Trong khi đó, mặc dù quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư đã được quy định rõ trong Hiến pháp 2013 nhưng chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta, kể cả Bộ luật Dân sự mới ba
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HÒA
QUYÒN BÊT KH¶ X¢M PH¹M VÒ §êI SèNG RI£NG T¦
TRONG PH¸P LUËT VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ HÒA
QUYÒN BÊT KH¶ X¢M PH¹M VÒ §êI SèNG RI£NG T¦
TRONG PH¸P LUËT VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS HỒ QUANG HUY
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ những nội dung và số liệu trong luận văn này là do tôi nghiên cứu, thực hiện
Những nội dung nghiên cứu, tham khảo từ các nguồn tài liệu của cơ quan, thư viện, các thông tin trên Internet, chuyên gia, các nhà khoa học được trích dẫn chính xác, đầy đủ, tin cậy và sử dụng đúng theo nguyên tắc nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Hòa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học cao học và hoàn thiện Luận văn thạc
sỹ này, trước hết, tôi xin được chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu nhà trường, Quý thầy cô giáo trường Đại học Quốc gia Hà Nội đã tạo điều điện thuận lợi để tôi học tập và hoàn thành khóa học, đặc biệt là các giáo sư, phó giáo sư, tiến sỹ của Khoa Luật đã trực tiếp giảng dạy, tận tình truyền đạt những kiến thức cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến Sỹ Hồ Quang Huy, Giám đốc Nhà Xuất bản Tư pháp, Bộ Tư pháp đã giành rất nhiều thời gian, tâm huyết để hướng dẫn, đồng hành cùng tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn tốt nghiệp này
Nhân đây tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các cơ quan, đơn
vị, cá nhân đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu, số liệu, tài liệu; sự cảm kích và biết ơn gia đình, đồng nghiệp, những người bạn thân thiết đã luôn ủng hộ, động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Tác giả
Nguyễn Thị Hòa
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ 7
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung và giới hạn của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư 7
1.2 Vai trò và nội dung của pháp luật về quyền bất khả xâm phạm đời sống riêng tư 16
1.3 Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư 21
Tiểu kết Chương 1 31
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 32
2.1 Sơ lược lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư tại Việt Nam 32
2.2 Khung pháp luật hiện hành liên quan đến quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở Việt Nam hiện nay 44
2.3 Đánh giá tổng quát về khung pháp luật hiện hành của Việt Nam về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư 57
Tiểu kết Chương 2 88
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP CỦNG CỐ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ Ở VIỆT NAM 89
3.1 Quan điểm củng cố pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở Việt Nam 89
3.2 Giải pháp củng cố pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở Việt Nam 94
Tiểu kết Chương 3 103
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS: Bộ luật Dân sự BLHS: Bộ luật Hình sự ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị UDHR: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Quyền riêng tư (right to privacy) được thể hiện qua quyền bất khả
phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Tuy nhiên, nếu như các quyền đó chỉ dừng lại ở
việc xác lập, ghi nhận thì chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn, mà cần phải
luật hóa một cách rõ ràng để bảo vệ, nhằm ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý
những tình huống có thể xảy ra trên thực tế
Trên thế giới, một số tổ chức quốc tế đã ban hành các văn bản để bảo vệ quyền con người, trong đó có quyền riêng tư Ví dụ, Khoản 1, Điều 17 Công ước
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) năm 1966 quy định: “Không ai
bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín”
Ở Việt Nam, Khoản 1, Điều 21 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người
có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình Thông tin về đời sống riêng
tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”
Dù vậy, trong khoảng 5 năm trở lại đây, sự phát triển của công nghệ số
và Internet, ngoài những điểm cộng mà nó mang lại như tri thức, thúc đẩy các
hoạt động kinh doanh thương mại, cũng đồng thời làm gia tăng tình trạng xâm
phạm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân ở Việt Nam Bí mật đời tư bị xâm hại
ngày ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp khó lường, để lại những hậu quả nghiêm trọng, đơn giản như việc lộ lọt thông tin cá nhân như địa chỉ số nhà,
số điện thoại, email, facebook…, cho đến phức tạp hơn như việc phát tán các ảnh khiêu dâm, clip sex lên mạng để tống tình, tống tiền… Có những vụ việc
vi phạm còn vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia Việt Nam khi mới đây
bà MF, quốc tịch Tây Ban Nha đã phải cầu cứu một chi nhánh của Tổ chức
Trang 8Hợp tác con nuôi quốc tế để phản ánh về thông tin nhạy cảm bà nhận con nuôi
là bé D bị công khai trên cổng thông tin Sở tư pháp VL đã ảnh hưởng nghiêm
trọng đến đời sống riêng tư, tiết lộ công khai danh tính của bà và con bà
Trong khi đó, mặc dù quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư đã được quy định rõ trong Hiến pháp 2013 nhưng chưa có một văn bản pháp luật nào của nước ta, kể cả Bộ luật Dân sự mới ban hành năm 2015, làm rõ khái
niệm đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình; những thông tin nào được coi là bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo vệ và các biện pháp bảo đảm quyền này được thực hiện như thế nào? Việc thi hành pháp luật
về vấn đề này trên thực tế cũng còn nhiều bất cập, hạn chế, trong khi sự phát triển về mọi mặt của đất nước và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng đang đòi
hỏi thông tin cá nhân (nhất là những thông tin liên quan đến danh dự, nhân
phẩm, uy tín) phải được sự bảo vệ một cách phù hợp và tương thích với luật pháp quốc tế
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên quyết định lựa chọn đề tài
“Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư trong pháp luật Việt Nam” để
thực hiện luận văn thạc sĩ luật học của mình, nhằm góp phần hoàn thiện khung khổ pháp luật Việt Nam về vấn đề này trong thời gian tới
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua, đã có một số bài viết, công trình nghiên cứu của giới luật học trong nước cũng như quốc tế được công bố có liên quan đến bảo
vệ bí mật cá nhân, trong đó có thể nêu một số công trình như:
Ở phạm vi quốc tế có những công trình sau:
- Terms Feed (2016), Privacy laws in Southeast Asia;
- Open Society Institute, Privacy and human rights;
- Cuốn Developing key privacy right (2002) của Madeleine Colvin,
Nxb hart, nghiên cứu về những bước phát triển chính về quyền riêng tư đặt trong mối tương quan với thực thi các quyền con người
Trang 9- Cuốn Data protection in the financial services industry (2006) của
Mandy Webster, Nxb Gower Publishing nghiên cứu việc bảo vệ, bảo mật dữ liệu trong ngành dịch vụ tài chính
Ở phạm vi trong nước, có một số công trình dưới đây:
- Lê Đình Nghị (2008), Quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp
luật dân sự Việt Nam, Luận văn tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội Là công trình nghiên cứu tương đối toàn diện, cụ thể về quyền bí mật đời tư theo quy định của pháp luật dân sự Việt Nam trong mối quan hệ với quyền nhân thân
- Nguyễn Thị Huyền Trang (2014), Quyền được bảo vệ đời tư trong
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật,
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu về các nội dung cơ bản về quyền được bảo vệ đời tư
- Nguyễn Thị Hạnh (2017), Cơ chế bảo đảm thực hiện quyền bảo mật dữ
liệu cá nhân, đề tài nghiên cứu cấp Bộ, trường Đại học Luật Hà Nội chủ trì;
- Hoàng Lê Minh, Quyền bí mật đời tư trong Hiến pháp năm 2013
và thực tiễn tại Việt Nam (2016), luận văn thạc sỹ luật học Đây là luận
văn đề cập đến vấn đề bí mật đời tư trong Hiến pháp năm 2013 nhưng vẫn
sử dụng khái niệm “quyền bí mật đời tư” trong khi Hiến pháp năm 2013
đã mở rộng hơn khái niệm này thành quyền về đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân, bí mật gia đình
Một số bài viết khác như:
- Phùng Trung Tập, Bàn thêm về các quyền nhân thân của cá nhân
trong Bộ luật dân sự năm 2005, Tạp chí nghiên cứu pháp luật số 17/2013;
- Phùng Bích Ngọc, Luận bàn về quyền nhân thân đối với hình ảnh của
cá nhân theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp, số 22/2012;
Trang 10- Lê Văn Sua, Thế nào là vi phạm quyền của cá nhân đối với hình ảnh
riêng tư?, Tạp chí Luật sư Việt Nam, số 6/2015
- Trần Văn Biên, Pháp luật và vấn đề bảo vệ thông tin cá nhân trên môi
trường Internet, Tạp chí nhà nước và pháp luật, số 9/2009
- Hoàng Thư, Lỗ hổng pháp luật trong bảo vệ bí mật đời tư, Báo Pháp
luật Việt Nam
Những công trình nêu trên đã cung cấp một lượng tri thức, thông tin lớn về đề tài, là nguồn tài liệu tham khảo quý báu cho tác giả trong việc thực
hiện luận văn là “Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư trong pháp
luật Việt Nam” Mặc dù vậy, hầu hết các công trình nêu trên được thực hiện
trước khi Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 được ban hành, vì thế chưa cập nhật những quy định mới về vấn đề này ở nước ta Ngoài ra, chưa có công trình nào nhấn mạnh tính chất “bất khả xâm phạm”, cũng như
đề xuất được những giải pháp toàn diện để giải quyết những bất cập trong việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở nước ta Chính vì vậy, luận văn này vẫn có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn
3 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 M ục đích nghiên cứu
Nghiên cứu một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, pháp luật và
thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở nước ta cho phù hợp với luật pháp quốc tế
3.2 Nhi ệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn cần giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về quyền bất khả xâm phạm
về đời sống riêng tư ở Việt Nam;
Trang 11- Nghiên cứu làm rõ khung pháp luật, đánh giá thực trạng thực thi pháp
luật về bảo vệ đời sống riêng tư tại Việt Nam, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân
- Đề xuất những phương hướng, giải pháp củng cố pháp luật về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận và khung pháp luật về quyền
bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở Việt Nam
4.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Về nội dung, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu khái niệm, đặc điểm,
nội dung, tiêu chí, yếu tố ảnh hưởng đến việc củng cố pháp luật về bảo vệ
bí mật đời sống riêng tư, pháp luật về bảo vệ thông tin đời sống riêng tư
một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Những quan điểm khoa học ở trong nước và nước ngoài về bảo vệ đời sống riêng
tư và pháp luật về bảo vệ thông tin đời sống riêng tư; các quy định pháp
luật hiện hành về bảo vệ thông tin đời sống riêng tư ở nước ta sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành
Xét từ góc độ cơ bản, cơ chế pháp lý là tổng hòa các yếu tố bao gồm: các thể chế, các thiết chế và các thủ tục, trình tự bảo vệ quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Tuy nhiên, trong phạm vi nghiên
cứu, học viên chỉ tập trung nghiên cứu về các cơ chế pháp lý bảo vệ quyền bất
khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình thông qua
hệ thống pháp luật phổ biến tại Việt Nam
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và
Trang 12Luận văn kết hợp sử dụng các phương pháp nghiên cứu dưới đây để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra:
- Phương pháp bình luận, diễn giải, phương pháp lịch sử…được sử dụng để nghiên cứu tổng quan một số vấn đề lý luận về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư;
- Phương pháp so sánh luật học, phương pháp trao đổi, tham kiến chuyên gia vv… được sử dụng để tìm hiểu pháp luật và thực trạng về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư trong hệ thống pháp luật Việt Nam;
- Các phương pháp tổng hợp, phân tích được sử dụng để xem xét, tìm hiểu vấn đề về các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật tại Việt Nam để bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu toàn diện, chuyên sâu về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở nước ta từ trước tới nay Những phân tích, kiến giải và đề xuất trong luận văn góp phần củng cố cơ sở lý luận để củng cố pháp luật về bảo vệ quyền này trong thực tế ở nước ta
Luận văn cũng có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy
và nghiên cứu ở các cơ sở đào tạo của nước ta
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề về lý luận về quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư
Chương 2: Thực trạng pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Quan điểm, giải pháp củng cố khung pháp luật về quyền bất
khả xâm phạm về đời sống riêng tư ở Việt Nam
Trang 13Chương 1
N HỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LÝ VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, nội dung và giới hạn của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
1.1.1 Khái niệm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Để tìm hiểu về quyền bất khả xâm phạm đời sống riêng tư, trước hết cần đề cập đến quyền nhân thân, vì quyền bất khả xâm phạm đời sống riêng
tư nằm trong nội hàm của quyền nhân thân
Quyền nhân thân là một khía cạnh biểu đạt của quyền dân sự, do vậy,
về nguyên tắc thì quyền nhân thân chỉ bao hàm những gì thuộc về một cá nhân nhất định (không phải của bất kỳ người nào khác) Những yếu tố của quyền nhân thân, nhằm phân biệt người này với người khác, ví dụ như qua họ tên, giới tính, tuổi tác, thành phần, dân tộc Đây cũng chính là thông tin để loại trừ những thuộc tính không phải là của một thể nhân (ví dụ, của một tổ chức, người nhân bản )
Hiện nay, khái niệm quyền nhân thân vẫn chưa được định nghĩa một cách rõ ràng trong pháp luật quốc gia và quốc tế (về mặt ngôn ngữ học, gốc của từ “nhân thân” trong tiếng Việt vốn là một từ ghép nghĩa Hán - Việt) Tuy nhiên, Điều 25 Bộ luật Dân sự năm 2015 của Việt Nam đã xác định một số thuộc tính của quyền nhân thân, cụ thể như sau:
1 Quyền nhân thân được quy định trong Bộ luật Dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác
2 Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi
Trang 14dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi phải được người đại diện theo pháp luật của người này đồng ý theo quy định của Bộ luật này, luật khác có liên quan hoặc theo quyết định của Tòa án
Việc xác lập, thực hiện quan hệ dân sự liên quan đến quyền nhân thân của người bị tuyên bố mất tích, người đã chết phải được sự đồng ý của vợ, chồng hoặc con thành niên của người đó; trường hợp không có những người này thì phải được sự đồng ý của cha, mẹ của người bị tuyên bố mất tích, đã chết, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác
Trong cuốn Từ điển Luật học năm 1999 của trường Đại học Luật Hà Nội bổ sung thêm một số dấu hiệu của quyền nhân thân, trong đó xem quyền nhân thân là “… giá trị nhân thân của cá nhân, tổ chức được pháp luật ghi nhận và bảo vệ” Ấn phẩm này cũng nêu rõ: “Chỉ những giá trị nhân thân được pháp luật ghi nhận mới được coi là quyền nhân thân; Quyền nhân thân luôn gắn với chủ thể và không thể chuyển giao cho người khác trừ trường hợp pháp luật có quy định”
Những yếu tố nêu trên của quyền nhân thân cũng chính là các đặc điểm của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Khái niệm quyền về đời sống riêng tư là sự tổng hợp nội hàm của các thuật ngữ “quyền”, “đời sống” và sự “riêng tư” Về mặt lý thuyết, quyền là những gì mà theo lẽ công bằng và chính đáng một người có thể được hưởng, được làm, và do đó được yêu cầu, đòi hỏi các chủ thể khác tôn trọng cách xử
sự của mình Còn về mặt pháp lý, quyền luôn được hiểu là những quy tắc xử
sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện, dựa trên nhu cầu của bản thân, trong đó bao gồm cả những gì mà pháp luật quy định cụ thể và những gì mà không bị pháp luật cấm “Đời sống” được định nghĩa là “sự sinh
Trang 15sống, hoạt động diễn ra trong cơ thể một sinh vật” hoặc “hoạt động của con
người về một lĩnh vực nào đó nói chung” hoặc “ lối sống, điều kiện sống, sinh hoạt của con người, xã hội” [31, tr.560] Còn “riêng tư” được định nghĩa là
“riêng của từng người, từng cá nhân” [31, tr.1333]
Cũng về mặt pháp lý, khái niệm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư chủ yếu hàm ý quyền về đời sống riêng tư (hay quyền bí mật đời tư – the right to privacy) Cụm tính từ “bất khả xâm phạm” chỉ mang tính tương đối, được dùng với tính chất để nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền này (theo Từ điển tiếng Việt “bất khả xâm phạm” là không ai có quyền xâm phạm đến, đụng đến [29, tr.66]) Bởi vậy, những phân tích trong luận văn này chủ yếu nói đến cốt lõi của nó là quyền về đời sống riêng tư
Quyền về đời sống riêng tư đã được đề cập trong nhiều các văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực Tiêu biểu nhất trong đó là Công ước về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) Công ước này dành hẳn một điều riêng đề cập đến quyền về đời sống riêng tư, trong đó khẳng định:
Không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những can thiệp hoặc xâm phạm như vậy [6, Điều 17]
Tại mỗi quốc gia trên thế giới tùy vào điều kiện cụ thể mà mức độ đề cập đến quyền này ít nhiều khác nhau, tuy nhiên quyền về đời sống riêng tư đều được coi như là một quyền con người cơ bản, được hiến định, đồng thời được ghi nhận trong các văn bản pháp luật khác, đặc biệt là luật dân sự Ví dụ,
ở Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định:
Một người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật
cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của
Trang 16mình Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn [20, Điều 21]
Cụ thể hoá quy định này của Hiến pháp năm 2013, Bộ luật Dân sự năm
2015 nêu rõ:
Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng có công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác; thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp hợp quy định; Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác [23, Điều 38]
Tóm lại, từ những phân tích ở trên, có thể định nghĩa: Quyền bất khả
xâm phạm về đời sống riêng tư là quyền dân sự cơ bản của cá nhân, được pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia ghi nhận và bảo vệ Trong tất cả các quan hệ xã hội, cá nhân có quyền bảo vệ đời sống riêng tư của mình và không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có quyền tuỳ tiện xâm phạm Cá nhân được áp dụng các biện pháp phù hợp với quy định của pháp luật, được yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khi quyền về đời sống riêng tư của mình bị xâm phạm
1.1.2 Đặc điểm của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư thuộc về nhóm quyền
Trang 17dân sự được pháp luật quốc gia và quốc tế quy định và bảo vệ Nó cũng mang đầy đủ đặc điểm của các quyền dân sự, mà cụ thể là các quyền nhân thân, bên cạnh đó còn có những đặc trưng riêng như sau:
Thứ nhất: Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư luôn thuộc về
cá nhân (thể nhân), không thuộc về nhóm hay tổ chức (pháp nhân) Mặc dù trong thực tế có thể có những bí mật chung về đời sống riêng tư thuộc về một nhóm người hay một tổ chức nhất định, song những bí mật đó không thuộc về quyền này, mà có thể gọi là bí mật của nhóm hay của pháp nhân Sự phân biệt này là để bảo đảm không một nhóm hay pháp nhân nào có quyền định đoạt, sao chép thông tin cá nhân của một người trái với mong muốn của người đó
Thứ hai: Chủ thể được bảo hộ quyền bất khả xâm phạm về đời sống
riêng tư là mọi cá nhân Các cá nhân bình đẳng trước pháp luật trong việc thực hiện quyền này, và được pháp luật bảo vệ quyền này một cách bình đẳng Là một trong số nhiều nội dung của năng lực bảo vệ pháp luật, quyền bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và quyền nhân thân phải là bình đẳng Tuy nhiên, cũng có sự khác biệt về việc bảo vệ các thông tin cá nhân trong một vài trường hợp, chẳng hạn như những người nổi tiếng hoặc các chính khách Đối với những người này, bí mật về đời sống riêng tư luôn là tâm điểm được công chúng quan tâm, vì thế khi những thông tin bí mật đời tư của bản thân họ được công khai đến một mức độ nhất định thì dường như đó là câu trả lời thẳng thắn cho công chúng biết và sự soi xét dường như cũng giảm xuống Ngoài ra, với tính chất là “người của công chúng”, trong nhiều trường hợp thông tin về đời sống cá nhân của họ có ảnh hưởng đến lợi ích chung của cộng đồng, vì vậy cần phải được công khai Tất
cả những yếu tố này khiến cho việc sử dụng hình ảnh, thông tin về hoạt động,
và một số dạng thông tin khác về đời sống riêng tư của những đối tượng đã nêu không bị coi là xâm phạm đến bí mật đời tư của họ, trừ khi việc sử dụng
Trang 18T hứ ba: Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư rất quan trọng
song không phải là quyền tuyệt đối Cụm từ “bất khả xâm phạm” – như đã phân tích, chỉ mang tính chất nhấn mạnh, về mặt pháp lý không hàm nghĩa
là quyền này không thể bị tước bỏ hay hạn chế trong mọi trường hợp Trong thực tế, pháp luật quốc tế và pháp luật của các quốc gia đều thừa nhận, trong một số trường hợp nhất định, cơ quan nhà nước có quyền có thu thập, khai thác, sử dụng dữ liệu thông tin cá nhân phục vụ lợi ích quốc gia và lợi ích của cộng đồng
Thứ tư: Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư của mỗi cá nhân
được ghi nhận và bảo vệ vô thời hạn, ngay cả khi cá nhân đó đã chết Đây là một đặc điểm chung của các quyền nhân thân Nó có nghĩa là cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết đi, hoặc khi bị Tòa án ra quyết định tuyên là đã chết, thì
bí mật đời tư của họ vẫn được pháp luật duy trì bảo vệ Điều này là bởi những thông tin cá nhân của người đã chết vẫn ảnh hưởng đến cuộc sống của những người thân thích của họ Do đó, theo pháp luật của các quốc gia, trong trường hợp muốn sử dụng những thông tin cá nhân của người đã chết thì phải được
sự đồng ý của thân nhân họ
Thứ năm: Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư có sự gắn bó
mật thiết với các quyền khác như: tự do ngôn luận và biểu đạt; quyền tự do hiệp hội và hội họp Về vấn đề này, Điều 19 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR, 1948) đã khẳng định: mọi người có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; quyền này bao gồm quyền tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp,
và tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin và các ý tưởng thông qua bất cứ phương tiện truyền thông nào và không phân biệt biên giới Điều 20 UDHR nêu rõ: Mọi người có quyền tự do hội họp hòa bình và tự do hiệp hội Không
ai bị ép buộc phải theo một hiệp hội nào Như vậy, một người không thể bị theo dõi giám sát ngầm về đời tư chỉ vì lý do họ thường xuyên thực hành các quyền tự do về ngôn luận và biểu đạt, cũng như tự do tham gia vào các cuộc
Trang 19hội họp hòa bình hoặc các hiệp hội, trừ những trường hợp thuộc phạm vi hạn
chế quyền theo luật quốc tế
1.1.3 Ý nghĩa của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Quyền về sự riêng tư rất quan trọng đối với mỗi cá nhân và với xã hội
Sự riêng tư trao cho mỗi cá nhân một không gian để được là chính mình mà không bị người khác phán xét một cách vô cớ, cho phép mỗi người suy nghĩ một cách tự do mà không bị kỳ thị hoặc phân biệt đối xử, cũng như khả năng kiểm soát ai được phép biết gì về bản thân mình Ranh giới chính đáng thiết lập cho sự riêng tư của bản thân cho phép mỗi người hạn chế sự tiếp cận của những người khác đối với thân thể, nơi ở, vật dụng, việc giao tiếp truyền thông
và thông tin của bản thân mình ở mức độ an toàn, chấp nhận được Các nguyên tắc và quy định pháp lý về quyền về sự riêng tư đem lại cho mỗi cá nhân khả năng bảo vệ bản thân trong những tình huống khó khăn, đặc biệt là trong quan hệ với những đối tượng có quyền lực Bằng việc giảm thiểu những
gì mà người khác biết về bản thân mình trong giới hạn chính đáng, sự riêng tư
là cách thiết yếu để mỗi người có thể bảo vệ bản thân chống lại việc sử dụng quyền lực một cách tùy tiện, chống lại những người muốn nắm quyền kiểm soát người khác một cách bất hợp pháp
Đối với các xã hội, bảo vệ quyền về sự riêng tư của mỗi thành viên cũng chính là tạo lập và bảo vệ nền tảng của đời sống cộng đồng Một cộng đồng không thể tồn tại nếu các thành viên của nó không được bảo vệ khỏi những hình thức lạm dụng Theo nghĩa đó, bảo vệ quyền về sự riêng tư của mỗi cá nhân góp phần bảo đảm tính dân chủ, văn minh và sự phát triển ổn định, hài hoà của xã hội
1.1.4 Nội dung và giới hạn của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Nội dung của quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư phụ thuộc phần
Trang 20Về vấn đề này, mặc dù hầu hết các học giả và nhà hoạt động nhân quyền đều thừa nhận sự riêng tư (privacy) là một giá trị cần được pháp luật bảo vệ, nhưng hiện vẫn chưa có định nghĩa thống nhất nào về sự riêng tư [34] Những cách thức định nghĩa phổ biến hiện nay về sự riêng tư thường dừng ở mức độ chung chung, chẳng hạn, dựa trên sự không-can-thiệp (non-interference) (Warren
& Brandeis bàn về “quyền được riêng một mình”[39, tr.193-220]), hoặc ở phạm
vi quá rộng, như mức độ tiếp cận một con người (Gavison đề cập đến sự bí mật, trạng thái cô đơn một mình, và tính ẩn danh [38, tr.421-471]), hoặc việc kiểm soát thông tin (Westin xây dựng thang đo về thái độ với sự riêng tư về thông tin [32, p.xvi, 487]), hoặc ở phạm vi quá hẹp, như đi vào chi tiết “thân mật riêng tư” (intimate) hoặc “nhạy cảm” (sensitive) (Inness nói đến giới hạn phạm vi của sự riêng tư [35, p.ix, 157])
Theo Bygrave, những cách định nghĩa nêu trên đều có thể tìm thấy trong các văn bản pháp luật quy định về bảo vệ sự riêng tư ở các quốc gia [36, tr 319-348], cho thấy sự thiếu thống nhất trong quan niệm về vấn đề này
trên thế giới Mặc dù vậy, một số học giả đã phân định “sự riêng tư” trên các khía cạnh chính như: sự riêng tư về thông tin (information privacy) hay còn gọi
là việc „bảo vệ dữ liệu‟ („data protection‟), sự riêng tư về mặt cơ thể (bodily privacy), sự riêng tư về giao tiếp (privacy of communications) và sự riêng tư
về mặt không gian lãnh thổ (territorial privacy) [34]
Ngoài ra, cũng cần thấy rằng, khái niệm “sự riêng tư” còn có sự giao thoa nhất định với các khái niệm như “quyền tự do” (freedom), “sự tự do” (liberty) và “sự tự chủ” (autonomy) [40, tr.320] Chẳng hạn, trong bối cảnh nhất định, “sự riêng tư” được nhìn nhận như là một dạng của “sự tự chủ” - tức
là khả năng của một cá nhân kiểm soát được dòng chảy thông tin về chính bản thân người đó
Trong pháp luật quốc tế, có nhiều quy định liên quan đến sự riêng tư,
Trang 21chẳng hạn như quy định về quyền về đời sống riêng tư (private life), sự riêng tư (privacy), cuộc sống gia đình, giao dịch thư tín, nơi ở [37] Tuyên ngôn nhân quyền thế giới (UDHR) 1948 quy định về vấn đề bảo vệ sự riêng tư tại Điều
12, theo đó, sự riêng tư có thể được xem là một thuật ngữ bao trùm tất cả các quyền khác nhau được đề cập trong Điều 12 UDHR, trong đó có danh dự và uy tín cá nhân; việc bảo vệ gia đình, nơi ở, nơi cư trú, thư tín, điện thoại, thư điện
tử và các phương tiện giao tiếp điện tử khác, cũng như sự toàn vẹn về thể chất
và tinh thần Tóm lại, theo UDHR, các loại “phạm vi” riêng tư khác nhau bao gồm: sự toàn vẹn về thân thể; sự toàn vẹn về tinh thần; các mối quan hệ thân thiết; và sự cần thiết bảo vệ sự riêng tư ở nơi làm việc hoặc ở nơi khác
Về giới hạn của quyền, như đã đề cập ở phần trên, theo luật nhân quyền quốc tế, mặc dù quyền về sự riêng tư rất quan trọng, song đó không phải là quyền tuyệt đối Quyền về sự riêng tư cần được bảo vệ khỏi sự can thiệp tùy tiện hoặc trái pháp luật của mọi thể nhân và pháp nhân, trong đó bao gồm các
cơ quan và nhân viên nhà nước, cũng như những người sử dụng lao động Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các nhà nước có thể thu thập hoặc yêu cầu công dân cung cấp các thông tin về đời tư nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng của quốc gia, cộng đồng hoặc của người khác
Dù vậy, để phòng ngừa sự lạm dụng, luật nhân quyền quốc tế cũng quy định nhà chức trách chỉ có thể thu thập hoặc yêu cầu công dân cung cấp thông tin về đời tư khi những thông tin đó thực sự cần thiết để bảo vệ những lợi ích nêu trên [30, mục 7] Cụ thể, bất cứ sự can thiệp hay giới hạn nào đối với quyền về sự riêng tư cũng cần phải đáp ứng những yêu cầu sau [33, tr.5]:
- Phải tương thích với các quy định, mục tiêu, mục đích của Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR);
- Được thực hiện trên cơ sở tuân thủ các quy trình, thủ tục của pháp luật quốc gia và quốc tế;
Trang 22- Lý do và quy trình, thủ tục phải được quy định trong pháp luật mà công chúng có thể tiếp cận đầy đủ, các biện pháp can thiệp phải được xác định rõ ràng, cụ thể, chính xác để cá nhân bị tác động có thể dự liệu được trước bất cứ sự can thiệp nào;
- Có sự liên hệ một cách phù hợp và tương xứng với những mục tiêu hợp pháp của nhà nước, chẳng hạn như để thực thi pháp luật hoặc để bảo vệ
an ninh quốc gia, qua đó giảm thiểu tối đa khả năng tước bỏ hoặc hạn chế quyền về sự riêng tư, trên cơ sở có sự cân bằng giữa việc thực hiện mục tiêu của nhà nước và những giới hạn của quyền
1.2 Vai trò và nội dung của pháp luật về quyền bất khả xâm phạm đời sống riêng tƣ
1.2.1 Vai trò của pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Là một quyền con người cơ bản, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư có ý nghĩa đặc biệt với mỗi cá nhân và với toàn xã hội Tuy nhiên, với tính chất là một quyền con người, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư cần phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật Ở đây, pháp luật có vai trò là công cụ hiện thực hoá những nhu cầu, lợi ích chính đáng của con người vào thực tế cuộc sống
Trong bối cảnh ở Việt Nam, vai trò của pháp luật với việc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư thể hiện cụ thể qua những khía cạnh sau đây:
Thứ nhất: Pháp luật thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng
Cộng sản về quyền con người nói chung, trong đó có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư thành các quy tắc cư xử có tính bắt buộc với mọi chủ thể trong xã hội
Trang 23Từ trước đến nay, nhất là trong vài thập niên gần đây, vấn đề quyền con
người, quyền công dân được Đảng Cộng sản Việt Nam rất quan tâm Chỉ thị
số 12-CT/TW ngày 12/7/1992 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta” đã khẳng định quan điểm của Đảng về quyền con người, trong đó xem quyền con người là giá trị chung của nhân loại, đồng thời là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài của loài người, gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội Quan điểm đó tiếp tục được thể hiện trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng Gần đây nhất, Văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nêu rõ: “Cần quan tâm hơn nữa việc chăm lo hạnh phúc và sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết” [7]
Trên cơ sở đường lối của Đảng Cộng sản, Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung chế định quyền con người, quyền công dân; trong đó
có những quy định mới về nội hàm của quyền riêng tư: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình” [20, Điều 21] Quy định này cụ thể
và toàn diện hơn so với quy định về quyền riêng tư trong Hiến pháp năm 1992 (Hiến pháp 1992 chỉ nói đến quyền không bị xâm phạm về chỗ ở, thư tín, điện thoại, điện tín, không nói đến quyền về sự riêng tư theo nghĩa rộng)
Thứ hai: Pháp luật là công cụ để bảo vệ quyền về sự riêng tư của mỗi
cá nhân trước mọi sự xâm phạm trái phép, đồng thời cũng là cơ sở để nhân dân giám sát việc các cơ quan nhà nước thực thi trách nhiệm của mình trong việc bảo đảm quyền này của người dân
Một trong những yêu cầu quan trọng nhất dẫn đến sự ra đời của các quy định pháp luật về bảo vệ quyền về sự riêng tư (mà qua đó cũng thể hiện vai
Trang 24trò cơ bản của pháp luật về bảo vệ quyền này) đó là nhằm bảo vệ cá nhân trước những hành vi xâm phạm đời tư của rất nhiều chủ thể khác nhau, trong
đó bao gồm các cơ quan và quan chức nhà nước Đời sống riêng tư là khái niệm rộng, bao trùm hầu hết lĩnh vực và hoạt động của con người, vì thế rất
dễ bị tuỳ tiện xâm phạm Vì thế, pháp luật, với tính chất là đại lượng công bằng, là công cụ để thực thi công lý, là không thể thiếu và được coi là tấm lá chắn của mỗi cá nhân trước những hành vi xâm phạm quyền này, cho dù từ bất kỳ chủ thể nào
Trong thực tế, bảo vệ đời sống riêng tư là trách nhiệm của Nhà nước và toàn xã hội, được thực thi qua nhiều cơ chế, cách thức khác nhau, nhưng trong đó cơ chế pháp lý là quan trọng và hiệu quả nhất Mỗi cá nhân, với tư cách là chủ thể của những bí mật đời tư, có quyền được pháp luật bảo vệ, còn các cơ quan nhà nước có trách nhiệm thực hiện sự bảo vệ đó, bao gồm việc kiềm chế không tuỳ tiện xâm phạm đời tư của công dân, và thực thi các biện pháp để ngăn ngừa và xử lý những vi phạm quyền này
Thứ ba: Pháp luật tạo hành lang pháp lý cho chính cá nhân là chủ thể
của quyền và các chủ thể khác các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức và cá nhân khác) có thể tìm kiếm, khai thác hợp pháp và hiệu quả những thông tin thuộc
về các cá nhân, miễn là trong phạm vi hợp lý, để phục vụ các hoạt động sản xuất, kinh doanh và trong cuộc sống, từ đó tạo ra động lực phát triển và nguồn lực, giá trị cho xã hội
Trong thời đại công nghệ số hóa như hiện nay, thông tin nói chung và thông tin cá nhân là một nguồn lực quý giá nếu được khai thác hợp pháp, hợp
lý và hiệu quả Đối với cá nhân, pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân bảo đảm tính hợp pháp trong việc chia sẻ những thông tin của họ và của người khác
trong phạm vi cả trong và ngoài biên giới, từ đó giúp hỗ trợ các quyền công dân được phát huy tối đa Đối với cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp, việc sử
Trang 25dụng thông tin cá nhân cũng rất cần thiết để mang lại lợi ích vật chất cũng như tinh thần cho cá nhân đó hoặc những lợi ích cao hơn Đặc biệt, trong bối cảnh các quốc gia đang xây dựng chính phủ điện tử, đô thị thông minh, nền kinh tế số… thì việc sử dụng thông tin cá nhân là rất cần thiết Mặc dù vậy, để bảo đảm hài hoà lợi ích của cá nhân và của cộng đồng, cũng như để bảo vệ quyền về đời tư của mọi người, cần có những quy định pháp luật xác lập những giới hạn rõ ràng và những trường hợp loại trừ để những chủ thể sử dụng thông tin cá nhân không phải chịu những hậu quả pháp lý Đây là vai trò quan trọng của pháp luật về bảo vệ bí mật thông tin cá nhân nói riêng và về quyền được bảo vệ đời sống riêng tư nói chung
riêng tư
Pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ghi nhận nguyên tắc là mọi cá nhân được giữ bí mật về thông tin của mình, xem đó là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân
Như đã đề cập ở phần trên, mục đích cốt lõi của quyền về sự riêng tư là
để tôn trọng, bảo vệ cái “riêng” trong cái “chung”, cụ thể ở đây là những đặc tính cá biệt và không gian, lối sống riêng tư của cá nhân trong cộng đồng Do
đó, hạt nhân để xác lập các quyền, nghĩa vụ của cá nhân trong những vấn đề riêng tư chính là quyền tự quyết định của cá nhân đối với nhưng thông tin về bản thân mình Từ cách tiếp cận đó, có thể xác định những nội dung cụ thể của pháp luật về quyền về sự riêng tư như sau:
Thứ nhất: Quy định về quyền được biết
Quyền được biết là quyền của cá nhân, với tư cách chủ sở hữu những thông tin về bản thân mình, được biết những thông tin đó đã, đang nằm ở đâu
và được sử dụng bởi ai, nhằm mục đích gì? Quyền này là tiền đề để thực hiện
Trang 26các quyền tiếp theo về đời sống riêng tư Vì thế, pháp luật cần có quy định cụ thể về những vấn đề này
Thứ hai: Các quy định về quyền đồng ý
Quyền đồng ý là quyền được biểu đạt sự nhất trí hay không nhất trí, bao gồm cả sự thay đổi quyết định có liên quan đến đời tư của mình Pháp luật cũng cần có quy định về việc đó Nguyên tắc chung ở đây là pháp luật cần đề cao, tôn trọng quyền quyết định của cá nhân đối với thông tin về đời tư của họ; thông tin cá nhân càng quan trọng thì cách thức, hình thức bảo vệ càng phải chặt chẽ, rõ ràng hơn Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, quyền đồng ý của
cá nhân không phải là tuyệt đối; trong những trường hợp, ví dụ như vì mục đích an ninh quốc gia, thông tin cá nhân vẫn có thể được trưng dụng cho dù
cá nhân đó có muốn hay không Trong luật nhân quyền, đây được gọi là vấn
đề giới hạn quyền Vấn đề này cũng cần được quy định rõ trong pháp luật
Thứ ba: Các quy định về quyền được yêu cầu bảo vệ thông tin bí mật
cá nhân
Đây là một quyền rất quan trọng, thể hiện ở việc cá nhân chủ thể quyền
có thể yêu cầu những chủ thể có liên quan phải thực hiện các hành vi (hành động hoặc không hành động) để bảo vệ những thông tin về đời tư của mình phù hợp với pháp luật, khi phát hiện nguy cơ thông tin về đời tư của mình đang hoặc có thể bị xâm hại Vấn đề này cũng thường được quy định rõ ràng trong pháp luật của các quốc gia
Thứ tư: Quy định về quyền khiếu nại, khiếu kiện và bồi thường thiệt hại
Quyền này nói đến khả năng của chủ thể quyền, trên cơ sở pháp luật, tiến hành khiếu nại, tố cáo chủ thể vi phạm quyền riêng tư của mình, khi nhận thấy thông tin về đời sống riêng tư của mình bị xâm phạm trái pháp luật Đây cũng là vấn đề được quy định từ lâu trong pháp luật của các quốc gia
Trang 27Thứ năm: Quy định về quyền truy cập vào thông tin cá nhân của mình và sửa chữa, cải chính, xóa bỏ, hủy bỏ thông tin cá nhân
Chủ thể của quyền có quyền tiếp cận những thông tin về đời tư của mình một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời Các chủ thể mà đang sử dụng thông tin về người khác phải cung cấp cho chủ thể quyền những thông tin về
họ mà mình đang nắm giữ, trừ khi những thông tin cá nhân đó bị hạn chế hoặc cấm theo quy định của pháp luật Chủ thể của quyền cũng có quyền sửa chữa, yêu cầu sửa chữa, đính chính các thông tin cá nhân sai lệch và cao hơn
là yêu cầu hủy bỏ thông tin cá nhân đó Pháp luật cần quy định một cách rõ ràng về vấn đề này, nhằm ràng buộc những chủ thể đang thu thập và sử dụng thông tin cá nhân của công dân, trong đó bao gồm các cơ quan nhà nước
1.3 Pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tƣ
1.3.1 Quy định của pháp luật quốc tế về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Như đã đề cập ở các phần trên, quyền về sự riêng tư là một trong những
quyền con người cơ bản được ghi nhận trong nhiều văn kiện quốc tế và khu vực quan trọng về quyền con người, cụ thể như: Điều 12 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) Bên cạnh đó, một số văn kiện quốc tế khác cũng có quy định về quyền này của những nhóm xã hội dễ bị tổn thương, ví dụ như Điều 22 Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2007 (CRPD), Điều 14 Công ước quốc tế về bảo vệ quyền của tất cả những người lao động di trú và các thành viên gia đình họ, năm 1990… Ở cấp khu vực, quyền này cũng đã được bảo vệ bởi nhiều văn kiện nhân quyền khu vực, cụ thể như Điều 10 Hiến chương Châu Phi về quyền và phúc lợi trẻ em, Điều 4 các nguyên tắc của Liên đoàn Châu Phi về tự do biểu đạt, Điều 11
Trang 28Công ước nhân quyền Châu Mỹ năm 1969; Điều 5 Tuyên ngôn Châu Mỹ về các quyền và nghĩa vụ của con người năm 1948, Điều 16 và 21 Hiến chương
Ả rập về nhân quyền, Điều 2 Tuyên bố nhân quyền Châu Âu năm 1950
Những nội dung cơ bản được bảo vệ trong quyền về sự riêng tư bao gồm đời tư, gia đình, nơi ở, thư tín, danh dự, uy tín cá nhân Cụ thể, Điều 21 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền năm 1948 (UDHR) quy định:
Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào sự riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín hay bị xúc phạm danh dự hoặc uy tín cá nhân Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại sự can thiệp và xâm phạm như vậy
Theo Điều 17 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966 (ICCPR) thì:
Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện hoặc trái pháp luật vào sự riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín hay bị xâm phạm trái pháp luật vào danh dự hoặc uy tín của cá nhân; Mọi người đều
có quyền được luật pháp bảo vệ chống lại sự can thiệp hoặc xâm phạm như vậy”
Tương tự, Điều 22 Công ước về quyền của người khuyết tật năm 2007 (CRPD) ghi nhận:
Người khuyết tật dù sống ở bất cứ ở đâu, cư trú ở khu vực nào cũng không bị can thiệp vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nơi ở hoặc thư tín, hoặc bất kỳ hình thức giao tiếp nào, không bị xâm phạm trái pháp luật vào danh dự và uy tín của mình một cách tùy tiện hoặc trái pháp luật Người khuyết tật có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp hoặc xâm phạm như vậy
Công ước quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 cũng dành Điều 16 để quy định riêng quyền về sự riêng tư của trẻ em; theo đó, không trẻ em nào phải
Trang 29chịu sự can thiệp tùy tiện hay bất hợp pháp vào sự riêng tư, gia đình, nhà cửa hoặc thư tín cũng như sự xâm phạm bất hợp pháp vào danh dự và thanh danh của trẻ Trẻ em có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại sự can thiệp hay xâm phạm như vậy
Bình luận chung số 16 của Ủy ban nhân quyền giải thích làm rõ một số khía cạnh trong nội hàm của quyền về sự riêng tư, theo đó, việc bảo vệ quyền
về sự riêng tư được thực hiện đối với đời tư, gia đình, nơi ở, thư tín, danh dự,
uy tín của mỗi cá nhân Việc thu thập thông tin về đời tư của công dân của các nhà chức trách có thẩm quyền phải được thực hiện theo quy định của luật và chỉ khi những thông tin đó là cần thiết để bảo đảm lợi ích cộng đồng Việc can thiệp vào đời tư chỉ được phép thực hiện trong một số hoàn cảnh được quy định trong luật và phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể
Về bảo vệ bí mật thƣ tín: Luật quốc tế yêu cầu các quốc gia phải đảm
bảo tính trong sáng và bảo mật thư tín của công dân, cả trên phương diện pháp lý và thực tế Thư từ phải được giao tới tay người nhận mà không bị chặn lại và không bị mở ra đọc trước Việc theo dõi, dù bằng phương tiện điện tử hay những cách thức khác nhau như chặn sóng để được nghe trộm điện thoại, điện tín đều bị nghiêm cấm Việc điều tra về gia đình của một người phải bị giới hạn, chỉ đước thực hiện khi cần có chứng cứ cần thiết và không được gây quá nhiều phiền hà Việc điều tra về đời tư và khám xét thân thể phải được thực hiện bằng những cách thức phù hợp với phẩm giá của người bị điều tra Việc khám xét cơ thể bởi cá nhân viện nhà nước hay nhân viên y tế chỉ được tiến hành khi nhân viên đó hành động theo yêu cầu của nhà nước và chỉ được thực hiện bởi người cùng giới tính
Dưới đây phân tích cụ thể hơn về nội dung các quyền cấu thành quyền
về sự riêng tư trong luật nhân quyền quốc tế:
Trang 30Quyền được bảo vệ dữ liệu cá nhân: Là một yếu tố quan trọng trong
quyền bảo vệ sự riêng tư Quyền này được quy định cụ thể trong một số tài liệu và văn kiện nhân quyền quốc tế và khu vực như: Hướng dẫn của OECD
về bảo vệ sự riêng tư và nguồn dữ liệu cá nhân xuyên quốc gia; Công ước số
108 của Hội đồng Châu Âu về bảo vệ các cá nhân trong việc xử lý tự động dữ liệu cá nhân; khuôn khổ chung về sự riêng tư của Tổ chức Hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC); Luật bổ sung về bảo vệ dữ liệu của Cộng đồng Linh tế các nước Tây Phi năm 2010
Việc bảo vệ khỏi sự can thiệp bất hợp pháp và tùy tiện có nghĩa là trước hết các quốc gia cần có những quy định pháp luật để bảo vệ quyền riêng tư Can thiệp “bất hợp pháp” được hiểu là bất kỳ sự tác động nào vào đời tư mà không thuộc những trường hợp được quy định trong pháp luật Việc can thiệp chỉ được các quốc gia thành viên cho phép trên nền tảng luật pháp và sự cho phép đó phải tuân thủ các quy định và mục đích của Công ước, và trong bất kỳ trường hợp nào cũng phải có lý do hợp lý, kể cả trong những tình huống đặc biệt
Theo Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc, việc thu thập và lưu giữ những thông tin cá nhân trên máy tính, các ngân hàng dữ liệu và các thiết bị khác, cho dù là bởi các nhân viên nhà nước, các cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực tư nhân hay các cơ quan nhà nước, đều phải do pháp luật quy định Các nhà nước phải áp dụng những cách thức hiệu quả để bảo đảm rằng những thông tin về đời tư của một người không lọt vào tay những người không được pháp luật cho phép xử lý và sử dụng, và không bao giờ được sử dụng cho mục đích trái với Công ước Để đảm bảo sự bảo vệ đời tư hiệu quả nhất, mỗi cá nhân cần có quyền được biết những thông tin về bản thân mình được lưu trữ ở đâu và cho những mục đích gì Mỗi cá nhân cũng cần có khả năng xác định được tổ chức và cá nhân có trách nhiệm thu thập và quản lý những dữ liệu về bản thân mình Nếu như hồ sơ lưu giữ không đúng thông tin cá nhân hay đã
Trang 31được thu thập hay xử lý trái với quy định pháp luật, mỗi cá nhân phải có quyền yêu cầu điều chỉnh và xóa bỏ những thông tin sai lệch [30, mục 10]
Cũng theo Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc, các quốc gia có trách nhiệm ban hành các văn bản pháp luật phù hợp để bảo đảm danh dự, uy tín cá nhân Các quốc gia cũng có trách nhiệm bảo đảm cho mọi người có khả năng bảo vệ bản thân chống lại bất cứ sự tấn công bất hợp pháp nào vào danh
dự, uy tín cá nhân cũng như có những giải pháp hiệu quả chống lại những kẻ
vi phạm Báo cáo của các quốc gia cần chỉ ra những quy định pháp luật về bảo vệ danh dự và uy tín cá nhân cũng như những cách thức áp dụng những quy định đó trên thực tế [30, mục 11]
Thực tế trên thế giới cho thấy, các công nghệ theo dõi hiện đại mới được phát minh gần đây cho phép nhiều chủ thể xâm phạm nghiêm trọng các quyền
về sự riêng tư Do đó, các hướng dẫn chung của pháp luật quốc tế về quyền về
sự riêng tư trong thời gian tới sẽ cần phải sửa đổi để nhấn mạnh đến một số nội dung, trong đó cần xem việc giám sát công cộng hàng loạt và tràn lan là trái với Điều 17 Công ước ICCPR, vì đó là sự can thiệp vào đời tư Thêm vào đó, cần xem bất kỳ sự can thiệp nào với quyền về sự riêng tư đều phải chịu sự giám sát của một cơ quan tư pháp độc lập và hiệu quả [8, tr 16, 17, 18, 19, 20, 22]
Cũng theo các chuyên gia về nhân quyền, Điều 17 Công ước ICCPR cần được áp dụng với mọi cá nhân nằm trong phạm vi tài phán của các quốc gia Luật về sự riêng tư cần phải bảo vệ cả công dân và những người không phải công dân Các quốc gia có nghĩa vụ thực thi các biện pháp bảo
vệ quyền về sự riêng tư khỏi bị can thiệp bởi các chủ thể tư nhân, bao gồm việc khắc phục hậu quả cho những nạn nhân của sự vi phạm quyền về sự riêng tư [8, tr 16, 17, 18, 19, 20, 22]
Các tiêu chuẩn nhân quyền quốc tế nêu trên nhìn chung là có tính toàn cầu, có hiệu lực với hầu hết quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam Vì
Trang 32vậy, đây là những nội dung mà Nhà nước cần nghiên cứu áp dụng trong quá trình củng cố pháp luật về bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về đời tư
1.3.2 Quy định của pháp luật một số quốc gia về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư
Pháp luật về quyền về đời sống riêng tư của Hoa Kỳ
Hiến pháp năm 1787 của Hoa Kỳ không có quy định nào về quyền riêng tư Quyền riêng tư là quyền do Tòa án trao cho các chủ thể qua các quyết định xét xử khi các Thẩm phán giải thích các Tu chính án của Hiến pháp, đặc biệt là các tư chính án thứ ba và thứ tư Hiến pháp Hoa Kỳ năm
1791, cụ thể:
-Tu chính án thứ ba quy định: Không một đội quân nào trong thời bình được đóng quân trong nhà dân nếu không được chủ nhà cho phép, ngay cả trong thời chiến cũng phải theo quy định của pháp luật
-Tu chính án thứ tư quy định: Quyền con người được bảo đảm về cá nhân, nhà cửa, giấy tờ và các tài sản khác khỏi mọi sự khám xét, tịch thu và bắt giam vô lý Không một lệnh, một trát nào được cấp nếu không có lý do xác đáng, căn cứ vào có lời tuyên thệ hoặc xác nhận, đặc biệt cần miêu tả chính xác các địa điểm khám xét, người và đồ vật bắt giữ
Dù vậy, cần thấy rằng biện pháp nêu trên không ngăn cấm các nhà chức trách truy nã, thu giữ hàng hóa hay bắt giữ người Nó đơn giản chỉ yêu cầu rằng, trong hầu hết các trường hợp, các nhà chức trách phải có lệnh truy nã của Tòa án khi chứng minh được yêu cầu cần thiết phải có lệnh này Các bằng chứng có được do vi phạm điều bổ sung này sẽ không được coi là bằng chứng trong phiên tòa xét xử tội phạm [8, tr.35-36]
Ngoài ra, Hiến pháp Hoa Kỳ có một số các tu chính án khác cũng đề cập đến quyền riêng tư, chẳng hạn như: Tu chính án thứ nhất bảo vệ quyền riêng tư của tự do tôn giáo Tu chính án thứ hai bảo vệ quyền riêng tư và bất
Trang 33khả xâm phạm về nhà ở của cá nhân chống lại sự tùy tiện của quân đội Tu chính án thứ năm bảo vệ các quyền con người liên quan đến tư pháp hình sự
Tu chính án thứ chín là quy định mà dựa vào đó nhiều luật sư đã thắng kiện trong bảo vệ quyền riêng tư khi nêu rằng: “việc quy định các quyền trong Hiến pháp không có nghĩa là phủ nhận hay hạ thấp các quyền khác của người dân” Tu chính án thứ mười bốn của Hiến pháp Hoa Kỳ thông qua ngày 09/7/1868, tại khoản 1 đã quy định:
Tất cả những người sinh ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ hoặc được phép nhập quốc tịch Hoa Kỳ và thuộc thẩm quyền tài phán ơ đó, đều là công dân của Hoa Kỳ và của bang họ sinh sống Không một bang nào có quyền tước đi sinh mệnh, tự do và tài sản của một công dân
mà không theo một quy trình do luật định Cũng không một bang nào
có thể phủ nhận quyền được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng của một cá nhân trong phạm vi thẩm quyền tài phán của bang đó
Pháp luật về quyền về đời sống riêng tư của Cộng hòa Liên bang Đức
Điều 6, khoản 1 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Hôn nhân và gia đình được sự bảo vệ đặc biệt của nhà nước” Điều 10 Hiến pháp quy định về bảo mật thư tín, Điều 13 quy định rõ về quyền bất khả xâm phạm
về nhà riêng Theo Đạo luật Liên bang về bảo mật thông tin thì cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm bảo mật thông tin là Ủy ban Liên bang về Bảo vệ dữ liệu và tự do thông tin (Federal commission for data protection and freedom
of information) [41]
Pháp luật về quyền về đời sống riêng tư của Cộng hòa Pháp
Ở Cộng hòa Pháp, quyền bảo vệ đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được nhắc tới trong Hiến pháp Ngoài ra, Điều 9, Quyển 1, Bộ luật Dân sự Cộng hòa Pháp quy định:
Trang 34Mọi người đều có quyền được tôn trọng cuộc sống riêng tư của mình Không ảnh hưởng tới bồi thường thiệt hại, Tòa án có thể áp dụng bất cứ biện pháp nào, chẳng hạn như tạm giữ, bắt giữ và những biện pháp thích hợp khác để ngăn chặn hoặc chấm dứt hành vi xâm phạm quyền riêng tư cá nhân Trong trường hợp khẩn cấp, có thể áp dụng những biện pháp kể trên bằng lệnh khẩn cấp tạm thời
Để thi hành Chỉ thị về Bảo mật thông tin Liên minh Châu Âu, Pháp đã ban hành đạo luật bảo mật thông tin dữ liệu năm 1978 và hiện tại là Luật bảo mật thông tin mới ban hành năm 2018 áp dụng chung trong toàn Liên minh Châu Âu Trong luật này có quy định về dữ liệu cá nhân về tên, mã căn cước công dân, địa chỉ cư trú, những thông tin online hoặc những thông tin cụ thể khác liên quan đến tình trạng sức khỏe, tâm sinh lý, văn hóa, xã hội của một người Điều 15 Luật Bảo mật thông tin quy định: Thông tin cá nhân phải được
xử lý, khai thác mà vẫn đảm bảo sự an toàn, được bảo vệ khỏi những hành vi khai thác, sử dụng bất hợp pháp và trái phép gây ra những thiệt hại, phá hủy đổi với thông tin đó Điều 16 Luật bảo mật thông tin năm 2018 quy định về phương thức và chế tài xử lý như sau:
- Đối với vi phạm lần đầu tiên,CNIL được quyền đưa ra hình phạt nhắc
nhở với mức phạt 100.000 euro mỗi ngày;
- Trong phần lớn các trường hợp, CNIL thường đưa ra mức phạt tiền lên tới 10 triệu euro và không quá 4% doanh thu trên toàn thế giới;
- Mức tiền phạt tối đa từ trên 20 triệu euro và không quá 4% doanh thu trên toàn thế giới trong trường hợp hành vi vi phạm được quy định tại khoản 5
và 6 của Điều 83 Quy định chung về bảo vệ dữ liệu chung của Liên minh Châu Âu [42]
Pháp luật về quyền về đời sống riêng tư của Úc
Năm 1988, Úc đã ban hành Đạo luật về quyền riêng tư (The Privacy Act 1988) Đạo luật này gồm 4 phần chính với 13 nguyên tắc quy định về cách
Trang 35thức thu thập, lưu trữ, cung cấp, sử dụng và tiết lộ thông tin cá nhân Cụ thể:
phần 1 quy định hầu hết các cơ quan công quyền liên bang phải tuân thủ 11 tiêu chuẩn được gọi là Nguyên tắc Thông tin Riêng tư (Information Privacy Principles) khi thu thập và sử dụng thông tin riêng tư hoặc chi tiết cá nhân;
phần 2 quy định các công ty tư nhân bao gồm các tổ chức y tế và phi vụ lợi
phải tuân thủ 10 Nguyên tắc Riêng tư Quốc gia (National Privacy Principles) khi sử dụng chi tiết cá nhân; phần 3, các cơ quan tín dụng phải tuân thủ các điều lệ đặt ra nhằm bảo vệ tin tức cá nhân và phần 4, bất cứ ai sử dụng Số hồ
sơ thuế (Tax File Number) phải tuân thủ các điều lệ do Sở Thuế đặt ra
Trong thời đại công nghệ số hiện nay thì tình trạng vi phạm quyền riêng tư là tương đối phổ biến, đặc biệt từ các chủ thể vi phạm là các mạng xã
hội Theo đó, để bảo đảm quyền riêng tư của cá nhân, đồng thời kịp thời xử lý các hành vi vi phạm thì một trong các biện pháp được nghiên cứu và đề xuất
đó là tăng mức phạt đối với các chủ thể vi phạm Cụ thể, nếu như mức phạt đối với hành vi vi phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần các quy định
của pháp luật về quyền riêng tư sẽ bị phạt 2,1 triệu đô la Úc (AUD) thì nay,
mức phạt này đang được đề xuất tăng lên 10 triệu AUD [43]
Bên cạnh đó, để bảo đảm Đạo luật nêu trên được thực hiện có hiệu quả trên thực tế, Úc đã thiết lập cơ chế tiếp nhận khiếu nại qua đường dây nóng [44]
và bổ nhiệm một Cao ủy Thông tin Úc (Australian Information Commissioner) -
có nhiệm vụ điều tra các trường hợp vi phạm, theo dõi và kiểm soát các cơ quan nhà nước để bảo đảm họ tuân thủ pháp luật và quảng bá luật và các điều
lệ bảo vệ đời sống riêng tư rộng rãi đến mọi người [45]
Từ nghiên cứu về các nước nêu trên, có thể rút ra một số giá trị tham
khảo cho Việt Nam như sau:
- Về quan điểm tiếp cận: Việc bảo vệ quyền bất khả xâm phạm về đời
sống riêng tư cần được tiếp cận trên các quan điểm về bảo vệ quyền bí mật
Trang 36- Về mô hình và xu thế: Pháp luật về bảo vệ quyền bất khả xâm phạm
về đời sống riêng tư của các nước trên thế giới rất phong phú, đa dạng, với các trường phái và mô hình khác nhau nhưng xu thế chung là mở rộng phạm
vi khái niệm quyền về đời sống riêng tư, tiếp cận trên quan điểm đa chiều, hài hòa lợi ích và ngày càng cụ thể, gần với cuộc sống hơn;
- Về cơ chế, cách thức, biện pháp bảo vệ: Các quốc gia thường thiết lập
cơ chế tổng thể, trong đó việc xây dựng khái niệm về đời sống riêng tư và các xác lập như quyền được biết, quyền đồng ý của chủ thể thông tin cá nhân là
nội dung cốt lõi Đồng thời, dựa vào việc phân loại các thông tin về đời sống riêng tư mà mục đích sử dụng và hoạt động thông tin để thiết lập cách thức,
biện pháp bảo vệ tương ứng
- Về hình thức và kỹ thuật lập pháp: Các quy định về bảo vệ quyền bất
khả xâm phạm về đời sống riêng tư được ghi nhận trong các văn bản có giá trị pháp lý rất cao như Hiến pháp, Luật…
Trang 37Tiểu kết Chương 1
Quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư không phải là một vấn
đề mới và xa lạ trong hệ thống pháp luật và trong thực tiễn đời sống xã hội của cả Việt Nam và các nước trên thế giới Mặc dù được xác định là một quyền cơ bản của con người được pháp luật quốc tế và các quốc gia ghi nhận, nhưng cho đến hiện nay chưa có định nghĩa cụ thể về quyền về đời sống riêng
tư Các vấn đề về bí mật cá nhân, bí mật gia đình cũng chưa được quy định chi tiết, rõ ràng, đặc biệt trong việc thu thập xử lý, lưu giữ, sử dụng hay công
bố thông tin cá nhân Những hạn chế đó đang là trở ngại cho việc bảo vệ các quyền này ở trên thế giới và ở Việt Nam
Trong thực tế, những hành vi vi phạm quyền về đời sống riêng tư vẫn thường xuyên diễn ra một cách cố ý hoặc vô ý trên thế giới Các quốc gia đã
và đang sử dụng nhiều cơ chế cũng như những biện pháp khác nhau để bảo vệ quyền này
Chương 1 của luận văn đã phân tích làm rõ một số vấn đề lý luận, khung pháp luật quốc tế và pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư Kết quả của những phân tích này hữu ích cho tác giả khi xem xét đánh giá khung pháp luật Việt Nam về quyền này ở chương 2, cũng như nêu ra những đề xuất khuyến nghị về củng cố pháp luật của nước ta về quyền bất khả xâm phạm về sự riêng tư theo hướng bảo đảm phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN BẤT KHẢ XÂM PHẠM
VỀ ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Sơ lược lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật về quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư tại Việt Nam
Như đã đề cập ở phần trên, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng
tư là một quyền con người cơ bản, được pháp luật quốc tế bảo vệ Đây là một quyền nhân thân, vì thế từ lâu cũng đã được quy định trong pháp luật của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư ngày càng được củng cố trong pháp luật Việt Nam Nội dung, phương thức bảo đảm quyền này ở Việt Nam ngày càng được hoàn thiện hơn phù hợp với từng giai đoạn lịch sử
2.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1995
Quyền nhân thân được ghi nhận và bảo vệ cùng với sự phát triển của cách mạng Việt Nam Các quyền nhân thân của công dân lần đầu tiên được quy định trong Hiến pháp năm 1946, cùng với một số quyền con người cơ bản khác như quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tự do ngôn luận, xuất bản, báo
chí, hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, cư trú
Trong Hiến pháp năm 1946, Điều 11 ghi nhận quyền của công dân khi
bị xâm phạm trái pháp luật về nhà ở và thư tín: “Tư pháp chưa quyết định thì không được bắt bớ và giam cầm người công dân Việt Nam Nhà ở và thư tín của công dân Việt Nam không ai được xâm phạm một cách trái pháp luật” Xét trong bối cảnh Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa mới ra đời và vừa thoát khỏi chế độ áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân nửa phong kiến, Điều
11 Hiến pháp năm 1946 thể hiện bước tiến bộ lớn trong việc ghi nhận giá trị
cơ bản về việc bảo vệ bí mật đối với nhà ở và thư tín của công dân
Trang 39Trong Hiến pháp năm 1959, quyền bảo đảm bất khả xâm phạm về nhà
ở và thư tín tiếp tục được ghi nhận Điều 28 nêu rõ:
Pháp luật bảo đảm nhà ở của công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không bị xâm phạm Thư tín được giữ bí mật Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự do cư trú và đi lại Đến Hiến pháp năm 1980, để phù hợp với tình hình mới, quyền đối với
chỗ ở được diễn giải cụ thể hơn, đồng thời, đối tượng bất khả xâm phạm liên quan đến bí mật đời tư cũng được mở rộng so với các bản Hiến pháp trước đây Cụ thể, cụ thể, Điều 71, Hiến pháp năm 1980 quy định:
Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó không đồng ý, trừ trường
hợp được pháp luật cho phép Việc khám xét chỗ ở phải do đại diện
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tiến hành, theo quy định của pháp
luật Bí mật thư tín, điện thoại, điện tín được bảo đảm Quyền tự do
đi lại và cư trú được tôn trọng, theo quy định của pháp luật
Như vậy, nếu Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 mới chỉ bảo vệ quyền bảo vệ bí mật đời tư dưới hình thức sơ khai, thông qua quy định bảo mật “thư tín” và “nhà ở”, thì Hiến pháp năm 1980 đã bổ sung các yếu tố
về “điện thoại, điện tín”
Dù vậy, tuy có những điểm tiến bộ hơn trong việc ghi nhận quyền bảo
vệ bí mật đời tư so với hai bản Hiến pháp trước, song Hiến pháp năm 1980 cũng chủ yếu quan tâm đến việc bảo vệ bí mật đối với các phương thức liên lạc, trao đổi giữa cá nhân Trong khi đó, bí mật đời tư của mỗi cá nhân không chỉ giới hạn ở các nội dung được trao đổi qua phương tiện thông tin liên lạc Nói cách khác, pháp luật trong thời kỳ này ở nước ta chưa nhìn nhận đối tượng được bảo vệ của bí mật đời tư là tất cả các vấn đề gắn với mỗi cá nhân Thêm vào đó, quy định các quyền con người nói chung, quyền bảo vệ bí mật
Trang 40đời tư nói riêng trong Hiến pháp 1980 vẫn theo tư duy cũ, thể hiện tư tưởng Nhà nước “ban phát” quyền cho dân, và chỉ nhìn nhận các quyền về bí mật đời tư ở biểu hiện các mối quan hệ bên ngoài Điều này không phù hợp với tinh thần của hiến pháp hiện đại, trong đó xem quyền con người là bẩm sinh, vốn có của mỗi cá nhân, không ai có thể tuỳ tiện vi phạm và không chủ thể nào có thể ban phát Nhà nước phải có trách nhiệm thừa nhận và đảm bảo những quyền đó được thực hiện trên thực tế
Hiến pháp năm 1992 vẫn kế thừa những quy định trong các bản Hiến pháp trước nhưng có sửa đổi, bổ sung các hành vi cụ thể xâm phạm đến thư tín, điện tín, theo đó: “Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn và bí mật Việc khám xét chỗ ở, việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện tín của công dân phải do người có thẩm quyền tiến hành theo quy định của pháp luật” Mặc dù được ban hành sau khi đất nước bắt đầu bước ra khỏi nền kinh tế tập trung bao cấp, chuyển sang cơ chế thị trường, nhưng những quy định về quyền con người trong Hiến pháp năm 1992 về cơ bản vẫn mang dấu ấn của các bản Hiến pháp trước, xem các quyền là do Nhà nước trao cho và bảo đảm thực hiện Chính vì bỏ qua yếu tố tự nhiên của quyền con người nên những nội dung bảo vệ quyền con người không tránh khỏi thiếu sót
và phiến diện, trong đó bao gồm quyền về đời tư Về kỹ thuật lập hiến, cũng
có những hạn chế trong quy định về quyền đòi tư Chẳng hạn, việc liệt kê các hành vi “bóc mở, kiểm soát, thu giữ” hay các đối tượng “thư tín, điện tín” sẽ dẫn đến việc bỏ sót một loạt các hành vi và đối tượng cần được bảo vệ khác (ví dụ: hành vi nghe, nhìn, loan báo, xem trộm, phát tán, … hoặc đối tượng khác như sổ ghi chép, các giấy tờ cá nhân, hình ảnh, giọng nói, … của người khác)
Kể từ sau Hiến pháp 1980, “quyền bảo vệ bí mật đời tư” còn được quy định trong một số văn bản pháp luật khác Chẳng hạn, Điều 25 Luật Bảo vệ
sức khỏe nhân dân năm 1989 quy định về trách nhiệm của thầy thuốc “ …