1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá thực trạng về pháp luật tiền lương và liên hệ thực thực tiễn tại một doanh nghiệp cụ thể

14 455 21

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 697,41 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quy định của pháp luật lao động về tiền lương - Về định nghĩa tiền lương Khoản 1, 2 Điều 90 BLLĐ 2019 quy định “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động the

Trang 1

BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

BÀI TIỂU LUẬN

MÔN: LUẬT LAO ĐỘNG

Đề bài: “Đánh giá thực trạng về pháp luật tiền lương và liên hệ

thực thực tiễn tại một doanh nghiệp cụ thể”

Trang 2

MỤC LỤC

Trang 3

MỞ BÀI

Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế - xã hội , đặc biệt trước công cuộc đổi mới nền kinh tế cùng với sự hội nhập kinh tế trong khu vực và kinh tế thế giới , tiền lương luôn là vấn đề nóng bỏng và được người dân quan tâm Tiền lương đóng một vai trò rất quan trọng không chỉ đối với người lao động chủ sử dụng lao động

mà còn với Nhà nước Đối với người lao động, nó chính là nguồn sống, là động lực chính để người lao động tham gia vào các quan hệ lao động Đối với chủ sử dụng lao động, nó lại là một chi phí đầu vào của quá trình sản xuất, chiếm một tỷ trọng lớn trong chi phí sản xuất kinh doanh của đơn vị mình Đối với nhà nước thì tiền lương là một công cụ vĩ mô để quản lý kinh tế xã hội

Vì vậy, tiền lương là một vấn đề hết sức nhạy cảm mà nếu không được giải quyết tốt sẽ gây rủ những hậu quả khó lường Để có thể tuyển và giữ chân được nhân tài, để có thể tồn tại trong điều kiện cạnh tranh gay gắt ngày này, các doanh nghiệp cần phải xây dựng một chính sách tiền lương hợp lý, một hệ thống thù lao thích hợp Có như vậy, mới khuyến khích được người lao động tích cực làm việc, hăng say vắng tạo, lao động sản đất làm tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả và lợi nhuận cho doanh nghiệp Do đó, em chọn đề tài: “Đánh giá thực trạng về pháp luật tiền lương và liên hệ thực thực tiễn tại một doanh nghiệp cụ thể” để làm bài tiểu luận cuối kỳ này

NỘI DUNG

I. Thực trạng pháp luật lao động về tiền lương

1. Quy định của pháp luật lao động về tiền lương

- Về định nghĩa tiền lương

Khoản 1, 2 Điều 90 BLLĐ 2019 quy định “Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác Mức lương theo công việc hoặc chức danh không được thấp hơn mức lương tối thiểu”

Cũng liên quan đến định nghĩa về tiền lương, khoản 3 Điều 90 BLLĐ 2019 yêu cầu “Người sử dụng lao động phải bảo đảm trả lương bình đẳng, không phân biệt giới tính đối với người lao động làm công việc có giá trị như nhau” Đây là quy định cần thiết với tư cách là một phần của thực hiện bình đẳng giới

Trang 4

- Về các nguyên tắc cơ bản của tiền lương

Các nguyên tắc cơ bản của tiền lương được ghi nhận trong pháp luật về tiền lương thực sự là kim chỉ nam, là tư tưởng chỉ đạo, làm nền tảng cho việc áp dụng pháp luật về tiền lương trong quan hệ lao động Trong đó có các nguyên tắc: Trả lương phải trên cơ sở sự thỏa thuận giữa người lao động với người sử dụng lao động; Không được trả hoặc thoả thuận mức lương thấp hơn mức lương tối thiểu do Nhà nước qui định; Tiền lương phải được thoả thuận và trả theo năng suất, chất lượng và hiệu quả công việc; Tiền lương phải được trả bình đẳng giữa lao động nam

và lao động nữ cho công việc có giá trị ngang nhau; Lương được trả bằng tiền mặt hoặc qua tài khoản của cá nhân người lao động được mở tại ngân hàng Các nguyên tắc này đều hướng tới việc tạo lập sự công bằng, bảo vệ người lao động trong mối quan hệ yếu thế đối với người sử dụng lao động

- Về mức lương tối thiểu

Tiền lương tối thiểu hay mức lương tối thiểu được hiểu là mức thấp nhất trả cho

người lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường

và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của người lao động và gia đình họ.

Điều 91, Bộ luật Lao động 2019 quy định: "Mức lương tối thiểu là mức lương thấp nhất được trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu của NLĐ và gia đình họ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội" Theo đó, có thể hiểu mức lương tối thiểu được sử dụng để trả cho NLĐ làm công việc yêu cầu trình độ lao động giản đơn nhất, cường độ lao động nhẹ nhàng nhất, diễn ra trong điều kiện lao động bình thường và được sử dụng để xác định các mức lương, phụ cấp và các khoản bổ sung khác cho NLĐ Do đó, mức lương tối thiểu có những đặc trưng cơ bản sau đây: Mức lương tối thiểu được áp dụng để trả cho NLĐ làm công việc giản đơn nhất, không cần qua đào tạo; Mức lương tối thiểu được trả tương ứng với điều kiện lao động và môi trường lao động bình thường Do vậy, mức lương tối thiểu sẽ không thể được sử dụng để trả cho những NLĐ làm các công việc có yếu tố nặng nhọc hoặc trong môi trường độc hại, nguy hiểm Mức lương tối thiểu được quy định nhằm đảm bảo bù đắp sức lao động giản đơn và một phần giúp tái sản xuất sức lao động cho NLĐ

Trang 5

- Về thang lương, bảng lương

Việc xây dựng hệ thống thang lương, bảng lương và xác định hợp lý các mức phụ cấp theo lương phải xuất phát từ đặc điểm khác nhau trong từng ngành nghề và trong từng điều kiện lao động cụ thể

Thứ nhất, về thang lương

Cơ cấu của thang lương bao gồm: Bậc lương - Hệ số tiền lương - Bội số của thang lương Mỗi bậc trong thang lương nói lên mức tiêu hao lao động và mức độ phức tạp của công việc Bậc thấp nhất hay còn gọi là khởi điểm áp dụng với những công việc tiêu hao ít năng lượng và ít phức tạp nhất Bậc khởi điểm trong thang lương của các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh gọi là bậc một Mức bậc một phải cao hơn mức lương tối thiểu

Thứ hai, về bảng lương

Trong các doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất kinh doanh, bảng lương được xây dựng áp dụng cho các lao động quản lý như các chức danh lãnh đạo (giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng trong các doanh nghiệp); lao động chuyên môn, nghiệp vụ (chuyên viên, kinh tế viên, kĩ sư, kĩ thuật viên, cán sự), lao động thừa hành phục vụ (nhân viên văn thư, nhân viên phục vụ), lao động trực tiếp sản xuất ở những công việc hay những ngành nghề không quy định rõ ràng tiêu chuẩn cấp bậc

kĩ thuật (sản xuất điện, vận tải biển, hàng không )

- Về xây dựng định mức lao động

Các nguyên tắc xây dựng định mức lao động được quy định ở Điều 8 - Nghị định số 49/2013/NĐ-CP ngày 14/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương và Khoản 1, Điều 1 Nghị định số 121/2018/NĐ-CP ngày 13/9/2019 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của

Nghị định số 49/2013/NĐ-CP như sau:

(i) Định mức lao động được thực hiện cho từng bước công việc, từng công đoạn

và toàn bộ quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ trên cơ sở tổ chức lao động khoa học, tổ chức sản xuất hợp lý

(ii) Mức lao động được xây dựng trên cơ sở cấp bậc của công việc hoặc chức danh, phù hợp với cấp bậc, trình độ đào tạo của NLĐ, quy trình công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật của máy móc thiết bị và bảo đảm các tiêu chuẩn lao động

Trang 6

(iv) Mức lao động phải là mức trung bình tiên tiến, bảo đảm số đông NLĐ thực hiện được mà không phải kéo dài thời gian làm việc tiêu chuẩn của DN theo quy định của pháp luật

(iv) Mức lao động mới phải được áp dụng thử trước khi ban hành chính thức

DN phải thông báo cho NLĐ biết ít nhất 15 ngày trước khi áp dụng thử Thời gian

áp dụng thử tùy theo tính chất công việc, nhưng tối đa không quá 3 tháng và phải đánh giá việc thực hiện mức Trường hợp trong thời gian làm việc tiêu chuẩn, mức thực tế thực hiện tính theo sản lượng thấp hơn 5% hoặc cao hơn 10% so với mức được giao, hoặc mức thực tế thực hiện tính theo thời gian cao hơn 5% hoặc thấp hơn 10% so với mức được giao thì DN phải điều chỉnh lại mức lao động

(v) Mức lao động phải được định kỳ rà soát, đánh giá để sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp Khi xây dựng hoặc sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh mức lao động,

DN phải tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể NLĐ tại DN và công bố công khai tại nơi làm việc của NLĐ trước khi thực hiện, đồng thời gửi cơ quan quản

lý nhà nước về lao động cấp huyện nơi đặt cơ sở sản xuất của DN

- Về nguyên tắc trả lương

Theo Điều 94, Bộ Luật lao động 2019, NSDLĐ phải trả lương trực tiếp, đầy đủ, đúng hạn cho NLĐ Trường hợp NLĐ không thể nhận lương trực tiếp thì NSDLĐ

có thể trả lương cho người được NLĐ ủy quyền hợp pháp

NSDLĐ không được hạn chế hoặc can thiệp vào quyền tự quyết chi tiêu lương của NLĐ; không được ép buộc NLĐ chi tiêu lương vào việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ của NSDLĐ hoặc của đơn vị khác mà NSDLĐ chỉ định

- Về hình thức trả lương

Tùy vào tính chất công việc và yêu cầu của quá trình lao động, sản xuất, kinh doanh và quá trình thực hiện nhiệm vụ, NSDLĐ có thể lựa chọn các hình thức trả lương khác nhau trong số các hình thức trả lương được quy định ở Khoản 1, Điều

96 Bộ luật Lao động 2019 Cụ thể, NSDLĐ và NLĐ thỏa thuận về hình thức trả lương theo thời gian, sản phẩm hoặc khoán

- Về kỳ hạn trả lương

Kỳ hạn trả lương được xác định khác nhau tùy thuộc hình thức trả lương được quy định tại điều 97, Bộ luật Lao động 2019

Trang 7

Tiền lương theo thời gian (theo tháng, theo tuần, theo ngày hoặc theo giờ) được trả cho NLĐ hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc thực tế theo tháng, tuần, ngày, giờ

Tiền lương theo sản phẩm: được trả cho NLĐ hưởng lương theo sản phẩm, căn

cứ vào mức độ hoàn thành số lượng, chất lượng sản phẩm theo định mức lao động

và đơn giá sản phẩm được giao

Tiền lương khoán được trả cho NLĐ hưởng lương khoán, căn cứ vào khối lượng, chất lượng công việc và thời gian phải hoàn thành

- Về tiền lương làm thêm giờ, làm việc ban đêm

Theo Điều 98 Bộ luật Lao động 2019 thì người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%

Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%

Vào ngày nghỉ lễ, tết, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300%

Việc trả lương lũy tiến làm thêm giờ với mức lương cao hơn quy định ở khoản này thì do hai bên thỏa thuận để thực hiện

Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày

Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc được trả theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, người lao động còn được trả thêm ít nhất bằng 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày

Về nguyên tắc, người sử dụng lao động trả lương trực tiếp cho người lao động Trường hợp bất khả kháng mà không thể thực hiện trả lương trực tiếp, Luật quy định người sử dụng lao động có thể trả lương cho người được người lao động ủy quyền hợp pháp

- Về tạm ứng tiền lương

Trang 8

Điều 101 Bộ luật Lao động 2019 quy định, người lao động được tạm ứng tiền lương theo điều kiện do hai bên thoả thuận và không bị tính lãi suất khi hoàn trả Mức tạm ứng tiền lương tối đa không quá 03 tháng lương của người lao động Theo đó, người sử dụng lao động phải tạm ứng tiền lương tương ứng với số ngày người lao động tạm thời nghỉ việc để thực hiện nghĩa vụ công dân từ 01 tuần trở lên nhưng tối đa không quá 01 tháng lương và phải hoàn trả số tiền tạm ứng Khi nghỉ hàng năm, người lao động được tạm ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ

2. Thực trạng về tiền lương trên thị trường lao động

- Những điểm tích cực trong cải cách

Thứ nhất, quan điểm, chủ trương về cải cách chính sách tiền lương của Đảng từ

năm 2003 đến nay là đúng đắn, phù hợp với nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt quan điểm coi việc trả lương đúng cho người lao động là thực hiện đầu tư cho phát triển, tạo động lực để phát triển kinh tế và nâng cao chất lượng dịch vụ công, góp phần làm trong sạch và nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Đặc biệt, Luật Cán bộ, Công chức đã quy định công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị cho thôi việc Thực hiện tốt việc xác định vị trí việc làm sẽ là cơ sở và căn cứ để tính toán được biên chế công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, phạm vi và đối tượng quản lý trong từng cơ quan, tổ chức, đơn vị Người nào không đáp ứng được các yêu cầu của vị trí việc làm sẽ bị đưa ra khỏi công vụ

Thứ hai, tách dần tiền lương khu vực sản xuất kinh doanh với khu vực hành

chính nhà nước (HCNN) và khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công; chính sách tiền lương với chính sách bảo hiểm xã hội và ưu đãi người có công, trợ giúp xã hội

Đó là bước ngoặt rất quan trọng cải cách tiền lương trong điều kiện mới theo định hướng thị trường

Thứ ba, chú ý gắn cải cách tiền lương cán bộ, công chức, viên chức (CBCCVC)

với cải cách hành chính và xây dựng nền công vụ, tinh giảm biên chế khu vực HCNN, phát triển khu vực sự nghiệp cung cấp dịch vụ công theo nhu cầu phát triển của xã hội Một số ý kiến cho rằng cần tiếp tục cắt giảm 40% cán bộ công chức hiện

Trang 9

nay để có nguồn bổ sung cho cải cách tiền lương, nếu không cải cách tiền lương khó thành công

Thứ tư, tiếp tục đổi mới cơ chế tiền lương, mở rộng và làm rõ trách nhiệm,

quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị sự nghiệp công lập trong việc xếp lương, trả lương gắn với chất lượng và hiệu quả cung cấp dịch vụ công theo tinh thần xã hội hóa Đây cũng là định hướng rất quan trọng trong cải cách và trong cơ chế tạo nguồn cải cách tiền lương CBCCVC

Thứ năm, tiền lương danh nghĩa của CBCCVC có xu hướng tăng do nhiều lần

điều chỉnh mức lương tối thiểu chung trên cơ sở bù trượt giá và tăng trưởng kinh tế,

mở rộng quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình – tối đa, từng bước tiền tệ hóa các khoản ngoài lương nhằm khắc phục bình quân, bao cấp và ổn định đời sống của CBCCVC Theo Bộ Nội vụ, từ năm 2003 đến nay, mức lương tối thiểu chung cho người lao động trong khu vực hành chính – sự nghiệp đã điều chỉnh 12 lần từ 210.000 đồng/tháng lên 1.490.000 đồng/tháng

- Những tồn tại và bất cập

Khu vực nhà nước

Thứ nhất, duy trì quá lâu một chính sách tiền lương thấp đối với CBCCVC Các

lần cải cách vừa qua luôn bị chi phối tuyệt đối bởi khả năng của ngân sách nhà nước, nên đã thực hiện một chính sách tiền lương quá thấp đối với CBCCVC và gắn chặt với tiền lương tối thiểu chung vốn rất thấp (chỉ đáp ứng 65% – 70% nhu cầu mức sống tối thiểu của người lao động) Phần lớn là hưởng lương ở mức cán sự và chuyên viên, chiếm khoảng 73% (cán sự chiếm 32% và chuyên viên 41%), còn ở mức chuyên viên chính là 24% và chuyên viên cao cấp là 3%

Thứ hai, quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình – tối đa cũng chưa hợp lý,

nhất là hệ số trung bình quá thấp trong quan hệ tiền lương tối thiểu – trung bình – tối đa nên không cải thiện được đời sống và khuyến khích được CBCCVC có hệ số lương thấp; tiền lương trả cho CBCCVC được quy định bằng hệ số được tính trên

cơ sở tiền lương tối thiểu chung; tiền lương chưa được trả đúng với vị trí làm việc, chức danh và hiệu quả công tác, chất lượng cung cấp dịch vụ công

Thứ ba, trong khi tiền lương không đủ sống, thì thu nhập ngoài lương lại rất cao

(phụ thuộc vào vị trí, chức danh công việc, lĩnh vực quản lý, vùng, miền…) và

Trang 10

không có giới hạn, không minh bạch, cũng không kiểm soát được Mức lương tối thiểu của công chức năm nay được nâng lên 1.490.000 đồng, song vẫn là mức quá thấp, không đủ cho chi phí trong cuộc sống vốn ngày càng đắt đỏ do lạm phát

Thứ tư, tiền lương Nhà nước quy định trả cho CBCCVC mặc dù còn rất thấp,

nhưng tổng quỹ lương và trợ cấp do NSNN bảo đảm lại chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng chi NSNN, cho nên buộc phải “gọt chân cho vừa giày” Năm 2011, lương, phụ cấp ước chiếm 51% chi thường xuyên của NSNN, đạt gần 9,6% GDP Trong khi năm 2010, con số này chỉ là 6,7% GDP Ngoài ra, 21 ngành được hưởng ở 16 loại phụ cấp ưu đãi khác nhau đang có xu hướng mở rộng hơn, khiến NSNN dành cho lương tối thiểu ngày càng bị mỏng đi

Thứ năm, việc thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động sự nghiệp công

(dịch vụ công) còn chậm và đạt kết quả thấp, nhất là trong y tế, giáo dục và đào tạo… gây khó khăn cho cải cách tiền lương và tạo nguồn để trả lương cao cho CBCCVC Đối với các tỉnh, thành phố lớn đông dân cư như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh… dễ dàng kêu gọi các nhà đầu tư trong và ngoài nước triển khai thực hiện, nhưng đối với cấp huyện, nhất là đối với huyện thuộc vùng núi cao, trung du, hải đảo, việc triển khai thực hiện xã hội hóa rất khó khăn

Khu vực doanh nghiệp

Thứ nhất, mức lương thấp, thậm chí phi thị trường, dẫn đến khó tuyển dụng các

vị trí quản lý đòi hỏi trình độ cao, có kinh nghiệm Hơn nữa, mức lương hiện nay không đảm bảo được mức sống cho người lao động Vì vậy, việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực tiền lương chưa được thực hiện tốt

Thứ hai, tiền lương trên thị trường, nhất là doanh nghiệp nhà nước chưa phản

ánh đúng giá trị và giá cả trên thị trường lao động Việc trả lương trong các doanh nghiệp nhà nước vẫn còn bình quân, chưa khuyến khích người có trình độ chuyên môn kỹ thuật

Thứ ba, việc tổ chức phân công và mô tả công việc chưa hợp lý, dẫn đến không

rõ ràng trách nhiệm trong công việc, gây khó khăn trong đánh giá giá trị từng vị trí, chức danh và hiệu quả công việc

Thứ tư, nhiều doanh nghiệp trả lương kín, có cách tính lương phức tạp dẫn đến

người lao động không tính được tiền lương của mình

Ngày đăng: 12/01/2022, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w