1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRONG ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

35 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 209 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo phát triển nền giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả chiến lược đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tài thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chính vì vậy, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được Đảng ta xác định là quốc sách hàng đầu. Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác định: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển” .

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng và Nhà nước

ta luôn quan tâm chăm lo phát triển nền giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quảchiến lược đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao và bồi dưỡng nhân tàithực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chính

vì vậy, cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo đã được Đảng taxác định là quốc sách hàng đầu Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã xác

định: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao

dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển”1 Trong nhữngnăm qua, cùng với sự phát triển các lĩnh vực của đời sống xã hội, nền giáodục nước nhà cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng, có ý nghĩa chính trị-

xã hội to lớn Giáo dục-đào tạo là biện pháp chủ đạo để nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài thúc đẩy đất nước tăng trưởng và phát triểnbền vững, rút ngắn quá trình hội nhập kinh tế và giao lưu văn hóa với cácquốc gia trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nềngiáo dục Việt Nam còn tồn tại không ít những hạn chế, thiếu sót đặc biệttrong công tác quản lý, điều hành nền giáo dục trên cả bình diện vĩ mô lẫn vi

mô Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã đề rõ yêu cầu, mục tiêu trong giai

đoạn hiện nay của ngành giáo dục là phải: “Đổi mới căn bản, toàn diện nền

giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa” 2 trên cơ sở tiếnhành đồng bộ, toàn diện các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục nhằmthực hiện có hiệu quả mục tiêu chấn hưng nền giáo dục Việt Nam Trong đóđổi mới, nâng cao chất lượng công tác quản lý, hoạch định chiến lược và điều

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.77.

2 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr.41

Trang 3

hành nền giáo dục là một trong những vấn đề then chốt, cơ bản, có vai trò đặcbiệt quan trọng trực tiếp góp phần xác lập và định hình một cách căn bản,thống nhất triết lý giáo dục Việt Nam với tư cách là nền tảng tư tưởng vàphương pháp luận chỉ đạo thực tiễn đổi mới giáo dục nước nhà trong thời kỳđẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn pháttriển kinh tế xã hội

Hệ thống nhà trường quân sự là một bộ phận của hệ thống nhà trườngquốc gia, chịu sự quản lý của nhà nước và quân đội về công tác giáo dục đàotạo Cùng với sự đổi mới và phát triển của nền giáo dục nước nhà, giáo dục -đào tạo quân đội trong những năm qua đã có nhiều kết quả tích cực Kiểmđiểm công tác giáo dục - đào tạo và xây dựng nhà trường quân sự từ năm

1994 đến nay, Nghị quyết số 86 (29/3/2007) của Đảng uỷ Quân sự Trungương đã chỉ rõ: Hệ thống nhà trường quân sự đã được củng cố thêm mộtbước, hình thành các bậc học, ngành học tương đối hoàn chỉnh; từng bước đổimới công tác quản lý giáo dục - đào tạo thể hiện các văn bản quy định, quychế về quản lý giáo dục - đào tạo được xây dựng và hoàn thiện ngày càng đầy

đủ hơn, đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục bước đầu được kiện toàn, củng cố,bồi dưỡng và đào tạo nâng cao trình độ quản lý; hệ thống nhà trường quân sựthật xứng đáng vừa là những trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, vừa lànhững trung tâm nghiên cứu khoa học quân sự Tuy nhiên, giáo dục - đào tạoquân đội hiện nay vẫn còn tồn tại những hạn chế, thiếu sót, khuyết điểm nhấtđịnh Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý giáo dục trong cácnhà trường quân sự trong thời gian tới đòi hỏi các nhà trường phải chủ độngnghiên cứu, quán triệt và cụ thể hóa các quan điểm mới của Đảng và Nhànước về công tác giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồnnhân lực đáp ứng sự nghiệp xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinhnhuệ, từng bước hiện đại

Trang 4

PHẦN NỘI DUNG

1 Quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XI về đổi mới giáo dục.

1.1.Thực trạng nền giáo dục ở Việt Nam trước Đại hội Đảng lần thứ XI

Trải qua hơn hai thập kỉ tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạocủa Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử

Hơn 25 năm qua, cùng với sự phát triển chung của mọi mặt đời sống kinh tế

- xã hội, lĩnh vực giáo dục và đào tạo tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên cả bamặt: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Đầu tư cho giáodục-đào tạo ngày càng tăng Quy mô đào tạo không ngừng được mở rộng.Chất lượng dạy nghề có nhiều chuyển biến tích cực Đổi mới giáo dục-đàotạo đang được tích cực triển khai ở mọi cấp học Việc xã hội hoá giáo dục vàxây dựng xã hội học tập đã thu được kết quả bước đầu Về thành tựu của

phát triển giáo dục, đào tạo, Đại hội XI của Đảng đánh giá "Đổi mới giáo dục

đạt được một số kết quả bước đầu Chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đào tạo trên 20% tổng chi ngân sách; việc huy động các nguồn lực xã hội cho giáo dục, đào tạo, phát triển giáo dục-đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được quan tâm Quy mô giáo dục tiếp tục được phát triển Đến năm 2010, tất cả các tỉnh, thành phố

đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng, năm 2010 đạt 40% tổng số lao động đang làm việc" 3 Nguyên nhân chủyếu là do sự ổn định chính trị và những thành quả phát triển kinh tế - xã hộicủa đất nước đã cải thiện đời sống nhân dân, tạo điều kiện cho sự nghiệpgiáo dục-đào tạo phát triển Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích và tiến bộ

đã đạt được, giáo dục và đào tạo nước ta những năm qua vẫn còn nhiều yếukém, bất cập kéo dài, chậm được khắc phục Trong đó, đặc biệt là chấtlượng, hiệu quả giáo dục-đào tạo thấp và công tác quản lý nhà nước về giáodục-đào tạo còn nhiều yếu kém, chưa theo kịp với yêu cầu phát triển kinh tế

3 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, tr 153

Trang 5

- xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước Văn kiện Đại hội XI của Đảng

đánh giá "Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển,

nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao còn hạn chế; chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của xã hội Chưa giải quyết tốt mối quan

hệ giữa tăng số lượng, quy mô với nâng cao chất lượng, giữa dạy chữ và dạy người Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; cơ cấu giáo dục không hợp lý giữa các lĩnh vực, ngành nghề đào tạo; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá Quản lý nhà nước về giáo dục còn bất cập Xu hướng thương mại hoá và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội"4.Nguyên nhân của những yếu kém trước hết phải kể đến trên thực tế việc thấutriệt và thực hiện quan điểm “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”chưa được tiến hành đầy đủ trong công tác quản lý giáo dục; tư duy về đổimới giáo dục-đào tạo còn chậm, chưa thích ứng với nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế; chưa nhận thức đúng vaitrò quyết định của đội ngũ nhà giáo và sự cần thiết phải tập trung đổi mớiquản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo Mặt khác, trong quá trình hội nhậpquốc tế, giáo dục và đào tạo phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, bị chiphối bởi tâm lý truyền thống nặng về khoa cử, bằng cấp và chịu nhiều tácđộng tiêu cực của mặt trái cơ chế thị trường, sức ép về nhu cầu học tập củanhân dân ngày càng cao, trong khi khả năng đáp ứng của ngành và trình độphát triển kinh tế của đất nước còn hạn chế Không có quy hoạch phát triểnnhân lực của cả nước, của các ngành và địa phương làm căn để xác địnhmục tiêu, kế hoạch, quy mô, cơ cấu và chất lượng giáo dục, đào tạo

4Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011,

tr167-168

Trang 6

Những yếu kém của giáo dục nước ta nếu không sớm được khắc phục,không những sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển bền vững của ngànhgiáo dục mà còn góp phần làm gia tăng nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế sovới nhiều nước trong khu vực và trên thế giới Vì vậy đổi mới toàn diện nềngiáo dục Việt Nam nói chung và công tác quản lý giáo dục nói riêng là yêucầu khách quan, nhu cầu cấp thiết của xã hội.

1.2 Quan điểm của Đại hội Đảng lần thứ XI về đổi mới giáo dục Việt Nam

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam đặc biệt là từ sau Đạihội VI, nhận thức đúng vai trò của giáo dục là công cụ, phương tiện giúp chonhiều quốc gia có những bước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc, trongnhững kì đại hội gần đây, Đảng đã thường xuyên quan tâm xây dựng, địnhhướng phát triển giáo dục-đào tạo, coi đây là lĩnh vực then chốt, trọng yếutrong sự phát triển xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo dục-đào tạo thựchiện sứ mệnh đi trước, đón đầu Tư tưởng về đổi mới và phát triền nền giáodục trong đó có công tác quản lý giáo dục đã được bổ sung, hoàn thiện quacác kỳ Đại hội VI, VII, VIII, IX, X của Đảng trong đó tập trung chủ yếu ởNghị quyết Đại hội Đảng VI, Nghị quyết trung ương 4 khóa VII, Nghị quyếttrung ương 2 khóa VIII, Kết luận của hội nghị lần 6 Ban chấp hành trungương Đảng khóa IX; Nghị quyết hội nghị lần thứ 9 Ban chấp hành trung ươngĐảng khoá IX; Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2001- 2010, Văn kiệnđại hội đại biểu toàn quốc lần X, Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn2011-2020 Bước vào thời kì mới sự phát triển của đất nước, bên cạnh nhữngthuận lợi cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với công tác quản lý,điều hành nền giáo dục Thời cơ tiếp cận với các xu thế mới, tri thức mới,những mô hình giáo dục hiện đại, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để pháttriển giáo dục-đào tạo tạo tiền đề để đổi mới căn bản, toàn diện công tác quản

lý giáo dục, tiến tới một nền giáo dục-đào tạo tiên tiến hiện đại đáp ứng nhucầu của xã hội và từng cá nhân người học Tuy nhiên, nó cũng đặt ra nhiều

Trang 7

thách thức không nhỏ đối với sự nghiệp phát triển giáo dục, đào tạo, như:khoảng cách phát triển kinh tế, khoảng cách về giáo dục-đào tạo giữa nước ta

và các nước ngày càng mở rộng; hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thịtrường làm nảy sinh các loại dịch vụ giáo dục-đào tạo kém chất lượng từ bênngoài có thể gây rủi ro lớn đối với giáo dục, đào tạo, sự gia tăng khoảng cáchgiàu - nghèo giữa các nhóm dân cư, khoảng cách phát triển giữa các vùngmiền có nguy cơ dẫn đến tình trạng thiếu bình đẳng trong tiếp cận giáo dụccủa người dân Những vấn đề đó đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải đổi mới cả

về triết lý, lý luận cũng như những giải pháp thực tiễn để phát triển công tácquản lý giáo dục, đào tạo

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo tinh thần Đại hội XIcủa Đảng là sự kế thừa và vận dụng sáng tạo quan điểm, tư tưởng của Chủtịch Hồ Chí Minh về giáo dục, đào tạo Đổi mới căn bản và toàn diện giáodục, đào tạo phải gắn chặt với quá trình chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế.Mục đích trực tiếp của giáo dục, đào tạo là tạo ra nguồn lực lao động và quản

lý phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Chất lượnggiáo dục, đào tạo phải đặt bên cạnh yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhânlực và phát triển khoa học công nghệ trong thời đại kinh tế tri thức đang diễn

ra trên phạm vi toàn thế giới Ngoài ra xu thế phát triển của thời đại, nhu cầuhọc tập của nhân dân, truyền thống giáo dục, đào tạo của đất nước là cơ sởkhông thể bỏ qua khi tiến hành đổi mới giáo dục, đào tạo của nước ta hiệnnay Vì vậy, đổi mới giáo dục, đào tạo cần phải nắm bắt được xu thế pháttriển của thời đại, yêu cầu của đất nước, nhu cầu của nhân dân, truyền thốnghiếu học, trọng học của dân tộc; phải tiếp biến và phát huy được truyền thốnglịch sử giáo dục Việt Nam, nhất là những thành tựu của nền giáo dục, đào tạocách mạng từ năm 1945 đến nay

Nhất quán quan điểm và tư tưởng chỉ đạo giáo dục của các kì đại hội VI,VII, VIII, IX và X Đại hội XI của Đảng xác định "Phát triển giáo dục là quốc

Trang 8

sách hàng đầu Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế,

trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục,

đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, khả năng lập nghiệp Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục Thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục-đào tạo ở tất cả các bậc học Xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội" 5 Quan điểm đổi mới căn bản, toàn diện là yếu tố quan trọnghàng đầu, quyết định cho những thay đổi mang tính chiến lược cho nền giáodục và đào tạo nước ta Đây là vấn đề có ý nghĩa sống còn của nền giáo dụctrước ngưỡng cửa của sự phát triển mới Việc đổi mới toàn diện nền giáo dục

sẽ khắc phục căn bản tình trạng bệnh thành tích và chú ý chuyên sâu mà thiếutính đa dạng, toàn diện Ngoài ra việc đổi mới toàn diện nền giáo dục cũngđòi hỏi giáo dục Việt Nam phải tích cực hội nhập một cách triệt để, hiệu quảvới nền giáo dục tiên tiến của nhân loại Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáodục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa vàhội nhập quốc tế là một quan điểm đúng đắn của Đảng thể hiện sự đổi mới,bám sát vào thực tiễn làm cho giáo dục và đào tạo không tách rời với xu thếphát triển chung của đất nước và thế giới Đây là điểm mới, bước phát triển tư

duy lý luận của Đảng về giáo dục-đào tạo Nhìn tổng quan, so với các kỳ đại

hội trước, nội hàm định hướng phát triển giáo dục-đào tạo nêu trong các vănkiện và Nghị quyết Đại hội XI của Đảng hoàn chỉnh và đầy đủ hơn; phản ánhchính xác hơn yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là yêu cầuphát triển nhanh, bền vững, cũng như yêu cầu hội nhập quốc tế ngày một sâurộng trong lĩnh vực giáo dục-đào tạo Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

5 Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011, 131

Trang 9

tr130-và đào tạo Việt Nam theo Đại hội XI tập trung thực hiện tốt những quan điểmchỉ đạo chủ yếu sau:

Thứ nhất, phát triển giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước

và của toàn dân, là quốc sách hàng đầu Do vậy, phải tăng cường sự lãnh đạocủa Đảng, huy động cả hệ thống chính trị, phát huy đóng góp của mọi tầnglớp nhân dân chăm lo phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo;

Thứ hai, đổi mới giáo dục, đào tạo phải nhằm mục tiêu xây dựng nền

giáo dục có tính dân tộc, hiện đại, quán triệt nguyên lý học đi đôi với hành, lýluận gắn liền với thực tiễn, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và

xã hội; đáp ứng nhu cầu nhân lực phát triển đất nước, nhất là nhân lực chấtlượng cao, góp phần xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội bình đẳng để mọingười dân đều có thể đi học và học tập suốt đời;

Thứ ba, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển; đa dạng hóa các nguồn

lực đầu tư cho giáo dục, đào tạo; ưu tiên ngân sách nhà nước dành cho pháttriển giáo dục, đào tạo ở vùng khó khăn, cho giáo dục phổ cập và đào tạonhân lực chất lượng cao Phát triển giáo dục, đào tạo phải gắn với phát triểnkinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng và an ninh, với tiến bộ khoa học - côngnghệ và hội nhập quốc tế;

Thứ tư, mở rộng hợp tác quốc tế về giáo dục, đào tạo phải trên cơ sở giữ

gìn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, chủ quyền, định hướng xãhội chủ nghĩa Khuyến khích các cơ sở giáo dục, đào tạo trong nước hợp tácvới các đối tác nước ngoài trong đào tạo nhân lực và nghiên cứu khoa học,chuyển giao công nghệ, nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ giáo viên

và cán bộ quản lý giáo dục, đào tạo

Theo Đại hội XI, đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo làphải tiến hành cuộc cải cách giáo dục toàn diện, hệ thống, thiết thực Đổimới phải tạo ra sự phát triển toàn diện cả về số lượng, chất lượng và trình

độ giáo dục-đào tạo của đất nước Đổi mới căn bản phải gắn với đổi mới

Trang 10

toàn diện để tạo sự chuyển biến đồng bộ cả về quy mô, trình độ, chấtlượng, đến cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý; cả yêu cầu chuẩn hóa, hiện đạihóa, xã hội hóa, dân chủ hóa giáo dục với yêu cầu hội nhập quốc tế trên tất

cả các lĩnh vực của đất nước; cả việc dạy chữ, dạy người với đổi mớichương trình, nội dung, phương pháp dạy và học Đổi mới căn bản và toàndiện giáo dục còn được hiểu là đổi mới cả hệ thống giáo dục (cả về hệ thống

cơ cấu mục tiêu giáo dục, hệ thống mạng lưới trường lớp, quy mô của hệthống giáo dục, chất lượng của hệ thống giáo dục, các chủ trương của giáodục Việt Nam) Khâu then chốt của tiến trình đổi mới ấy được Đại hội XI củaĐảng xác định là đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáoviên và cán bộ quản lý Để thực hiện thành công quá trình đổi mới căn bản,toàn diện giáo dục, đào tạo nước ta theo tinh thần Đại hội XI của Đảng, cầnthực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Đổi mới nhận thức và phát huy có hiệu quả vị trí, vai trò của giáo dục

và đào tạo vào quá trình phát triển nguồn nhân lực Đại hội XI đã khẳng

định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”6 Theo đó, giáo dục-đào tạophải được nhận thức đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn về vị trí, vai trò trong mốiquan hệ với các lĩnh vực khác, cũng như đối với sự phát triển chung đó làcung cấp nguồn nhân lực, trực tiếp giải quyết vấn đề cơ bản trong quá trìnhphát triển kinh tế-xã hội Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng, cơ bản quyếtđịnh sự phát triển của mỗi quốc gia, trong đó giáo dục là nhân tố chủ đạo,phương tiện chủ yếu nâng cao chất lượng con người, là con đường cơ bản đểphát triển nguồn nhân lực Vì vậy, đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dụctrước hết phải tạo sự chuyển biến về nhận thức, phải tạo được sự nhất trí đồngthuận cao trong xã hội về nhận định, đánh giá chính xác và phát huy có hiệuquả vai trò của giáo dục-đào tạo với sự phát triển xã hội và quốc gia Đồngthời, tiếp tục đổi mới việc nhận thức và tiến hành hoạt động quản lý giáo dục,

Trang 11

coi đây là nhiệm vụ trọng tâm, là khâu đột phá để nâng cao chất lượng giáodục đào tạo trong thời gian tới.

Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Theo quan điểm của Đại hội XI, để tạo nên sức mạnh tổng hợp

trong việc nâng cao chất lượng giáo dục phải tiến hành đồng bộ các giải phápphát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Trong đó tập trung cụ thểvào một số vấn đề sau:

Một là, Đổi mới mạnh mẽ chương trình, nội dung và phương pháp giáo

dục, đào tạo Bảo đảm tính cân đối, hài hòa, toàn diện, thiết thực, hiệu quảtrong nội dung và chương trình đào tạo Đổi mới phương pháp dạy và học phảigắn liền với đổi mới tất cả các khâu từ nội dung, chương trình, sách giáo khoa,trình độ đào tạo, thi cử, đến đánh giá, kiểm định chất lượng Chú trọng thựchiện tốt phương châm gắn học với hành Để thực hiện có hiệu quả nội dungtrên phải chuẩn hóa chương trình và giáo trình đào tạo đảm bảo phù hợp vớiyêu cầu của thực tiễn xã hội Tăng cường đổi mới phương pháp giáo dục hướngvào thực hiện mục tiêu rèn luyện phương pháp tư duy, năng lực độc lập sángtạo, khả năng giải quyết vấn đề thực tiễn và khả năng tự đào tạo, bồi dưỡng và

tự hoàn thiện của mỗi cá nhân người lao động để thích nghi với sự biến đổinhanh chóng của hiện thực xã hội Đưa công nghệ thông tin mới vào trong mọibậc học, khắc phục tệ nạn nhồi nhét kiến thức, giáo điều, xa rời thực tiễn

Hai là, Phối hợp chặt chẽ giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong

công tác giáo dục thế hệ trẻ Muốn vậy, phải quan tâm xây dựng môi trườnggiáo dục lành mạnh, kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hộinhằm bảo đảm chất lượng và hiệu quả cả về dạy chữ, dạy nghề, dạy người.Ngăn chặn và chống lại sự xâm nhập của các tệ nạn xã hội, hiện tượng tiêucực vào nhà trường Khắc phục tình trạng chỉ quan tâm đến dạy chữ, màchưa quan tâm đến dạy người Giáo dục gia đình khoán hết cho xã hội vànhà trường

Trang 12

Ba là, Đầu tư hợp lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho giáo dục.

Đầu tư thỏa đáng cơ sở vật chất phục vụ công tác giảng dạy, học tập vànghiên cứu ở các trường cao đẳng và đại học Tiếp tục xã hội hóa các nguồnlực đầu tư cho giáo dục đào tạo, huy động mọi nguồn lực để phát triển sựnghiệp giáo dục và xây dựng xã hội học tập Mở rộng cơ hội học tập cho mọingười thông qua việc phát triển hình thức giáo dục thường xuyên Mở rộng vàhoàn thiện các hình thức huy động cộng đồng tham gia quản lý nhà trường vàgiải quyết những vấn đề quan trọng của giáo dục Đổi mới cơ chế tài chính vàđầu tư cho giáo dục, bảo đảm tính minh bạch, thiết thực, hiệu quả của cácnguồn cung cho các chiến lược và dự án phát triển giáo dục

Bốn là, Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên trên cơ sở thực hiện cóhiệu quả việc xây dựng, chuẩn hóa đội ngũ giảng viên cả về số lượng và chấtlượng, có trách nhiệm và lương tâm nghề nghiệp, toàn tâm toàn ý với sự nghiệpgiáo dục Để thực hiện yêu cầu trên đòi hỏi phải quan tâm, nâng cao mức sống

và điều kiện làm việc của giáo viên, trả lương để họ đủ sống và làm việc tậntâm; xác lập tôn vinh vị trí cao quý của người thầy; có chính sách thu hút đượcnhiều người giỏi vào ngành giáo dục, đào tạo; nâng cao chất lượng đào tạo và

bố trí, sử dụng hợp lý, hiệu quả đội ngũ giáo viên; tăng cường giao lưu và hợptác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo với các nước có nền giáo dục phát triển

Cần nhanh chóng khắc phục các yếu kém trong bố trí, sắp xếp và sử dụng đểsớm xây dựng được đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và bảođảm các yêu cầu về phẩm chất, đạo đức, năng lực chuyên môn phù hợp với yêucầu đổi mới giáo dục Phải có chế độ chính sách, đặc biệt là chính sách vềlương, thưởng, thăng tiến, phát triển chuyên môn, đánh giá, đãi ngộ phù hợp đểtạo động lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ giáo viên

Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý giáo dục.

Một là, Tổ chức xây dựng và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân cho

hợp lý Tiếp tục hoàn chỉnh cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và phát triển

Trang 13

mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục theo mô hình giáo dục mở, mô hình xãhội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, liên thông giữa cácbậc học và ngành học Mở rộng quy mô đi đôi với nâng cao chất lượng vàhiệu quả giáo dục, đào tạo Hoàn thiện mạng lưới giáo dục trên toàn quốc, chútrọng đầu tư phát triển vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là vùng đồng bào dân tộcthiểu số Tăng quy mô giáo dục trung học phổ thông và phát triển mạnh mẽdạy nghề, nhất là các tỉnh đồng bằng và miền núi Xây dựng được hệ thốngcác cơ sở đào tạo nhân lực tiên tiến, hiện đại, đa dạng, cơ cấu ngành nghềđồng bộ, đa cấp, năng động, liên thông giữa các cấp và các ngành đào tạotrong nước và quốc tế, phân bố rộng khắp trên cả nước Tăng cường hợp tácquốc tế trong giáo dục đào tạo.

Hai là, Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục Đổi mới cả về tư duy lẫnphương thức quản lý theo hướng nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáodục và đào tạo Tập trung vào quản lý nội dung và chất lượng giáo dục và đàotạo, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra đối với các cơ sở giáo dục và đàotạo Tăng sự liên thông giữa nhà nước - cơ sở đào tạo, giáo dục - đơn vị sửdụng nguồn nhân lực cả trong đóng góp nguồn lực, xây dựng chương trình, nộidung, hợp lực đào tạo và sử dụng hiệu quả sản phẩm giáo dục đào tạo Tổ chứclại hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo; nâng cao hiệulực chỉ đạo tập trung thống nhất của Chính phủ trong việc thực hiện chiến lược,chính sách phát triển giáo dục; đổi mới căn bản về tư duy, về cơ chế và phươngthức quản lý giáo dục theo hướng phân cấp một cách hợp lý nhằm giải phóng

và phát huy tối đa tiềm năng, sức sáng tạo, tính chủ động cùng tự chịu tráchnhiệm của mỗi cấp và mỗi cơ sở giáo dục, giải quyết một cách có hiệu quảnhững bất cập của toàn hệ thống trong quá trình phát triển Đổi mới căn bảnchính sách đào tạo, bồi dưỡng sử dụng cán bộ quản lý giáo dục theo hướng coitrọng phẩm chất và năng lực hoạt động thực tiễn Hoàn thiện và tổ chức thựchiện có hiệu quả pháp luật về giáo dục, đặc biệt là việc xây dựng luật về giáo

Trang 14

dục đại học Tiếp tục chống gian lận trong thi cử, chạy theo thành tích giả Sớmchấm dứt mọi hiện tượng tiêu cực trong ngành giáo dục.

Ba là, Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học giáo dục giải quyết tốt

những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra trong quá trình đổi mới giáo dục, đàotạo Tiếp tục xây dựng và phát triển lý luận về nền giáo dục Việt Nam giàutính nhân dân, khoa học, dân tộc, hiện đại trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Nghiên cứu bổ sung hoàn thiện đường lối, chủtrương, chính sách giáo dục, đào tạo của Đảng và Nhà nước, đổi mới nộidung, phương pháp giáo dục Thường xuyên đánh giá tác động của các chủtrương, chính sách, các giải pháp đổi mới giáo dục, đào tạo để có biện phápđiều chỉnh giáo dục tiến kịp với yêu cầu của thời đại và không lạc hậu so vớitiến trình đổi mới kinh tế, văn hoá, xã hội

Bốn là, Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự giám

sát của các đoàn thể nhân dân đối với tiến trình đổi mới giáo dục, đào tạo

Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo đóng một vai trò quantrọng trong việc vận động và phát triển của đất nước, là một trong những nhân

tố cơ bản quyết định tương lai của dân tộc, là chìa khoá để mở ra tiềm năngcho sự phát triển bền vững của đất nước Đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để

có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo là một điều kiện tiên quyết để đưanước ta tiến lên nhanh và vững trên con đường hiện đại hóa đất nước, hộinhập quốc tế và sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới trong kỷnguyên thông tin và toàn cầu hóa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc đổi mớithành công và hoàn thành từng bước mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xãhội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh Đối vớicác nhà trường quân sự vận dụng các quan điểm của Đảng vào đổi mới côngtác quản lý giáo dục hiện nay là một nội dung, biện pháp quan trọng để nângcao chất lượng giáo dục đào tạo và nghiên cứu khoa học phục vụ thắng lợi sựnghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Trang 15

2 Vận dụng quan điểm của Đảng vào đổi mới công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân sự hiện nay.

2.1 Quan niệm về đổi mới công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân sự và thực trạng công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân sự hiện nay.

Đổi mới được hiểu là “thay đổi cho khác hẳn với trước, tiến bộ hơn,

khắc phục tình trạng lạc hậu, trì trệ và đáp ứng yêu cầu của sự phát triển” 7

Tiếp cận công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân sự thì đổi mới côngtác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân sự được hiểu là tổng thể các biệnpháp có mục đích, có kế hoạch nhằm thay đổi cách thức tiến hành quản lýnhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại để nâng cao chất lượng, hiệu quảcông tác quản lý giáo dục trong các nhà trường quân sự Đổi mới công tácquản lý giáo dục là quá trình vận dụng tổng thể các cách thức, biện pháp thayđổi phương thức, biện pháp đã và đang tiến hành trong công tác quản lý giáodục để thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, chiến lược quản lý đã đề ra Đổimới công tác quản lý giáo dục trong các nhà trường quân sự là hệ quả tất yếuxuất phát từ yêu cầu thực tiễn khách quan của sự nghiệp xây dựng quân đội,

sự phát triển của thực tiễn giáo dục đào tạo trong các nhà trường

Trong những năm qua công tác quản lý giáo dục ở các nhà trường quân sự

đã đạt được nhiều kết quả quan trọng góp phần nâng cao chất lượng đào tạo độingũ sĩ quan phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, bêncạnh những kết quả đã đạt được thì công tác quản lý giáo dục ở các nhà trườngquân sự trong thời gian qua cũng còn bộc lộ những hạn chế nhất định như:

Tổ chức, biên chế một số cơ quan quản lý giáo dục chưa hợp lý, chưađáp ứng được chức năng, nhiệm vụ, làm ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quảcủa quá trình quản lý giáo dục trong các nhà trường

7 Viện Ngôn ngữ học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2006, tr337

Trang 16

Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn thiếu, chất lượng còn hạn chế chưatương xứng với nhiệm vụ theo nội dung chương trình và quy trình đào tạomới, theo số lượng thống kê năm

Theo điều tra năm 2008, tổng số đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục theobiểu biên chế của quân đội là: 5068 người Trong đó hiện có là: 5129 người(thừa là: 431; thiếu là: 534) Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trongcác nhà trường quân đội còn có mặt hạn chế Còn có khoảng cách nhất định

so với chuẩn quốc gia, với sự phát triển của thực tiễn giáo dục - đào tạo trongquân đội hiện nay Tỷ lệ cán bộ quản lý giáo dục có trình độ sau đại học, đạihọc còn thấp, qua khảo sát cho thấy hiện nay tỷ lệ này mới chỉ đạt sau đại họclà: 22,25% (trong đã: Khối Học viện là: 42,66%; Khối trường sĩ quan là:18,53%; Khối trường Trung cấp là: 10,79%; Khối trường quân sự quân khu,quân đoàn là: 2,44%) Đối với trình độ đại học tỷ lệ là: 7446/ 11617= 64,09%(trong đó: Khối Học viện là: 1991/3664= 54,33%; Khối trường sĩ quan là:3239/ 4284= 75,60%; Khối trường Trung cấp là: 1079/ 1659= 65,03%; Khốitrường quân sự quân khu, quân đoàn là: 1137/2010= 56,56%) Trình độ ngoạingữ, tin học của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục còn thấp so với mặt bằngchung của quốc gia Khả năng sử dụng các trang thiết bị hiện đại vào quátrình đào tạo còn nhiều bất cập Số cán bộ quản lý giáo dục đã trải nghiệmqua cương vị thực tiễn tương ứng với cấp đào tạo chưa cao

Cơ chế quản lý, chỉ đạo, điều hành công tác nhà trường từ Bộ Quốc phòngxuống các trường chưa thật chặt chẽ, tập trung, thống nhất Việc phân công,phân cấp quản lý và phối hợp giữa các cơ quan chức năng và các ngành nghiệp

vụ để giúp bộ chỉ đạo quản lý công tác nhà trường chưa được qui định đầy đủ,

rỏ ràng, hợp lý; còn có sự chồng chéo hoặc bỏ sót chức năng, nhiệm vụ

Việc phân cấp ban hành các văn bản pháp qui như: Qui định mục tiêu,chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục; biên soạn sách giáo khoa,nghiên cứu khoa học phục vụ giáo dục - đào tạo, huy động các nguồn lực, quy

Trang 17

định về khen thưởng, thanh tra, kiểm tra…còn chưa rõ ràng hợp lý dẫn đếntình trạng: Văn bản ban hành nhiều nhưng hiệu lực pháp lý không cao, có vănbản chồng chéo, thậm chí mâu thuẫn với nhau gây khó khăn cho các cơ sởgiáo dục; trong khi đó, một số mặt công tác lại thiếu văn bản pháp qui Việcnắm nội dung và ý thức chấp hành các văn bản pháp qui của một số không ítcán bộ quản lý giáo dục còn hạn chế; nhiều qui chế, qui định đã được banhành nhưng không được thực hiện hoặc thực hiện chưa đầy đủ và triệt để.Vấn đề thanh tra, kiểm tra cũng như việc tổ chức bồi dưỡng kiến thức, nghiệp

vụ về quản lý giáo dục ở các cấp chưa được quan tâm đúng mức

Đầu tư vật chất, phương tiện bảo đảm cho công tác quản lý giáo dục đào tạo ở các học viện, nhà trường còn nhiều hạn chế và chưa đồng bộ; một

-số trường phương tiện quản lý giáo dục - đào tạo còn thiếu và chất lượng còn

thấp Đặc biệt: “Công tác quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo chưa chặt

chẽ; phân cấp quản lý và công tác bảo đảm cho các trường còn chồng chéo, phân tán Qui hoạch tổ chức hệ thống nhà trường chưa ổn định Tổ chức, biên chế nhiều trường chậm được kiện toàn và chưa bảo đảm tính thống nhất” 8 Nguyên nhân của những hạn chế do cả những nguyên nhân chủ quan

và khách quan Về chủ quan: “Năng lực cụ thể hóa các quan điểm, chủ

trương của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo còn hạn chế Thời gian đầu có biểu hiện nóng vội trong việc thực hiện đại học hóa trình độ học vấn đội ngũ sĩ quan” 9 Mặt khác, lãnh đạo, chỉ huy các cấp chưa thực sự quan tâm

đúng mức về công tác xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục vàcủng cố, kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý giáo dục Một bộ phận cán bộquản lý giáo dục, trong đã có cả những cán bộ đã được đào tạo, bồi dưỡng vềkiến thức khoa học quản lý giáo dục chưa thật tích cực học tập và tự học tập

9 Sđd, tr 9

Ngày đăng: 12/01/2022, 11:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H.2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốclần thứ XI
Nhà XB: Nxb CTQG
2. Đảng ủy Quân sự trung ương, Nghị quyết về công tác - giáo dục - đào tạo trong tình hình mới, Nxb QĐND, H. 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết về công tác - giáo dục- đào tạo trong tình hình mới
Nhà XB: Nxb QĐND
3. Trần Khánh Đức (2004), Quản lý và kiểm định chất lượng đào tạo nhân lực theo ISO&TQM, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và kiểm định chất lượng đàotạo nhân lực theo ISO&TQM
Tác giả: Trần Khánh Đức
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004
4. Nguyễn Minh Đường (1996), Tổ chức và quản lý quá trình đào tạo, Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức và quản lý quá trình đàotạo
Tác giả: Nguyễn Minh Đường
Năm: 1996
5. Hà Sĩ Hồ (1997), Những bài giảng về quản lý trường học, Tập 1, 2, 3, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài giảng về quản lý trường học
Tác giả: Hà Sĩ Hồ
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 1997
6. Trần Kiểm (2004), Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb GD, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học quản lý giáo dục – Một số vấn đề lýluận và thực tiễn
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb GD
Năm: 2004
7. M.I. Kônđakôp (1996), Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáo dục , Sách dịch Trường CBQLGDTƯ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận của khoa học quản lý giáodục
Tác giả: M.I. Kônđakôp
Năm: 1996
8. Phạm Thành Nghị (2000), Quản lý chất lượng giáo dục đại học, Nxb ĐHQG, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý chất lượng giáo dục đại học
Tác giả: Phạm Thành Nghị
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 2000
9. Nguyễn Ngọc Quang (1999), Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục, Trường CBQLGDTƯ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm cơ bản về lý luậnquản lý giáo dục
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1999
10. Nguyễn Ngọc Quang (1989), Dân chủ hoá quản lý trường học, Trường CBQLGDTƯ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân chủ hoá quản lý trường học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Quang
Năm: 1989
11. Tổng cục Chính trị (2009), Giáo trình quản lý giáo dục đại học quân sự, Nxb QĐND, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý giáo dục đại họcquân sự
Tác giả: Tổng cục Chính trị
Nhà XB: Nxb QĐND
Năm: 2009

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w