chỉ thị số 18/2017/CT-TTg ngày 16/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực, xâm hại trẻ em; Quyết định số 1501/QĐ-TTg 28/8/2015 phê duyệt Đề án “Tăng cường giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống cho thanh niên, thiếu niên và nhi đồng giai đoạn 2015 - 2020” và Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 03/10/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025” của Thủ tướng Chính phủ; Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành: Thông tư số

Trang 39

31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 của Bộ GDĐT hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông; Chỉ thị số 505/CT-BGDĐT ngày 20/02/2017 của Bộ GDĐT về việc tăng cường các giải pháp đảm bảo an toàn trong các cơ sở giáo dục; Quyết định số 5886/QĐ-BGDĐT ngày 28/12/2017 của

Bộ trưởng Bộ GD-ĐT ban hành Chương trình hành động phòng, chống bạo lực học đường trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2017-2021; Chỉ thị số 1572/CT-BGDĐT ngày 12/05/2016

của Bộ GDĐT về việc tăng cường các giải pháp phòng, chống tai nạn thương tích, đuối nước trẻ em, học sinh, sinh viên Với hệ thống văn bản quy phạm, chỉ đạo chặt chẽ, đầy đủ, kịp thời này để các cơ sở giáo dục trong toàn quốc bảo đảm tốt an ninh, an toàn trường học; bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường…

Thực tiễn trong bối cảnh Việt Nam hiện nay trước thực trạng bạo lực học đường, Bộ GD-ĐT cũng có nhiều Thông tư liên quan cũng như những văn bản cá biệt, chỉ thị về nội dung này, mới đây nhất là Chỉ thị số 993/CT-BGDĐT về việc tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực học đường trong cơ sở giáo dục Qua

đó, là tiền đề để các cơ sở giáo dục trong toàn quốc bảo đảm tốt an ninh, an toàn trường học; bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng chống bạo lực học đường…

Tóm lại, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo nhằm bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện và phòng chống bạo lực học đường rất đầy đủ Việc Bộ GD-ĐT đã ban hành đến 25 văn bản liên quan tới phòng chống bạo lực học đường cho thấy nỗ lực là có nhưng tình trạng mất an toàn

và bạo lực học đường vẫn gia tăng, thậm chí xuất hiện những vụ việc có diễn biến phức tạp, mức độ nghiêm trọng và gây bức xúc trong dư luận xã hội

1.3 Th ực trạng bạo lực học đường tại một số quốc gia trên thế giới – ý nghĩa đối với Việt Nam

Trang 40

1.3.1 Tình hình b ạo lực học đường ở một số nước trên thế giới

Theo số liệu của UNESCO năm 2017, tỉ lệ trẻ em và vị thành niên là nạn nhân của bạo lực học đường hằng năm lên đến 246 triệu người trên toàn thế giới; tỉ

lệ học sinh ở độ tuổi từ 11 đến 15 bị lạm dụng vào bạo lực ở 30 quốc gia dao động

từ 9-73% Đặc biệt, số liệu của Plan Internationl và Trung tâm nghiên cứu quốc tế

về phụ nữ (ICRW) khảo sát trên 5 quốc gia: Campuchia, Việt Nam, Indonesia, Pakista và Nepal cho thấy, cứ 10 em học sinh thì có 7 em từng trải nghiệm bạo lực

học đường Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ số học sinh hứng chịu nạn bao lực đứng

thứ 2 với 71%, chỉ đứng sau Indonesia[45]

Theo báo cáo của Liên hợp quốc, mỗi năm trên thế giới có khoảng 6 triệu

em trai và 4 triệu em gái trực tiếp liên quan đến bạo lực học đường[8] và con số này đang ngày một tăng cao ở tất cả những lớp học và cấp học khác nhau, không

chỉ ở các học sinh nam mà thực tế lại có nhiều vụ học sinh nữ đánh nhau hội đồng gây hậu quả rất nghiêm trọng Nguyên nhân đẫn đến đánh nhau rất đơn giản như

“nhìn đểu”, xinh hơn bạn, người mới đến, học giỏi, không giúp đỡ bạn làm bài… Cách xử lý thì bằng đủ vật dụng từ giày dép, guốc, cặp sách, ghế ngồi, dây lưng,…điều lo ngại hơn cả là sự thờ ơ của các em, khi chỉ xúm xùm vào quay phim

Ngày đăng: 12/01/2022, 13:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo An ninh th ủ đô (2015) “ N ữ sinh Trà Vinh b ị b ạ n cùng l ớ p ném gh ế , gi ậ t tóc đánh tơi tả” https://anninhthudo.vn/nu-sinh-tra-vinh-bi-ban-cung-lop-nem-ghe-giat-toc-danh-toi-ta-post232263.antd Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sinh Trà Vinh bị bạn cùng lớp ném ghế, giật tóc đánh tơi tả”
2. Báo Lao động (2020) “ N ữ sinh l ớ p 9 b ị đánh hội đồng, gia đình gửi đơn trình báo ” https://laodong.vn/xa-hoi/nu-sinh-lop-9-bi-danh-hoi-dong-gia-dinh-gui-don-trinh-bao-794497.ldo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nữ sinh lớp 9 bị đánh hội đồng, gia đình gửi đơn trình báo
3. Báo Nhân dân (2018) “ Tuyên ph ạt Đinh Bằng My tám năm tù về t ộ i dâm ô h ọ c sinh ” https://nhandan.com.vn/thoi-su-phap-luat/tuyen-phat-dinh-bang-my-tam-nam-tu-ve-toi-dam-o-hoc-sinh-375370 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyên phạt Đinh Bằng My tám năm tù về tội dâm ô học sinh
4. Bùi Th ị H ồng (2010), “ Tình hình b ạ o l ự c h ọc đườ ng ở Vi ệ t Nam nh ững năm g ần đây” , Niêm giám thông tin khoa h ọ c xã h ộ i, S ố 6/2010, Tr 345-374 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình bạo lực học đường ở Việt Nam những năm gần đây”
Tác giả: Bùi Th ị H ồng
Năm: 2010
5. Chính ph ủ nướ c C ộ ng hòa Xã h ộ i Ch ủ nghĩa Việ t Nam (2017), Ngh ị đị nh s ố : 80/2017/NĐ - CP “Quy đị nh v ề môi trườ ng giáo d ụ c an toàn, lành m ạ nh, thân thi ệ n, phòng, ch ố ng b ạ o l ự c h ọc đường” , Th ủ tướ ng Chính ph ủ ký ngày 17/07/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy định về môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường”
Tác giả: Chính ph ủ nướ c C ộ ng hòa Xã h ộ i Ch ủ nghĩa Việ t Nam
Năm: 2017
7. C ổng thông tin Điệ n t ử t ỉnh Hưng Yên (2020) “Môi trườ ng h ọc đườ ng t ỉ nh Hưng Yên: nhữ ng k ế t qu ả và h ạ n ch ế” http://hungyen.gov.vn/portal/Pages/2009-08/Cong-cuoc-cai-cach-giao-duc--ed7d46dbd4c0ff8a.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Môi trường học đường tỉnh Hưng Yên: những kết quả và hạn chế”
8. C ổng thông tin Điệ n t ử Qu ố c H ộ i Vi ệ t Nam (2019) “Thự c tr ạ ng và gi ả i pháp hoàn thi ệ n chính sách, pháp lu ậ t v ề phòng, ch ố ng b ạ o l ự c h ọc đường”http://quochoi.vn/UserControls/Publishing/News/BinhLuan/pFormPrint.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về phòng, chống bạo lực học đường”
9. C ổng thông tin Điệ n t ử Qu ố c H ộ i Vi ệt Nam (2018) “ Th ự c tr ạ ng và gi ả i pháp hoàn thi ệ n chính sác h, pháp lu ậ t v ề phòng, ch ố ng b ạ o l ự c h ọc đườ ng”http://quochoi.vn/viennghiencuulapphap/lapphap/Pages/nghien-cuu-chuyen-de.aspx?ItemID=200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp hoàn thiện chính sác h, pháp luật về phòng, chống bạo lực học đường
10. Đào Văn Hoàng Giang (2017), “Ảnh hưở ng c ủ a b ạ o l ự c h ọc đường đế n s ự phát tri ể n nhân cách h ọ c sinh trung h ọc cơ sở” , Tạp chí Quản lý giáo dục, Số tháng 1/2017, Tr26- 31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của bạo lực học đường đến sựphát triển nhân cách học sinh trung học cơ sở”
Tác giả: Đào Văn Hoàng Giang
Năm: 2017
11. Đặng Thanh Nga, Trương Quang Vinh (2014), “Người chưa thành niên ph ạ m t ộ i - Đặc điể m tâm lý và chính sách x ử lý”, Nhà xu ấ t b ản Tư pháp, Hà Nộ i.Tr.7-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Người chưa thành niên phạm tội - Đặc điểm tâm lý và chính sách xử lý”
Tác giả: Đặng Thanh Nga, Trương Quang Vinh
Nhà XB: Nhà xuất bản Tư pháp
Năm: 2014
12. Đỗ Ngọc Khanh (2016), “Nguyên nhân ch ủ quan d ẫn đế n b ạ o l ự c h ọ c đường” , T ạ p chí Tâm lí h ọ c, S ố 4 (205), Tr 15-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân chủ quan dẫn đến bạo lực học đường”
Tác giả: Đỗ Ngọc Khanh
Năm: 2016
13. Đứ c Thu ậ n (2018) “Xây dựng trườ ng h ọ c an toàn – m ộ t vi ệ c làm c ấ p bách và có ý nghĩa” http://hungyen.gov.vn/portal/Pages/2009-08/Cong-cuoc-cai-cach-giao-duc--ed7d46dbd4c0ff8a.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng trường học an toàn – một việc làm cấp bách và có ý nghĩa”
15. Hoàng Phê (2003) “ T ừ điể n Ti ế ng Vi ệ t – Vi ệ n ngôn ng ữ h ọ c ”, nhà xuấ t b ản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từđiển Tiếng Việt – Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: nhà xuất bản Đà Nẵng
17. H ộ i Khoa h ọ c Tâm lí - Giáo d ụ c Vi ệt Nam (2016), “ Phòng - Ch ố ng b ạ o l ự c h ọ c h ọc đườ ng trong b ố i c ả nh hi ệ n nay - Th ự c tr ạ ng và gi ả i pháp ”, Tuyể n t ậ p công trình khoa h ọ c H ộ i th ả o qu ố c gia t ổ ch ứ c n gày 21 và 22 tháng 7 năm 2016 tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng - Chống bạo lực học học đường trong bối cảnh hiện nay - Thực trạng và giải pháp
Tác giả: H ộ i Khoa h ọ c Tâm lí - Giáo d ụ c Vi ệt Nam
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
Năm: 2016
18. Hu ỳnh Văn Sơn, Nguyễ n Th ị Di ễ m My, Nguy ễ n Hu ỳ nh Ng ọ c Trâm (2014), “Bạ o l ự c h ọc đườ ng: C ầ n có cái nhìn khoa h ọ c v ề khái ni ệm” , Vi ệ n Nghiên c ứ u giáo d ụ c - Đạ i h ọc Sư phạ m TP. H ồ Chí minh, K ỷ y ế u H ộ i th ả o Th ự c Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Bạo lực học đường: Cần có cái nhìn khoa học về khái niệm”
Tác giả: Hu ỳnh Văn Sơn, Nguyễ n Th ị Di ễ m My, Nguy ễ n Hu ỳ nh Ng ọ c Trâm
Năm: 2014
20. Lê Minh Nguy ệ t (2012), “Các yế u t ố ảnh hưởng đế n hành vi b ạ o l ự c h ọ c đườ ng c ủ a h ọc sinh THCS” , K ỷ y ế u H ộ i th ả o qu ố c t ế tâm lí h ọc đườ ng l ầ n th ứ 3: Phát triển mô hình và kỹ năng hoạt động tâm lí học đường, NXB ĐHSP TP.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bạo lực học đường của học sinh THCS”
Tác giả: Lê Minh Nguy ệ t
Nhà XB: NXB ĐHSP TP.Hồ Chí Minh
Năm: 2012
21. Lê Th ị Phương Nga (2016), “Nguyên nhân v à nh ữ ng gi ải pháp ngăn chặ n b ạ o l ự c h ọc đường trong nhà trườ ng hi ệ n nay ”, Tạ p chí Giáo d ụ c và Xã h ộ i, S ố tháng 2/2016, Tr109-111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nguyên nhân và những giải pháp ngăn chặn bạo lực học đường trong nhà trường hiện nay
Tác giả: Lê Th ị Phương Nga
Năm: 2016
24. Nguy ễn Bá Đạ t (2012), “Báo cáo tổ ng k ết đề tài nghiên c ứ u khoa h ọ c c ấ p ĐHQG Hà Nộ i: B ạ o l ự c h ọc đườ ng ở nướ c ta hi ệ n nay - th ự c tr ạ ng và gi ả i pháp”, ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học cấp ĐHQG Hà Nội: Bạo lực học đường ở nước ta hiện nay - thực trạng và giải pháp”
Tác giả: Nguy ễn Bá Đạ t
Năm: 2012
25. Nguyễn Bá Đạt (2013), “Các lý thuyế t trong nghiên c ứ u v ề b ạ o l ự c h ọc đườ ng hi ện nay” , T ạ p chí Giáo d ụ c, S ố 321, K ỳ 1-10/2013, Tr 8-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các lý thuyết trong nghiên cứu về bạo lực học đường hiện nay”
Tác giả: Nguyễn Bá Đạt
Năm: 2013
14. H ệ th ố ng thông tin qu ả n lý giáo d ụ c – Giáo d ục và Đào tạ o t ỉnh Hưng Yên http://truong.hungyen.edu.vn/Login.aspx?dv=C2 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê cho thấy mật đột ập trung các trường THCS trên địa bàn tình - Luận văn Thạc sĩ Quyền được bảo vệ khỏi bạo lực học đường của học sinh cấp Trung học cơ sở, từ thực tiễn tỉnh Hưng Yên
Bảng th ống kê cho thấy mật đột ập trung các trường THCS trên địa bàn tình (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w