1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ QUẢN LÝ TÀI NGYÊN NƯỚC ĐIỀU 47: KHAI THÁC, SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC CHO THỦY ĐIỆN

22 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 257,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, vùng biển, vùng trời,… hay đơn giản chỉ là chiếc ghế đá ngoài công viên, hàng hoa đẹp bên đường,… đều là tài sản thuộc sự quản lý của Nhà nước mà toàn dân có quyền sử dụng bình đẳng. Không chỉ vậy, ngoài việc sử dụng họ cũng phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn chúng tránh những tác động xấu.

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ 4

TỔNG QUAN 5

1.1 Đặc điểm nguồn tài nguyên nước Viết Nam 5

1.2 Nguồn thủy điện và khai thác sử dụng 5

1.2.1 Tác động tích cực 8

1.2.2 Tác động tiêu cực 9

1.2.3 Dòng sông bị chia cắt thành nhiều đoạn, chế độ thủy văn bị thay đổi rõ rệt 10

1.2.4 Tạo ra khúc sông “chết” ở đoạn hạ lưu đập 10

1.2.5 Hồ chứa thủy điện đã xâm phạm đến diện tích đất rừng của các vườn Quốc Gia và khu bảo tồn thiên nhiên: 11

1.2.6 Ảnh hưởng đến các hoạt động ở hạ lưu 11

1.2.7 Gây xói lở bờ sông 12

1.3 Các biện pháp quản lý 12

Chương 2 13

ĐIỀU 47 – KHAI THÁC, SỬ DỤNG NGUỒN NƯỚC CHO THỦY ĐIỆN 13

2.1 Điều 47 – Khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện – Luật tài nguyên nước 13

2.2 Quản lý khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện 14

Chương 3 19

KẾT LUẬN 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO 22

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trên bình diện quốc gia, hiện nay, quản lý, khai thác và bảo vệ tài nguyên nước đã có nhiều thay đổi và đạt được công tácnhững hiệu quả nhất định Chức năng quản lý tài nguyên nước đã được giao cho một Bộ chủ trì là Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ TNMT) Đồng thời nhiều Bộ ngành liên quan cũng có chức năng cụ thể liên quan đến quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên nước

Một số rất lớn các hồ chứa đa mục tiêu được xây dựng ở Việt Nam trong nhiều thập kỷ gần đây đóng vai trò quan trọng trong phát triểnnền kinh tế quốc dân Công tác quản lý vận hành hệ thống hồ chứa luôn phát triển theo thời gian và đã đáp ứng được các yêu cầu và mục tiêu do thực tiễn đặt ra Tuy vậy, theo đánh giá của Hội Đập lớn thế giới năm 2000 thì rất nhiều hệ thống hồ chứa lớn đã không đem lại hiệu ích kinh tế, môi trường như đã được đánh giá trong các bước thiết kế kỹ thuật trong quá trình lập dự án Lý do phát huy hiệu quả kém có thể do trong giai đoạn thiết kế không chú ý đầy đủ đến chế

độ quản lý vận hành sau khi dự án hoàn tất, không lường trước được các yêu cầu, mục tiêu nảy sinh trong quá trình vận hành hệ thống sau khi hoàn thành, ví dụ như các yêu cầu về cấp nước sinh hoạt, công nghiệp, yêu cầu duy trì dòng chảy môi trường trong sông, duy trì các hệ sinh thái vùng hạ lưu Một số mâu thuẫn nảy sinh giữa các mục tiêu sử dụng nước có thể coi là nguyên nhân chính dẫn đến kémhiệu quả trong vận hành khai thác hệ thống hồ chứa mặc dù vấn đề cũng đã được xem xét đánh giá trong quá trình xây dựng dự án

Việc nghiên cứu, xây dựng các công trình hồ chứa lợi dụng tổng hợp trên dòng chính của các Bộ, ngành có những vấn đề như như sau:

Trang 5

Chương 1

TỔNG QUAN

1.1 Đặc điểm nguồn tài nguyên nước Viết Nam

Thứ nhất: Nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc nước ngoài Hai phần balượng nước của Việt Nam từ nước ngoài; gần đây các nước thượng nguồn đã và đangxây dựng nhiều công trình thủy điện, nhiều công trình chuyển, lấy nước, gây tình trạngnguồn nước chảy vào Việt Nam ngày càng giảm và tăng sự phụ thuộc

Thượng nguồn sông Hồng, sông Đà trên lãnh thổ Trung Quốc, đã và đang xâydựng các công trình thủy điện, dung tích hồ chứa vài chục tỷ m3, công suất lắp đặthàng ngàn MW Thượng nguồn sông Mê Kông, Trung Quốc đã có kế hoạch xây dựng

75 thủy điện, với tổng công suất lắp đặt 22.000MW Trong đó, hai công trình có điềutiết lớn khoảng 38 tỷ m3: thủy điện Tiểu Loan 4200MW, Nọa Chất Độ 5.500MW.Vùng lưu vực thuộc Lào, Thái Lan, Campuchia, đã có quy hoạch 11 công trình thủyđiện trên dòng sông chính Hiện Lào đã xây dựng một số công trình trên các sôngnhánh, đang xây dưng thủy điện Xayaburi và chuẩn bị xây Donsahong [5,6,11]

Thứ hai: Nguồn nước phân bố không đều giữa các vùng và theo thời gian 60%lượng nước tập trung ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), 40% ở vùng từ phía Bắcđến thành phố Hồ Chí Minh (vùng chiếm trên 80% dân số); trong 4-5 tháng mùa lũchiếm tới 70-80%lượng nước cả năm, các tháng còn lại chỉ chiếm 20-30%; giữa cácnăm cũng có biến động lớn Mùa lũ hàng năm ở ba miền có lệch nhau, miền Bắc cósớm vào tháng 7, 8 và chậm dần vào miền Trung và Nam khoảng vài ba tháng

Thứ ba: Nhu cầu nước tăng nhanh mà nguồn nước đang suy giảm Hiện bốn lưuvực sông đang bị khai thác căng thẳng như: sông Mã, sông Hương, các sông tại NinhThuận, Bình Thuận, Bà Rịa, Vũng Tàu, vv… Dự báo trong tương lai còn lan rộng hơnnhiều; một số khu vực nguồn nước ngầm bị khai thác quá mức như Đồng bằng Bắc bộ,ĐBSCL, đã hình thành các phểu hạ thấp mức nước, diện tích phểu rộng hàng nghìnkm2 [11]

Thứ tư: Tình trạng ô nhiễm nước ngày càng nặng cả về mức độ và quy mô, nhất làtại các vùng đô thị, khu công nghiệp

Thứ năm: Rừng đầu nguồn bị suy giảm mạnh, biến đổi khí hậu (BĐKH) thể hiệnnước biển dâng, xâm nhập mặn đã có tác động mạnh tới nguồn nước

Trang 6

1.2 Nguồn thủy điện và khai thác sử dụng

Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới, có lượng mưa trung bình hàngnăm cao, khoảng 1.800 - 2.000mm Với địa hình miền Bắc và biên giới miền Tây đồinúi cao, phía Đông là bờ biển dài trên 3.400km nên nước ta có hệ thống sông ngòi khádày đặc, với hơn 3.450 hệ thống Và với điều kiện tự nhiên thuận lợi như vậy nên tiềmnăng thuỷ điện của nước ta tương đối lớn

Theo tính toán lý thuyết, tổng công suất thủy điện của nước ta vào khoảng 35.000MW,trong đó 60% tập trung tại miền Bắc, 27% phân bố ở miền Trung và 13% thuộc khuvực miền Nam Tiềm năng kỹ thuật (tiềm năng có thể khai thác khả thi) vào khoảng26.000MW, tương ứng với gần 970 dự án được quy hoạch, hàng năm có thể sản xuấthơn 100 tỷ kWh, trong đó nói riêng thuỷ điện nhỏ có tới 800 dự án, với tổng điện năngkhoảng 15 - 20 tỉ kWh/năm

Có thể nói, cho đến nay các dự án thủy điện lớn có công suất trên 100MW hầu như đãđược khai thác hết Các dự án có vị trí thuận lợi, có chi phí đầu tư thấp cũng đã đượctriển khai thi công Còn lại trong tương lai gần, các dự án thủy điện công suất nhỏ sẽđược đầu tư khai thác

Trong những năm qua, ngoài các dự án lớn do EVN đầu tư, có nguồn vốn và kế hoạchthực hiện đúng tiến độ, thì các dự án vừa và nhỏ do chủ đầu tư ngoài ngành điệnthường chậm tiến độ, hoặc bị dừng Lý do của tình trạng các dự án chậm tiến độ hoặc

bị dừng là do: (1) Nền kinh tế nước ta trong thời gian qua gặp khó khăn (2) Các dự ánkhông hiệu quả, không đủ công suất như trong quy hoạch và nghiên cứu khả thi, hoặcchi phí đầu tư quá cao, khó khăn trong việc hoàn vốn (3) Các dự án chủ đầu tư không

đủ năng lực tài chính, hoặc chủ đầu tư không có kinh nghiệm quản lý dự án, tự thicông dẫn đến chất lượng công trình kém và thời gian kéo dài (4) Một số dự án gâyảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái, chặt phá rừng trên diện rộng, ảnhhưởng đến hạ du bị thu hồi, tạm loại ra khỏi quy hoạch

Ở nước ta, thủy điện chiếm một tỷ trọng cao trong cơ cấu sản xuất điện Hiện nay, mặc

dù ngành điện đã phát triển đa dạng hóa nguồn điện, nhưng thủy điện vẫn đang chiếmmột tỷ trọng đáng kể Năm 2014, thủy điện chiếm khoảng 32% trong tổng sản xuất

Trang 7

điện Theo dự báo của Quy họach điện VII (QHĐ VII) thì đến các năm 2020 và 2030

tỷ trọng thủy điện vẫn còn khá cao, tương ứng là 23%

Ngoài mục tiêu phát điện, các nhà máy thủy điện còn có nhiệm vụ cắt và chống lũ cho

hạ du trong mùa mưa bão, đồng thời cung cấp nước phục vụ sản xuất và nhu cầu dânsinh trong mùa khô

Thủy điện nhỏ

Theo phân cấp của Việt Nam, các nguồn thủy điện có công suất đến 30MW thì đượcphân loại là thủy điện nhỏ Các nguồn thủy điện có công suất lớn hơn gọi là thủy điệnlớn

Tuy nhiên, theo Tổ chức thủy điện nhỏ của Liên hiệp quốc (Small HydropowerUNIDO), thì các nguồn thủy điện có công suất từ 200 kW - 10 MW gọi là thủy điệnnhỏ, còn các nhà máy có công suất từ 10 MW - 100 MW là thủy điện vừa

Như vậy, theo phân loại của Việt Nam thì thủy điện nhỏ (công suất £ 30MW) đã baogồm các thủy điện vừa Điều này có nghĩa là đối với các dự án thủy điện nhỏ có côngsuất trên 15MW cũng cần phải chú ý thẩm định nghiêm túc về quy hoạch, thiết kế, xâydựng và về các tác động môi trường và xã hội

Như đã biết, các dự án thủy điện lớn có thể gây ra những tác động tiêu cực về môitrường và xã hội Các dự án này cần có hồ chứa rất lớn nên dẫn đến mất rất nhiều diệntích đất đai, trong đó chủ yếu là đất nông nghiệp; hàng nghìn vạn hộ dân phải di dời,tái định cư; một khu vực văn hóa trong diện tích lòng hồ bị chôn vùi; lượng phát thảikhí nhà kính (chủ yếu là mê tan) được tạo ra do các sinh vật bị ngập trong hồ gây ra Khác với thủy điện lớn, thủy điện nhỏ có quy mô nhỏ, các tác động về môi trường và

xã hội thường không lớn nên nó được xếp vào các nguồn năng lượng tái tạo Ở cáccông trình thủy điện nhỏ, quy mô công trình thường là đập thấp, đường dẫn nhỏ, khốilượng xây dựng không lớn, diện tích chiếm đất không nhiều và vì vậy mà diện tíchrừng bị chặt phá phục vụ công trình cũng không lớn Mỗi trạm thủy điện nhỏ thườngchỉ có 2-3 tổ máy, máy biến áp, trạm phân phối điện và đường dây tải điện 35kV hoặc110kV Các nhà máy thủy điện nhỏ nếu có hồ chứa thì dung tích cũng bé, hoặc không

có hồ chứa Nhiều nhà máy chạy bằng lưu lượng cơ bản của sông suối thông qua xây

Trang 8

dựng đập dâng Vì lý do đó, nên thủy điện nhỏ không làm được nhiệm vụ chống lũ cho

hạ lưu

Theo đánh giá, tiềm năng thủy điện nhỏ của Việt Nam vào khoảng 4.000MW, trong đóloại nguồn có công suất từ 100kW-30MW chiếm 93- 95%, còn loại nguồn có côngsuất dưới 100kW chỉ chiếm 5 - 7%, với tổng công suất trên 200MW

Về hiệu quả kinh tế thì thủy điện nhỏ không bằng thuỷ điện lớn Theo thống kê từ cáccông trình thủy điện đã và đang vận hành thì suất đầu tư thủy điện nhỏ vào khoảng 25

- 30 tỉ đồng/MW, trong khi đối với thủy điện lớn là 20 - 25 tỉ đồng/MW (tính theo mặtbằng giá năm 2011)

Theo phân cấp, việc cấp phép đầu tư các dự án thủy điện nhỏ thuộc thẩm quyền củaUBND các tỉnh Và cũng do quy mô nhỏ nên trong nhiều năm qua, nhiều địa phương

đã buông lỏng quản lý, dẫn đến việc quy hoạch, thiết kế, thẩm định và vận hành khôngphù hợp nên nhiều dự án thủy điện nhỏ đã gây ra các tác động tiêu cực về môi trường,

xã hội không nhỏ cho người dân xung quanh các dự án

Về thiết bị, trong thời gian qua, các dự án thủy điện nhỏ gần như đều nhập thiết bịcông nghệ của Trung Quốc, có chất lượng trung bình, giá thấp hơn các nước khác.Cũng cần nhấn mạnh rằng, qua nhiều năm xây dựng, phát triển thuỷ điện, lực lượng cơkhí trong nước cũng đã có những bước trưởng thành Trong nước đã sản xuất, chế tạo

và đưa vào sử dụng có hiệu quả các thiết bị cơ khí thuỷ công như: các cửa van đậptràn, cửa nhận nước, nhà máy, đường ống áp lực, cầu trục gian máy, máy biến áp cácloại… Do vậy, cần tận dụng tốt các sản phẩm này và có chính sách khuyến khíchnghiên cứu, phát triển, thiết kế, chế tạo thiết bị trong nước

1.2.1 Tác động tích cực

Thúc đẩy các khả năng kinh tế

Thông thường các công trình thuỷ điện có vốn đầu tư lớn, thời gian xây dựngkéo dài, song hiệu quả cao và tuổi thọ đến 100 năm hoặc hơn Về lâu dài mà nói thìkhông có công nghệ năng lượng nào rẻ bằng thuỷ điện Các chi phí vận hành và bảodưỡng hàng năm là rất thấp, so với vốn đầu tư và thấp hơn nhiều các nhà máy điện

Trang 9

khác.Các dự án nhỏ và phân tán sẽ đóng vai trò quan trọng trong chương trình điện khíhoá nông thôn trên khắp thế giới Khai phóng tiềm năng thủy điện sẽ mang lại nguồnlợi lớn cho địa phương và cả quốc gia Thông qua việc phát triển thủy điện, kết cấu hạtầng khu vực cũng sẽ được đầu tư xây dựng đồng bộ, và hiện đại với tốc độ rất nhanh.

Bảo tồn các hệ sinh thái

Thuỷ điện sử dụng năng lượng của dòng nước để phát điện, mà không làm cạnkiệt các nguồn tài nguyên thiên nhiên, cũng không làm biến đổi các đặc tính của nướcsau khi chảy qua tua bin

Linh hoạt

Trong cung cấp điện năng, thủy điện là nguồn cung ứng linh hoạt, bởi khả năngđiều chỉnh công suất Nhờ công suất phủ đỉnh của thủy điện, có thể tối ưu hóa biểu đồphụ tải chạy nền bởi các nguồn kém linh hoạt hơn (như các nhà máy nhiệt điện hoặcđiện hạt nhân)

Nhà máy thủy điện tích năng làm việc như acquy, trữ khổng lồ bằng cách tích

và xả năng lượng theo nhu cầu hệ thống điện

Một ưu điểm của thủy điện là có thể khởi động và phát đến công suất tối đa chỉtrong vòng vài phút, trong khi nhiệt điện (trừ tua bin khí - gas turbine) phải mất vài giờhay nhiều hơn trong trường hợp điện nguyên tử Do đó, thủy điện thường dùng để đápứng phần đỉnh là phần có yêu cầu cao về tính linh hoạt mang tải

Tương đối sạch

So với nhiệt điện, thủy điện cung cấp một nguồn năng lượng sạch, hầu nhưkhông phát khí thải gây hiệu ứng nhà kính

Trang 10

1.2.2 Tác động tiêu cực

Bên cạnh những lợi ích không thể phủ nhận, thủy điện cũng có nhiều bất lợi, ảnhhưởng xấu đến tài nguyên nước, môi trường sinh thái, làm giảm đa dạng sinh học vàhiệu quả kinh tế đảo ngược từ việc cải tạo môi trường tự nhiên

1.2.3 Dòng sông bị chia cắt thành nhiều đoạn, chế độ thủy văn bị thay đổi

rõ rệt

- Trên sông Ba từ thượng nguồn đến thủy điện sông Ba Hạ, chỉ kể trên dòng chính đã

có 9 bậc thang chia dòng sông thành 8 khúc

- Trên sông Đắk Bla một nhánh của sông Sê San từ Thượng Kon Tum đến thành phốKon Tum có ít nhất 13 nhà máy thủy điện (hồ và đập dâng)

- Trên dòng chính sông Đồng Nai từ đập Đơn Dương đến đập Trị An gồm có 13 nhàmáy thủy điện đã, đang và sẽ xây dựng

- Trên dòng chính sông Srêpôk hiện đã và đang xây dựng 7 bậc thang nhà máy thủyđiện Việc xuất hiện các bậc thang thủy điện đã làm thay đổi chế độ thủy văn từ chế độthủy văn sông ngòi sang chế độ thủy văn hồ chứa Dòng chảy trên các đoạn sôngkhông ổn định, thất thường ngay cả trong mùa cạn Thời gian tập trung dòng chảyngắn lại, thay đổi theo từng đoạn sông không có qui luật rõ rệt

1.2.4 Tạo ra khúc sông “chết” ở đoạn hạ lưu đập

Nhiều công trình thủy điện, để tạo đầu nước lớn, nâng cao hiệu quả phát điện đãdùng kênh dẫn hay đường ống áp lực dẫn nước từ hồ chứa đến nhà máy thủy điện, nênđoạn sông từ đập đến nhà máy không có nước trở thành một đoạn sông chết có chiềudài từ vài km đến hàng chục km ngay sau tuyến đập chính Ví dụ: sau thủy điện ĐồngNai 3, đoạn sông dài 1000 m sau đập có lưu lượng Q ≈ 0, không có nhập lưu nào đáng

kể, thành đoạn sông “khô” từ tháng XI đến tháng III Thủy điện Srêpôk 4A đang xâydựng được hình thành bằng một kênh dẫn dòng từ thủy điện Srêpôk 4 cắt thẳng đoạnsông cong Bản Đôn 22 km Đoạn sông cong này chảy qua Vườn Quốc Gia York Dongây ảnh hưởng tới khu du lịch sinh thái này Bên cạnh đó, nhiều công trình thủy điệnđiều tiết ngày đêm tạo ra một số giờ tích, một số giờ xả nước gây nên những thời đoạnsông khô nước trong ngày, dòng chảy không lưu thông ảnh hưởng đến hệ sinh tháithủy sinh, cuộc sống những người sinh kế trên sông khó khăn

Trang 11

- Thủy điện Đồng Nai 4 theo chế độ điều tiết ngày đêm, tạo ra 12 giờ đóng cửa tíchnước, hạ lưu mất nước.

- Thủy điện Buônkuôp điều tiết ngày đêm gây ảnh hưởng tới ba thác ở hạ lưu làthác Dray Sap (thác Draynur); thác Gia Long (dữ dội và đẹp nhất); thác Trinh Nữ

- Thủy điện Srêpôk 3 + Drayling +Srêpôk 4 đều là đập dâng điều tiết ngày đêm,chưa có hồ điều tiết mùa ở cuối cửa sông

- Thủy điện Sêsan III, Sêsan IIIA đều là điều tiết ngày đêm gây ảnh hưởng đếndòng chảy đoạn hạ lưu giữa hai trạm thủy điện

1.2.5 Hồ chứa thủy điện đã xâm phạm đến diện tích đất rừng của các vườn Quốc Gia và khu bảo tồn thiên nhiên:

- Thủy điện KrongKma xâm phạm vườn Quốcgia Chưyangsin

- Thủy điện Srêpôk 3 và Srêpôk 4 xâm phạm vườn Quốc Gia York Don

- Thủy điện Buôn Kuôp xâm phạm khu bảo tồn NamKar

1.2.6 Ảnh hưởng đến các hoạt động ở hạ lưu

Trong quá trình vận hành, đặc biệt là mùa cạn, để tăng cường lượng điện do chủ yếuchú ý đến sản lượng điện, nhiều hồ chứa thủy điện tăng cường việc tích nước để dự trữphát điện, nên lượng nước xả xuống hạ lưu không đáng kể, đôi khi ngừng hoàn toàn

Từ đó, gây ảnh hưởng bất lợi đến việc cung cấp nước cho các mục đích sử dụng khác

ở hạ du như cấp nước sinh hoạt, tưới tiêu, giao thông, thủy sản, đồng thời làm biếnđổi chế độ dòng chảy và suy thoái hệ sinh thái thủy sinh Các nhà máy thủy điện như

An Khê – Kanak chuyển nước từ sông Ba qua sông Kone, thủy điện Đa Nhim và ĐạiNinh chuyển nước từ sông Đồng Nai sang sông Cái Phan Rang và sông Lũy, ThượngKon Tum chuyển nước từ sông Đắk Bla (Kon Tum) sang sông Trà Khúc (Quảng Ngãi)chỉ tính đến hiệu quả thủy điện, cấp nước song chưa tính đến hệ lụy nước mặn xâmnhập sâu vào sông Đà Rằng, sông Đồng Nai, hệ lụy gây ra đoạn sông khô ở hạ lưuđập, gây ảnh hưởng tới môi trường, sinh thái cũng như việc khai thác sử dụng nước.Việc chuyển nước từ lưu vực này sang lưu vực khác, nếu không có sự đồng thuận ngay

từ đầu sẽ gây ra những mâu thuẫn giữa các địa phương

Ngày đăng: 12/01/2022, 10:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đếnnăm 2020,Nxb. Văn hóa, Thông tin, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến"năm 2020
Nhà XB: Nxb. Văn hóa
2. Viện Quy hoạch thủy lợi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Báo cáo rà soátquy hoạch thuỷ lợi toàn quốc, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo rà"soát"quy hoạch thuỷ lợi toàn quốc
3. Nguyễn Văn Cư và nnk, Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tàinguyên vàbảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn - Đề tài nghiên cứu độc lậpcấp nhànước, Viện Địa lý, Mã số KC.08-25, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu giải pháp tổng thể sử dụng hợp lý tài"nguyên và"bảo vệ môi trường lưu vực sông Ba và sông Côn
4. QĐ 3454/QĐ-BCN-QĐ phê duyệt QH TĐN toàn quốc-18-10-2005 5. Sông ngòi thủy điện Tây nguên, Website: nong nghiep.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: QĐ 3454/QĐ-BCN-QĐ phê duyệt QH TĐN toàn quốc-18-10-2005"5
8. Vỡ trận thủy điện nhỏ ở các tỉnh phía Bắc-Báo mới 24-5-2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỡ trận thủy điện nhỏ ở các tỉnh phía Bắc-
9. Bùi Huy Phùng,Phương pháp tính toán tối ưu phát triển bền vững HTNL, NXBKHKT, Hà Nội, 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp tính toán tối ưu phát triển bền vững HTNL
Nhà XB: NXBKHKT
10. Bùi Huy Phùng,Thách thức và kiến nghị phát triển bền vững Tạp chí Năng lượng Việt Nam ,9-2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thách thức và kiến nghị phát triển bền vững

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w