Tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, vùng biển, vùng trời,… hay đơn giản chỉ là chiếc ghế đá ngoài công viên, hàng hoa đẹp bên đường,… đều là tài sản thuộc sự quản lý của Nhà nước mà toàn dân có quyền sử dụng bình đẳng. Không chỉ vậy, ngoài việc sử dụng họ cũng phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn chúng tránh những tác động xấu.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Học viên: LÂM ĐỨC TÀIKhóa: 2018-2019Ngành: Quản lý Tài Nguyên và Môi Trường
Thành phố Hồ Chí Minh Tháng 1/2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠOTRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM TP HỒ CHÍ MINH
Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS LÊ QUỐC TUẤN
Học viên: LÂM ĐỨC TÀI
Khóa: 2018-2019
Ngành: Quản lý Tài Nguyên và Môi Trường
Thành phố Hồ Chí Minh
Tháng 1/2019
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ii
DANH SÁCH CÁC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Tổng quan lý thuyết 3
1.1.1 Khái niệm về nước dưới đất 3
1.1.2 Các tầng chứa nước 4
1.1.3 Khái niệm về sự ô nhiễm nước dưới đất 6
1.1.4 Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất 6
1.1.5 Các chất ô nhiễm có trong nước dưới đất 7
1.1.6 Khái niệm chung về trữ lượng nước dưới đất 13
1.1.7 Các phương pháp đánh giá trữ lượng nước dưới đất 14
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu quản lý nước dưới đất 16
1.2.1 Trên thế giới 16
1.2.2 Tại Việt Nam 20
Chương 2 NỘI DUNG 24
2.1 Tổng quan Luật tài nguyên nước 2012 24
2.2 Điều 56 của Luật tài nguyên nước 2012 44
2.3 Sự cần thiết bổ sung nước nhân tạo dưới đất 44
2.4 Một số giải pháp bổ sung nhân tạo nước dưới đất 45
2.4.1 Cải tạo các giếng chung trở thành các giếng bổ sung nhân tạo 45
2.4.2 Hầm bổ sung thẳng có giếng phun 46
2.4.3 Mô hình bổ sung nhân tạo tại hộ gia đình 48
KẾT LUẬN 51
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 4DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Bộ TN&MT : Bộ Tài Nguyên và Môi Trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
BVTV : Bảo vệ thực vật
CNH – HĐH : Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long
ĐBSH : Đồng bằng Sông Hồng
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
UBND : Uỷ ban nhân dân
VSMT : Vệ sinh môi trường
Trang 5DANH SÁCH CÁC HÌNH
Hình 1.1 Mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên nước dưới đất Canada 19 Hình 2.1 Hầm bổ sung thẳng có giếng phun 47 Hình 2.2 Một số hình ảnh mô hình thí điểm tại nhà dân 49
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Nước dưới đất hay còn gọi là nước ngầm, là một dạng nước phân bố dưới bềmặt đất được tích trữ trong các không gian rỗng của đất và trong các khe nứt củacác lớp đất đá trầm tích, có diện tích phân bố rộng trên trái đất từ vùng ẩm ướt chođến sa mạc, từ núi cao đến vùng cực
Nước dưới đất được hình thành trong một khoảng thời gian dài, là một phầntrong vòng tuần hoàn nước Theo đó, một phần lượng nước mưa đều thấm xuốnglớp đất đá ở hầu hết mọi nơi trên trái đất Nước ngầm cung cấp nửa lượng nướcuống toàn cầu
Nước dưới đất là nguồn tài nguyên rất quan trọng trong đời sống của conngười Cùng với sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế, mức độ khai thác nước dưới đấtphục vụ cho ăn uống, sinh hoạt và sản xuất cũng tăng lên nhanh chóng Các khucông nghiệp, các nhà máy xí nghiệp ngày một phát triển dẫn đến nhu cầu khai thácnước dưới đất với quy mô rất lớn
Với nước ngầm, con người đã sử dụng hàng ngàn năm nay phục vụ cho nhucầu sinh hoạt và sản xuất Ước tính, lượng sử dụng nước ngầm trên thế giới vàokhoảng 982km3 một năm Trong đó, nước ngầm cung cấp phân nửa lượng nướcuống trên toàn cầu, và chiếm giữ 38% lượng nước tưới tiêu
Riêng tại Việt Nam, nước sử dụng cho sinh hoạt thì 70% nước bề mặt và30% nước ngầm Đồng thời, theo thống kê của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môitrường (Bộ Y tế) năm 2013, nước ta có khoảng 17,2 triệu người (tương đương21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan mà chưa qua xửlý
Trong những năm gần đây do nhu cầu sử dụng tăng cao dẫn đến khai thácquá mức nên mạch nước ngầm ở nhiều nơi, đặc biệt là những thành phố lớn như Hà
Trang 7Nội hay TP.HCM đã bị giảm số lượng nghiêm trọng, đồng thời bị ô nhiễm các chấthữu cơ, kéo theo đó làm cho đất đai có hiện tượng sụt lún Đặc biệt, công tác thugom chất thải rắn, xử lý nước thải tại nhiều đô thị chưa hiện đại dẫn đến tình trạngnguồn nước bẩn, các chất gây nguy hại thẩm thấu vào lòng đất gây ô nhiễm nguồnnước ngầm.
Riêng ở các vùng ven biển nước, do tình hình biến đổi khí hậu và nước biểndâng, nước ngầm đứng trước nguy cơ bị nhiễm mặn ngày càng gia tăng Ở vùngnông thôn, người dân đào giếng lấy nước, tuy nhiên ở những nơi đào không có,người dân không lấp giếng lại, tạo điều kiện cho nước dơ tràn vào theo đường này,
dễ dàng gây ô nhiễm mạch đất
Luật Tài nguyên nước năm 2012, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2013 là cơ
sở pháp lý quan trọng, bước đột phá mới trong việc quản lý và bảo vệ, phát triển
nguồn nước Tại Điều 56 của Luật tài nguyên nước năm 2012 quy định về: “Bổ
sung nhân tạo nước dưới đất” Tiểu luận được thực hiện nhằm tìm hiểu rõ hơn về
Luật tài nguyên nước nói chung và Điều 56 nói riêng
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu và phân tích nội dung điều 56 của Luật tài nguyên nước năm 2012
về vấn đề “Bổ sung nhân tạo nước dưới đất”
- Liên hệ thực tế tình hình bổ sung nhân tạo nước dưới đất trên địa bàn TP
Hồ Chí Minh
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan lý thuyết
1.1.1 Khái niệm về nước dưới đất
Theo Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH 13, khái niệm nước dưới đất
được hiểu như sau: “Nước dưới đất là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới
đất.”
Nước dưới đất là loại tài nguyên ngầm được con người khai thác vào loại sớmnhất và lâu dài nhất Tuy nhiên nhiều loại bí ẩn liên quan đến loại tài nguyên nàyvẫn còn là câu đố đối với nhân loại Theo Opsinhicop (2005), thủy quyển ngầmphân bố tới độ sâu 12 - 16 km, là độ sâu phân bố nhiệt độ tới hạn của nước(375 - 450 0C); còn theo Macarenco và Lianco (2005), thủy quyển ngầm phải đạt tới
độ sâu 70 - 100 km Các kết quả đánh giá trữ lượng nước dưới đất, do vậy, rất khácnhau
Nước dưới đất phân bố trên diện rộng và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đốivới hệ thực vật và hệ sinh vật đất, bởi đa phần các cá thể này không thể tự vận động
đi tìm nước được như con người và động vật khác Nước dưới đất là nguồn cungcấp, duy trì sự tồn tại của các thủy vực mặt trong thời kỳ không mưa kéo dài Nhiềunơi, trong quá trình thăm dò tìm kiếm nguồn nước đã phát hiện ra những nguồnkhoáng sản quý hiếm khác có vai trò thay đổi nền kinh tế của cả một địa phương,một quốc gia, như sự tìm ra dầu và khí đốt ở Brunay (Nguyễn Thị Phương Loan,2005)
Trang 91.1.2 Cỏc tầng chứa nước
Căn cứ vào khả năng chứa nước, cỏc thành tạo địa chất được chia ra thànhhai dạng là: cỏc tầng chứa nước và cỏc tầng khụng chứa nước Cỏc thành tạo địachất được thể hiện ở Hỡnh 1.1
Hỡnh 1.1 Phõn loại nước dưới đất theo cỏc thành tạo địa chất
1.1.2.1 Phức hệ chứa nước trong trầm tớch bở rời tuổi Holocen (Q IV )
Cỏc trầm tớch Holocen trong khu vực nghiờn cứu tuy cú nhiều nguồn gốckhỏc nhau nhưng cú đặc điểm chung là thành phần thạch học chủ yếu là bột cỏt, cỏtpha sột với một ớt vật chất hữu cơ, cú màu xỏm hoặc xỏm đen, khả năng chứa nướckộm, chất lượng nước xấu
1.1.2.2 Tầng chứa nước lỗ hổng trong trầm tớch bở rời tuổi Pleistocen (Q I-III )
Nước tầng này được tàng trữ trong kẽ hở của cỏc hạt cú nguồn gốc sụng,sụng biển hỗn hợp, thành phần phổ biến là cỏt với nhiều cỡ hạt khỏc nhau đụi chỗchứa sạn sỏi, phần cũn lại là sột bột, sột bột pha cỏt là tầng chắn cỏch nước
Tầng chứa nước Pleistocen (QI-III) nằm ngay dưới phức hệ Holocen, cú chiềudày từ 20 m đến 40 m Nước của tầng chứa nước này trong nhiều trường hợp là bềmặt phong húa laterit bở rời Sột bột phong húa loang lổ dẻo quanh đến dẻo cứngtạo thành lớp cỏch nước ngăn cỏch với phức hệ chứa nước Holocen và nước mặt dichuyển xuống Tuy nhiờn, ở một số khu vực khi tầng cỏch nước khụng được bảo tồn
Các thành tạo địa chất
Các tầng chứa n ớc (Aquifer) Các tầng không chứa n ớc (Non
aquifer)
Các tầng chứa n ớc lỗ
hổng Các tầng chứa n ớc khe nứt
Trang 10tốt sẽ xuất hiện sự di chuyển nước từ trên mặt và trong phức hệ chứa nước Holocenxuống tầng chứa nước Pleistocen.
Tầng chứa nước Pleistocen (QI-III) là tầng chứa nước có áp lực cục bộ vớihướng vận động từ Bắc xuống Nam hoặc Đông Bắc - Tây Nam, nguồn cung cấpcho tầng này từ các vùng xung quanh chủ yếu là ở phía Bắc và Đông Bắc Ngoài ra,còn có lượng mưa rơi trực tiếp lên các diện lộ trầm tích Pleistocen Nước của tầngchứa này thuộc loại hình hóa học clorua bicacbonat Độ khoáng hóa thay đổi từ0,2 - 0,7 g / L thuộc loại nước nhạt Độ pH trong khoảng 3 - 7, trung bình khoảng
5 - 6 (axit yếu) Do chiều dày không lớn lại kém ổn định nên tầng chứa nước nàykhông phải là một tầng giữ nước, mực nước dao động theo mùa trong năm
1.1.2.3 Tầng chứa nước lỗ hổng - vỉa trong trầm tích Pliocen muộn (N 2 2 )
Tầng chứa nước Pliocen phân bố rộng ở TP HCM, tầng có áp lực yếu.Thành phần thạch học của tầng chứa nước chủ yếu bao gồm cát hạt trung thô lẫnsạn sỏi, chủ yếu là hạt trung (0,5 - 0,25 mm) Tầng chứa nước được ngăn cách vớitầng trên bởi một lớp sét đôi khi xen lẫn hoặc bị thay thế bởi lớp mỏng sét pha, bềdày lớp sét cách nước này thay đổi từ 30 - 40 m và có nơi lên đến 60 m Bề dày tạikhu vực khai thác của tầng chứa nước là 70 m Đây là tầng chứa nước khá phongphú, mực nước giao động theo mùa, tỷ trọng lưu lượng khoảng 0,2 đến 0,5 L / ms.Nước trong tầng này thuộc loại hình hóa học bicacbonat natri, bicacbonatnatri - magnesi và bicacbonat magnesi - natri, vùng gần ranh mặn có sự thay thế củaclorua Trong khu vực nghiên cứu, nước có tổng độ khoáng hóa từ 0,5 - 0,9 g / Lthuộc loại nước nhạt đôi chỗ nước lợ ở vùng giáp ranh mặn; độ pH của nước trongkhoảng 5 - 7, thuộc loại trung tính đến axit yếu, có thể sử dụng cho ăn uống, nhucầu sinh hoạt sau khi được xử lý
Theo các tài liệu nghiên cứu địa chất thủy văn, tài liệu quan trắc các giếngkhoan khai thác của khu vực, tầng chứa nước Pliocen muộn phân bố ở độ sâu từ
60 m đến 190 m với các thông số như sau:
Trang 11Hệ số dẫn áp a = 3 x 106 - 4 x 106 m2 / ngày; hệ số dẫn nước kém từ
1000 - 1500 m2 / ngày; hệ số thấm k = 14,90 m / ngày; hệ số phóng thích nước trọnglực m = 0,17; hệ số phóng thích nước đàn hồi m* = 0,0034
1.1.2.4 Tầng chứa nước lỗ hổng - vỉa trong trầm tích Pliocen sớm (N 2 1 )
Tầng chứa nước Pliocen sớm nằm dưới tầng chứa nước Pliocen muộn vàđược ngăn cách bởi một tầng chắn có thành phần là sét, bột sét dày 2 - 10 m, một sốnơi ở khu vực Bình Chánh bắt gặp các cửa sổ thủy lực là nơi trao đổi nước giữatầng Pliocen muộn và Pliocen sớm Thành phần thạch học của tầng chứa nướcPliocen sớm phổ biến là cát, cát sạn pha bột ở dưới chuyển lên trên là bột sét phacát, bột sét Theo các tài liệu địa chất, địa chất thủy văn TP HCM, chiều dày củatầng chứa nước Pliocen sớm ở khu vực nghiên cứu từ 100 - 120 m, các trầm tíchnày nằm trên bề mặt thành tạo Mezozoi Nước trong tầng vận động theo hướngBắc - Nam và Đông Bắc - Tây Nam Thành phần hoá học của nước tầng này chủyếu là clorua bicacbonat và clorua Tổng độ khoáng hoá từ 0,8 - 1,5 g / L, thuộcloại nước nhạt đến lợ Độ pH thường thấp (axit đến axit yếu)
1.1.2.5 Tầng chứa nước khe nứt trong trầm tích Mezozoi
Đới chứa nước này phân bố trên toàn thành phố có chiều dày khoảng 2.000
m khả năng chứa nước kém không có ý nghĩa trong cung cấp nước cho thành phố(Đỗ Tiến Hùng và nnk, 2001)
1.1.3 Khái niệm về sự ô nhiễm nước dưới đất
Nước dưới đất được coi là ô nhiễm khi có bất kỳ sự thay đổi không mongmuốn về chất lượng nước, gây tác động xấu đến sức khỏe con người hay tác độngxấu đến môi trường (Department of Environment và Conservation NSW, 2007)
1.1.4 Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất
Ô nhiễm nước dưới đất có thể xảy ra từ nhiều nguồn và theo nhiều nguyênnhân, cả tự nhiên và con người:
- Trong tự nhiên, nước dưới đất thường chứa một vài chất như sunfua, muối,sắt, mangan,… rửa trôi từ đất, đá vào tầng chứa nước
Trang 12- Chất gây ô nhiễm nước dưới đất có thể xâm nhập từ hơn 30 nguồn khácnhau liên quan đến các hoạt động của con người (David W Moody, 2002) Một sốnguồn tập trung như: Hệ thống hầm tự hoại, hệ thống thu gom và xử lý nước thải,các giếng khoan, các bãi rác, bể chứa nhiên liệu dưới lòng đất, khu chăn nuôi độngvật, các công trường khai thác lộ thiên; các nguồn không tập trung như: Đất canhtác nông nghiệp, các cánh đồng được tưới với các loại nước có chứa muối, các vùng
đô thị, ô nhiễm không khí,… (Lyle S Raymond JR., 1988)
1.1.5 Các chất ô nhiễm có trong nước dưới đất
Chất gây ô nhiễm xâm nhập vào các tầng chứa nước bằng nhiều cách thứckhác nhau:
- Xâm nhập của nước bề mặt thông qua đất, trầm tích, đá
- Dòng chảy trực tiếp từ nước bề mặt (đặc biệt là địa hình núi đá vôi)
- Dòng chảy trực tiếp thông qua giếng xây dựng không đúng cách mà trởthành ống dẫn các chất ô nhiễm
- Nhiễm chéo dưới mặt đất từ tầng chứa nước khác thông qua vỏ bọc (đườngống) của giếng xây dựng không đúng cách (Anthony Saracino và cộng sự, 2002)
1.1.5.1 Các chất rắn có trong nước
Các chất rắn trong nước gồm có các chất rắn vô cơ (các muối hòa tan, cácchất không tan như huyền phù, đất cát,…) và các chất rắn hữu cơ (gồm các vi sinhvật, vi khuẩn, và các chất hữu cơ do phế thải như phân rác, chất thải công nghiệp,
…) Trong nước dưới đất thường chứa các chất rắn như cát, bột, sét, xác thực vật,…các chất này tạo độ đục, nhiều tạp chất làm giảm chất lượng nước
1.1.5.2 Các chất gây mùi vị trong nước
Các chất khí và các chất hòa tan trong nước làm cho nước có mùi vị Nướcdưới đất trong tự nhiên có mùi đất, mùi tanh, mùi thối hay mùi đặc trưng của cácchất hòa tan trong nó như mùi amoniac, mùi hydrosunfua,… Nước cũng có thể có vịngọt, vị chát tùy theo thành phần và hàm lượng các muối hòa tan trong nước
Các chất gây mùi trong nước có thể chia làm 3 nhóm:
Trang 13- Các chất gây mùi có nguồn gốc vô cơ như NaCl, MgSO4 gây vị mặn, muối
Cu, muối Fe gây mùi tanh, các chất gây tính kiềm, tính axit trong nước,…
- Các chất gây mùi có nguồn gốc hữu cơ trong chất thải công nghiệp, chấtthải mạ, dầu mỡ, phenol,…
- Các chất gây mùi từ quá trình sinh hóa, các hoạt động của vi khuẩn, của tảonhư CH3 - S - CH3 cho mùi tanh cá, C12H22O, C12H18O2 cho mùi tanh bùn,…
1.1.5.3 Các hợp chất của canxi, magiê
Các hợp chất của canxi, magiê dưới dạng ion hóa trị II chứa trong nước tạonên nước cứng Trong sử dụng, dùng nước có độ cứng cao có tác hại là các ioncanxi, magiê phản ứng với các axit béo tạo ra các hợp chất khó hòa tan, gây lãngphí chất tẩy rửa Ngoài ra, trong quá trình sản xuất, nước cứng gây tạo màng cứngtrong các ống dẫn nước nóng, các nồi hơi và các bộ phận khác tiếp xúc với nướcnóng, gây lãng phí năng lượng
1.1.5.4 Các chất phóng xạ trong nước
Nước nhiễm phóng xạ do sự phân hủy phóng xạ trong nước thường có nguồngốc từ các nguồn chất thải, phóng xạ gây nguy hại cho sự sống nên độ phóng xạtrong nước là một chỉ tiêu quan trọng về chất lượng nước
1.1.5.5 Khí hydrosunfua (H 2 S)
Khí hydrosunfua là sản phẩm của quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ,phân rác có trong khí thải Trong nước dưới đất, vi khuẩn chuyển hóa lưu huỳnh cótrong đất, đá thành sunfat và sự hình thành khí hydrosunfua là kết quả của quá trình
vi khuẩn khử sunfat Khí hydrosunfua làm cho nước có mùi trứng thối khó chịu vàrất độc hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe Ngoài ra nếu nồng độ cao có thể gây ănmòn vật liệu (National Groundwater Association, 2009)
1.1.5.6 Các hợp chất của nitơ: NH 4 , NO 2 - , NO 3 -
Các hợp chất của nitơ trong nước là kết quả của quá trình phân hủy chất hữu
cơ trong tự nhiên, trong các chất thải và các nguồn phân bón mà con người trực tiếphay gián tiếp đưa vào nước Các hợp chất này thường tồn tại dưới dạng ion amoni(NH4 ), nitrit (NO2-), nitrat (NO3-) và cả dạng nguyên tố (N2)
Trang 14Amoni là yếu tố gây cản trở trong công nghệ xử lý nước cấp, nó làm giảmtác dụng của clo, do amoni phản ứng với clo tạo thành monocloamin là chất sáttrùng thứ cấp hiệu quả kém clo hơn 100 lần và amoni trong nước cao rất dễ sinhnitrit Các hợp chất của nitơ trong nước có thể gây nên một số bệnh nguy hiểm chongười sử dụng nước Nitrat tạo ra chứng thiếu vitamin và có thể kết hợp với cácamin để tạo nên những nitrosamin là nguyên nhân gây ung thư ở người cao tuổi.Sau khi vào cơ thể, nitrat được chuyển hóa nhanh thành nitrit nhờ vi khuẩn đườngruột Nitrit còn nguy hiểm hơn nitrat đối với sức khỏe con người Khi tác dụng vớicác amin hay alkyl cacbonat trong cơ thể người, chúng có thể tạo thành các hợpchất chứa nitơ gây ung thư (Phạm Quý Nhân, 2008).
1.1.5.7 Các hợp chất của axit cacbonic
Các hợp chất của axit cacbonic có vai trò quyết định trong sự ổn định củanước trong tự nhiên Chúng tồn tại dưới dạng của phân tử không phân ly của axitcacbonic (H2CO3), phân tử khí cacbonic hòa tan (CO2), dạng phân ly thànhbicacbonic (HCO3-) Trong tổng thành phần phân tử dạng không phân ly, axitcacbonic hòa tan chỉ chiếm 0,2%; còn lại 99,8% tồn tại ở dạng khí CO2 hòa tan Vìvậy, ta coi nồng độ CO2 hòa tan trong nước là đặc trưng của cả CO2, HCO3-, CO32-với độ pH của nước
1.1.5.8 Sắt và mangan
Trong nước dưới đất, sắt thường tồn tại dưới dạng hóa trị II kết hợp với cácgốc hydrocacbonat, sunfat, clorua Khi tiếp xúc với oxi hay các chất oxi hóa, sắt II
bị oxi hóa thành sắt III tạo thành kết tủa dưới dạng bông cặn Fe(OH)3 có màu nâu
đỏ Nếu trong nước uống sắt có hàm lượng 3 mg / L nước có mùi tanh, làm quần áo
có màu gỉ sắt, tuy nhiên với hàm lượng này không gây hại cho sức khỏe con người.Nếu hàm lượng sắt vượt quá 200 mg / L trong nước thì gây độc hại cho tuyến tụy,gan, lá lách và tim (Abigail Albright và cộng sự, 2012)
Mangan thường có trong nước dưới đất với hàm lượng thấp hơn hay ít vượtqua 2 mg / L Việc nước dưới đất chứa sắt hay mangan với hàm lượng lớn hơn0,5 mg / L sẽ làm cho nước có mùi tanh khó chịu, các cặn sắt kết tủa làm giảm khả
Trang 15năng vận chuyển nước của thiết bị Mangan trong nước cao có thể gây ra hậu quả
xấu tới sức khỏe con người, gây ảnh hưởng đến đường hô hấp và não với các triệuchứng như: Ảo giác, hay quên, tổn thương thần kinh, viêm phế quản, tâm thần phânliệt, cơ bắp yếu, mất ngủ và manganism (manganism là một bệnh tương tự nhưparkinson) (Abigail Albright và cộng sự, 2012)
250 mg / L Với hàm lượng sunfat lớn hơn 300 mg / L nước sẽ có tính xâm thựcmạnh với bê tông (TTNSH&VSMT NT Bà Rịa - Vũng Tàu, 2013)
1.1.5.11 Các hợp chất clorua
Clo tồn tại trong nước dưới dạng ion Cl- Ở nồng độ cho phép không gây độchại, ở nồng độ cao (trên 250 mg / L) làm cho nước có vị mặn Các nguồn nước dướiđất có thể có hàm lượng clo lên tới 500 - 1000 mg / L Sử dụng nguồn nước có hàmlượng clo cao có thể gây bệnh thận Nước chứa nhiều đồng thời Cl- với SO42- có tínhxâm thực với bê tông Khi nồng độ Cl- trong nước cao thì giá trị sử dụng của nguồnnước giảm vì hàm lượng Cl- trong nước được coi là một yếu tố quan trọng khi lựachọn nguồn nước cung cấp cho sinh hoạt Nồng độ Cl- được dùng để kiểm soát quátrình khai thác nước dưới đất ở những nơi có hiện tượng xâm thực mặn Các muốiclorua đi vào trong nước với những nguồn khác nhau:
- Từ các thành phần clorua có trong đất
Trang 16- Sự xâm nhập của nước biển vào sâu trong đất liền.
- Phần nước tiểu của người chứa khoảng 6 g NaCl tính trung bình cho mỗingười mỗi ngày Lượng này làm tăng nồng độ Cl- của nước tiếp nhận nước thải côngnghiệp
1.1.5.12 Các hợp chất florua
Nước dưới đất ở các giếng sâu hoặc ở các vùng đất có chứa quặng apatitthường có hàm lượng các hợp chất florua cao (2,0 - 2,5 mg / L) tồn tại ở dạng cơbản là canxi florua và magiê florua
Các hợp chất florua khá bền vững khó bị phân hủy ở quá trình tự làm sạch.Hàm lượng florua trong nước cấp ảnh hưởng đến việc bảo vệ răng Nếu thườngxuyên dùng nước có hàm lượng florua lớn hơn 1,3 mg / L hay nhỏ hơn 0,7 mg / Lđều dễ bị mắc bệnh hoại men răng
1.1.5.13 Các kim loại nặng
Asen (As): Asen là một nguyên tố không màu, không mùi, hình thành tựnhiên trong vỏ trái đất, tồn tại ở dạng hợp chất với một hay một số nguyên tố khácnhư oxy, clo và lưu huỳnh Nguồn gây ô nhiễm asen rất đa dạng gồm: Các quá trình
tự nhiên như phun trào núi lửa, hoạt động magma, nhiệt dịch, phong hóa,… và đặcbiệt là hoạt động nhân sinh như đốt nhiên liệu hóa thạch, luyện kim, khai thác vàchế biến quặng, nhất là quặng sunfua, asenua, sản xuất và sử dụng thuốc trừ sâu,thuốc diệt cỏ, phân hóa học,… Trong môi trường sinh thái, các dạng hợp chất asenhóa trị III có độc tính cao hơn các dạng hóa trị V Môi trường khử là điều kiện thuậnlợi để cho nhiều hợp chất asen hóa trị V chuyển sang asen hóa trị III Khi vào cơ thểvới liều lượng lớn, asen gây tổn thương hệ tiêu hóa, thận, gan, da, niêm mạc và hệthần kinh trung ương (Nguyễn Việt Kỳ, 2009)
Crom (Cr): Trong địa quyển, crom tồn tại chủ yếu ở dạng quặng cromicFeO.Cr2O3 Crom đưa vào nguồn nước tự nhiên do hoạt động nhân tạo và tự nhiên(do phong hóa) Hợp chất Cr+6 là chất oxi hóa mạnh và độc Nồng độ của chúngtrong nguồn nước tự nhiên tương đối thấp vì chúng dễ bị khử bởi các chất hữu cơ
Trang 17Các hợp chất hóa trị Cr+6 của crom dễ gây viêm loét da, xuất hiện mụn cơm, viêmgan, viêm thận, ung thư phổi,…
Thủy ngân (Hg): Thủy ngân là kim loại có thể tạo muối ở dạng ion Thủyngân tồn tại trong nước dưới đất ở dạng vô cơ Thủy ngân trong môi trường nước cóthể hấp thụ vào cơ thể thủy sinh vật, người ăn vào sẽ gây ra ngộ độc Thủy ngân vô
cơ tác dụng chủ yếu đến thận, trong khi đó metyl thủy ngân ảnh hưởng chính đến hệthần kinh trung ương
Chì (Pb): Chì là một trong những kim loại nặng có ảnh hưởng nhiều tới ônhiễm môi trường vì nó tích lũy lâu dài trong cơ thể và gây nhiễm độc tới người,động vật Chì tác động lên hệ thống enzym, nhất là enzym vận chuyển hydro Tùytheo mức độ nhiễm độc có thể gây ra những tai biến như đau bụng, đau khớp, viêmthận, cao huyết áp vĩnh viễn, tai biến não,… nếu bị nặng có thể gây tử vong Cáchoạt động công nghiệp thường phát sinh vào môi trường nước một lượng lớn chì,bao gồm: Luyện kim, sản xuất ắc quy chì, bột màu, sản xuất hóa chất,… (Cynthia
R Evanko, David A Dzombak, 1997)
động vật Trong chất thải người và các loài động vật máu nóng luôn có E coli (Escherichia Coli thuộc nhóm Coliform) sinh sống và phát triển (Trần Linh Thước, 2002) Sự có mặt của E coli trong nước chứng tỏ nguồn nước đã bị nhiễm bẩn bởi rác thải hữu cơ, chất thải của người và động vật Số lượng E coli nhiều hay ít tùy thuộc vào mức độ nhiễm bẩn của nước Đặc tính của E coli là khả năng tồn tại cao
hơn các loài vi sinh vật khác (tăng trưởng ở nhiệt độ trên 44,5 0C), từ đó cho thấy
nếu nguồn nước được xử lý không còn E coli thì coi như cũng không còn các loại
Trang 18vi sinh vật gây bệnh khác Mặc khác, việc xác định số lượng E coli thường đơn
giản và nhanh chóng cho nên loại vi sinh vật này được chọn làm vi sinh vật đặctrưng trong việc xác định mức nhiễm bẩn do vi sinh vật gây bệnh trong nước
1.1.6 Khái niệm chung về trữ lượng nước dưới đất
Trữ lượng nước dưới đất được xác định khi điều tra, đánh giá lập bản đồ tàinguyên nước dưới đất tỷ lệ 1 : 200.000, 1 : 100.000 và 1 : 50.000 bao gồm trữ lượngkhai thác tiềm năng và trữ lượng khai thác dự báo (Nguyễn Văn Đản, 2013)
1.1.6.1 Trữ lượng khai thác tiềm năng
Trữ lượng khai thác tiềm năng là lượng nước dưới đất có thể khai thác được
từ các tầng chứa nước trong một khoảng thời gian nhất định mà không biến đổi vềlưu lượng, chất lượng và tác động không đáng kể đối với môi trường Nó bao gồmcác thành phần trữ lượng động tự nhiên, trữ lượng tĩnh đàn hồi, một phần trữ lượngtĩnh trọng lực, trữ lượng cuốn theo (Nguyễn Văn Đản, 2013)
Trữ lượng động là lượng nước vận động trong tầng chứa nước Trữ lượngđộng tự nhiên là lượng nước vận động do các yếu tố tự nhiên, nó không bao gồmlượng nước được tăng cường vận động khi có sự hạ thấp mực nước ở các công trìnhkhai thác Do nước dưới đất luôn luôn có nguồn cung cấp từ bên ngoài nên tồn tạitrữ lượng động Khi có nước mưa và nước mặt ngấm xuống tạo nên nguồn bổ cấp,nếu nước không có đường thoát, tầng chứa nước không có sự lưu thông thì nguồn
bổ cấp không thể đi vào tầng chứa nước được nữa Do đó để nước lưu thông thìphải có cả nguồn bổ cấp và cả đường thoát Lượng nước lưu thông trong tầng chứanước luôn luôn thay đổi theo thời gian
Trữ lượng tĩnh là lượng nước chứa trong tầng chứa nước trong điều kiện
tự nhiên Trữ lượng tĩnh gồm 2 thành phần: Trữ lượng tĩnh trọng lực và trữ lượngtĩnh đàn hồi
- Trữ lượng tĩnh trọng lực là lượng nước trọng lực chứa trong tầng chứa nướctrong điều kiện tự nhiên
Trang 19- Trữ lượng tĩnh đàn hồi là phần lượng nước chứa trong tầng chứa nước đượcgiải phóng do sự dãn nở thể tích của nước và thu hẹp không gian lỗ hổng của đất đáchứa nước khi giảm áp lực dư (Đặng Hữu Ơn, 2001).
Trữ lượng cuốn theo là lượng nước được lôi cuốn vào do quá trình khaithác gây ra Đây là một điểm rất đặc biệt của nước dưới đất Khi nước dưới đấtđược khai thác, mực nước hay mực áp lực của tầng chứa nước hạ thấp có thể lôicuốn nguồn nước khác vào trong tầng chứa nước và tham gia vào lượng nước khaithác
1.1.6.2 Trữ lượng khai thác dự báo
Trữ lượng khai thác dự báo là lượng nước dưới đất có thể khai thác đượcbằng các công trình bố trí hợp lí về mặt kinh tế - kỹ thuật từ các tầng chứa nướctrong một khoảng thời gian nhất định mà không biến đổi về lưu lượng, chất lượng
và tác động không đáng kể đối với môi trường được xác định nhờ tính toán ở trongphòng làm cơ sở thực hiện thăm dò nước dưới đất (Nguyễn Văn Đản, 2013)
1.1.7 Các phương pháp đánh giá trữ lượng nước dưới đất
Đánh giá trữ lượng khai thác nước dưới đất được tiến hành chủ yếu theo cácphương pháp sau: Phương pháp thủy động lực, phương pháp thủy lực, phương phápcân bằng và phương pháp tương tự địa chất thủy văn
- Bản chất của phương pháp thủy động lực là sử dụng các công thức phù hợpxuất phát từ các phương trình toán lý và thủy động lực cơ bản áp dụng cho một sơ
đồ tính toán mô phỏng điều kiện thực tế Chúng được giải bằng phương pháp giảitích, đồ thị Ưu điểm của phương pháp này là khả năng dự báo theo thời gian sựthay đổi mực nước động trong các lỗ khoan với các chế độ cho trước Nhược điểmcủa phương pháp này là phải trung bình hóa số liệu thu thập được về các tính chấtthấm Trong thời gian khai thác, bỏ qua nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc hình thànhtrữ lượng khai thác vì vậy các số liệu dự báo nhiều khi không sát với thực tế
- Phương pháp thủy lực dựa trên cơ sở sử dụng và ngoại suy các hàm số thựcnghiệm thu được trong quá trình thấm Qua các phương trình thực nghiệm người tathể hiện sự vận động phức tạp của nước dưới đất tác động của nhiều yếu tố quan hệ
Trang 20lưu lượng và hệ số hạ thấp mực nước khi vận động của nước dưới đất đạt trạng thái
ổn định Nhược điểm cơ bản của phương pháp này là không đảm bảo khả năng dựbáo thay đổi mực nước theo thời gian và khả năng phục hồi trữ lượng nước dướiđất
- Phương pháp cân bằng cho phép xác định độ đảm bảo phục hồi trữ lượngkhai thác nước dưới đất dựa trên cơ sở cân bằng nước lãnh thổ nghiên cứu Phươngpháp này có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá trữ lượng khai thác khu vực khi cầnthiết phải đánh giá từng thành phần riêng biệt trong cán cân cân bằng nước
- Cơ sở của phương pháp tương tự địa chất thủy văn là việc chứng minh về
sự tương tự giữa điều kiện tự nhiên và việc sử dụng nước của vùng đã được nghiêncứu kỹ hoặc đang được khai thác nước Nhiệm vụ cơ bản của công tác nghiên cứukhi sử dụng phương pháp tương tự để đánh giá trữ lượng nước dưới đất là việcchứng minh được mức độ tương tự từng phần hoặc hoàn toàn theo các chỉ tiêu sau:Nguồn hình thành nên trữ lượng khai thác, điều kiện tàng trữ nước, cấu trúc địachất, thành phần đất đá chứa nước, điều kiện cấp nước, điều kiện hình thành nguồntrữ lượng tự nhiên và bổ sung nhân tạo trữ lượng nước dưới đất khả năng hình thànhnguồn trữ lượng kéo theo,
Trong thời gian gần đây, với sự phát triển của công nghệ thông tin cùng vớicác tiến bộ về thủy động lực, một xu hướng mới trong việc đánh giá trữ lượng nướcdưới đất là sử dụng các mô hình toán để mô phỏng lại động thái của các thành phầnnước dưới đất, từ đó cho phép tính toán các đặc trưng một cách nhanh chóng vàthuận tiện Có nhiều mô hình đã được xây dựng để mô tả dòng chảy nước dưới đất,
sự tham gia của nước dưới đất vào dòng chảy mặt, ở các trung tâm nghiên cứu lớnnhư Mike SHE của DHI (Đan Mạch), bộ HEC của Cục công binh Hoa Kỳ, Ưuđiểm của phương pháp này là khi đã hiệu chỉnh được bộ thông số thì cho phép tínhtoán mọi đặc trưng một cách thuận tiện, với độ chính xác cao cũng như cho phépnghiên cứu các tác động tiềm năng của việc khai thác, bổ sung đến động thái nướcdưới đất Tuy nhiên, khi xây dựng mô hình sẽ đòi hỏi một khối lượng lớn các sốliệu về các tầng chứa nước, về điều kiện địa chất, địa chất thủy văn trên khu vực
Trang 21nghiên cứu cũng như các số liệu về hệ số thấm, hệ số nhả nước, (Nguyễn ThuHiền, 2009).
1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu quản lý nước dưới đất
1.2.1 Trên thế giới
Với sự ra đời của các giếng khoan đã thúc đẩy sự tăng trưởng nhanh chóngnhu cầu về nước cho nông nghiệp và đô thị Khai thác nước dưới đất toàn cầu trongnhững thập kỷ gần đây đã tăng lên, từ khai thác 100 km3 / năm vào năm 1950, ướctính hiện nay là khoảng 800 km3 / năm Ngày nay, 43% công trình thủy lợi toàn cầucũng như hơn 50% nguồn cung cấp nước uống của thế giới và một phần lớn cáchoạt động công nghiệp toàn cầu phụ thuộc vào nước dưới đất (Marcus Wijnen vàcộng sự, 2012)
Với tầm quan trọng của nước dưới đất, các quốc gia trên thế giới ngày càngquan tâm hơn về việc quản lý hoạt động khai thác sử dụng và bảo vệ tài nguyênnước dưới đất
Canada đã đề ra 5 mục tiêu phát triển bền vững nguồn tài nguyên nước dướiđất (Hình 1.1) như sau:
Bảo vệ nguồn nước dưới đất không cạn kiệt: Quản lý nước dưới đất bềnvững phải tìm cách ngăn chặn liên tục, lâu dài sự suy giảm đáng kể mực nước dướiđất
Bảo vệ chất lượng nước dưới đất bị nhiễm bẩn: Phát triển bền vững đòihỏi chất lượng nước dưới đất không bị ảnh hưởng bởi suy thoái đáng kể của các tácnhân hóa học hoặc sinh học
Trang 22 Bảo vệ sức khỏe của hệ sinh thái: Phát triển bền vững đòi hỏi khai thácnước dưới đất không ảnh hưởng gì đáng kể đến hệ sinh thái.
Việc sử dụng thuật ngữ “đáng kể” trong ba mục tiêu nói trên ngụ ý một kháiniệm về những gì có thể chấp nhận được đối với xã hội trong điều kiện suy thoáicho phép Các cơ chế xã hội quyết định những gì có thể chấp nhận được bao gồmtrong hai mục tiêu sau đây:
Sự quản lý tốt được áp dụng: Phát triển bền vững đòi hỏi phải có nhữngquyết định đúng đắn như việc sử dụng nước dưới đất được thực hiện minh bạchthông qua sự tham gia của cộng đồng và với các thông tin đầy đủ về hệ sinh thái,công bằng giữa các thế hệ
1.2.1.2 Tây Ban Nha
Tây Ban Nha là một nước nằm trên bán đảo Iberia phía Tây Nam Châu Âu.Tại Tây Ban Nha, nước dưới đất cung cấp 20% tổng lượng nước sử dụng cho tướitiêu Trong lịch sử, quyền khai thác nước dưới đất ở Tây Ban Nha đã được gắn liềnvới quyền sở hữu đất đai Luật Nước đầu tiên vào năm 1879 đã đưa ra các quyềnliên quan đến tài nguyên nước dưới đất tới tất cả các chủ sở hữu đất đai Nước dướiđất được xác định là tài nguyên riêng và vẫn nằm ngoài sự kiểm soát của nhà nước
Lần cải cách đầu tiên của Luật tài nguyên nước là vào năm 1985 Luật tàinguyên nước mới định nghĩa lại quyền khai thác nước dưới đất và tuyên bố tất cảcác tầng ngậm nước là tài nguyên chung Nhà nước sẽ điều tiết trữ lượng nước dướiđất và tất cả người dân có thể sử dụng chúng
Tuy nhiên luật chưa thật sự rõ ràng và cụ thể, dẫn đến tình trạng số lượnggiếng khoan càng ngày càng tăng lên chính phủ không thể kiểm soát nổi Số lượnggiếng hiện có mà nhà nước quản lý là khoảng 500 giếng, nhưng theo các nghiên cứucho thấy tối đa 2.000.000 giếng có thể tồn tại ở Tây Ban Nha
Việc khai thác tràn lan khiến mực nước dưới đất giảm đến 1 m trên nămtrong quá khứ ba mươi năm qua Từ những năm 1970 đến những năm 1990, diệntích đất dùng nước dưới đất tưới tiêu tăng từ 34.000 ha lên 130.000 ha Đến năm
1987, diện tích đất tưới tiêu tăng 6,6% trong tổng số bề mặt tưới tiêu ở cấp quốc gia
Trang 23Từ năm 1970 đến năm 1990, khu vực này đã chứng kiến một sự gia tăng gấp mườilần trong diện tích đất được tưới tiêu cho nông nghiệp.
Để khắc phục tình trạng này, một số giải pháp được áp dụng:
- Thực tế chính trị bị phân mảnh của các tổ chức quản lý nước dưới đất ở TâyBan Nha cho thấy sự cần thiết phải xây dựng các quy chế rõ ràng để thúc đẩy sựthống nhất trong quản lý Tuy nhiên, những quy định này phải được đi kèm với cácgiải pháp linh hoạt và thích ứng phù hợp với nhu cầu xã hội, kinh tế và môi trườngkhác nhau bắt nguồn từ việc sử dụng nước dưới đất
- Việc sử dụng công nghệ hiện đại để giám sát và bản đồ trữ lượng nước dướiđất đã được thực hiện
- Cuối cùng, quản lý tài nguyên nước dưới đất ở Tây Ban Nha đã chú ý đếncác giai đoạn chuyển tiếp của chế độ quản lý nước dưới đất Sự chuyển đổi từ quyềnkhai thác tư nhân trong lịch sử sang sự khai thác có quản lý có thể vẫn còn tiềm ẩnxung đột trong một thời gian dài (Marcus Wijnen và cộng sự, 2012)
1.2.1.3 Jordan
Jordan một quốc gia Ả Rập tại Trung Đông trải dài từ phần phía Nam của samạc Syria tới vịnh Aqaba Jordan là một trong những quốc gia khan hiếm về nướcnhất thế giới Để ứng phó với lịch sử khai thác quá mức nước dưới đất ở nhiều quốcgia, một chiến lược quốc gia về nước năm 1997 (được hỗ trợ bởi Ngân hàng Thếgiới) được triển khai tại Jordan Mục tiêu của chiến lược này là làm tăng thêm cáccông cụ quản lý để giúp kiểm soát trữ lượng nước dưới đất Mục đích của chiếnlược là sử dụng tối đa và giảm thiểu lãng phí nguồn nước dưới đất thông qua việcthúc đẩy hiệu quả sử dụng nước và các biện pháp bảo tồn để không những góp phầnphát triển kinh tế xã hội mà còn bảo vệ môi trường Trong chiến lược này, chínhsách giá cả và chuyển hướng sang các cây trồng có giá trị cao được coi là công cụ
hỗ trợ trong việc kiểm soát trữ lượng nước dưới đất Trong những năm 2000, một
hệ thống thuế quan đã được áp dụng và chỉ cho phép khai thác nước dưới đất với trữlượng 150.000 m3 / năm mỗi giếng
Trang 24Một hệ thống chính sách về nước dưới đất được hoàn thiện, nhằm hướng dẫntoàn diện về nhiều vấn đề cần thiết liên quan đến giám sát, khai thác và bảo vệ tàinguyên, phát triển bền vững và kiểm soát chất lượng, phát triển nguồn lực, ưu tiênphân bổ, pháp luật và thể chế, chuyển giao nghiên cứu, phát triển công nghệ; chia sẻnguồn nước dưới đất và nhận thức cộng đồng Một số hoạt động được triển khai baogồm: Điều tra cụ thể vùng nước lợ với mục đích tăng thêm nguồn nước, tổng hợp
dữ liệu khai thác dầu mỏ và khí đốt để hiểu tiềm năng tầng nước sâu, sử dụng côngnghệ tiên tiến (tức là từ xa và tự động hóa), hợp tác với các Bộ Nông nghiệp để điềuchỉnh loại cây trồng hợp lí, nghiên cứu sự phân bổ nước dưới đất ưu tiên cho cáchoạt động nào được coi là có lợi nhuận cao hơn về mặt kinh tế và xã hội, kế hoạchquản lý toàn diện cho mỗi tầng chứa nước, hợp tác với các tổ chức khác có liênquan đến ngành nước; trao đổi dữ liệu khu vực và giáo dục người dân về bảo vệnước dưới đất (Marcus Wijnen và cộng sự, 2012)
Hình 1.1 Mục tiêu phát triển bền vững tài nguyên nước dưới đất Canada
(Nguồn: Báo cáo của Expert Panel về nước dưới đất, 2009)
Thành tựu kinh tế
và phúc lợi xã hội
Bảo vệ nguồn nước dưới đất không cạn kiệt
Bảo vệ chất lượng
nước dưới đất bị
nhiễm bẩn
Quản lý bền vững nước dưới đất
Sự quản lý tốt được áp dụng Bảo vệ sức khỏe
của hệ sinh thái
Trang 251.2.2 Tại Việt Nam
Tài nguyên nước dưới đất tại Việt Nam cũng đã được biết đến và quan tâm
từ rất sớm, được pháp luật quy định cụ thể Trong quy định số 605 - CNNg/QLTN
ngày 13/8/1992 của Bộ công nghiệp nặng quy định về việc bảo vệ tài nguyên nướcdưới đất có các điều khoản quy định bảo vệ tài nguyên nước dưới đất trong điều trađịa chất, trong khi thi công giếng khoan khai thác, trong xây dựng các công trình vàcác hoạt động khác có ảnh hưởng đến nguồn nước dưới đất
Để tài nguyên nước được bảo vệ thật an toàn, Luật Tài nguyên nước đã đượcQuốc hội nước CHXHXNVN khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/5/1998 kèmtheo là Nghị định số 179/1999/ NĐ - CP ngày 30 tháng 12 năm 1999 của Chính phủquy định việc thi hành Luật Tài nguyên nước
Đến năm 2003, tình hình khai thác nước dưới đất, hành nghề khoan nướcdưới đất trên địa bàn thành phố diễn ra hết sức phức tạp, nhất là trong mùa khô: Sốlượng giếng khai thác nước dưới đất gia tăng từ khoảng 200 giếng trước năm 1975lên gần 95.000 giếng vào năm 2000 Nguồn nước dưới đất trên địa bàn thành phốđang phải đối mặt với các vấn đề như nhiễm bẩn và khai thác quá mức dẫn đến hạthấp mực nước dưới đất, gây nguy cơ xâm nhập mặn, cạn kiệt nguồn nước dưới đất
và nguy cơ sụt lún mặt đất, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển bền vững tài nguyênnước dưới đất, đến các hoạt động kinh tế - xã hội, đến đời sống, sinh hoạt của nhândân Vì vậy, quyết định số 05/2003/QĐ - BTNMT ra đời Quyết định số05/2003/QĐ - BTNMT được ban hành ngày 04 tháng 9 năm 2003 của Bộ trưởng BộTài nguyên và Môi trường ban hành quy định về cấp phép thăm dò, khai thác vàhành nghề khoan nước dưới đất và để chấn chỉnh, tăng cường công tác quản lý Nhànước trong lĩnh vực khai thác nước dưới đất và hành nghề khoan nước dưới đất
Ngày 31 tháng 12 năm 2008, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trườngNguyễn Công Thành đã ký Quyết định số 15/2008/QĐ - BTNMT về việc ban hànhQuy định bảo vệ tài nguyên nước dưới đất Quy định này quy định vùng cấm, vùnghạn chế xây dựng mới công trình khai thác nước dưới đất, bảo vệ nước dưới đấttrong các hoạt động khoan, đào, thí nghiệm hiện trường, khai thác nước dưới đất,
Trang 26hoạt động xây dựng, khoáng sản và các hoạt động khác liên quan đến nguồn nướcdưới đất.
Sau mười hai năm thi hành Luật, nhiều quy định của Luật đã được triển khaitrên thực tế và đạt nhiều kết quả khả quan, đặc biệt là đã khai thác, sử dụng tốt hơncác nguồn nước để đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên nước có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào
nề nếp, nhất là từ sau khi thành lập Bộ Tài nguyên và Môi trường: Hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật đã được bổ sung, hoàn thiện thêm một bước để đáp ứng yêu cầucủa công tác quản lý và đòi hỏi từ thực tiễn; công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnhvực tài nguyên nước được tăng cường hơn trước; công tác cấp phép thăm dò, khaithác, sử dụng nước, xả nước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dướiđất cũng được triển khai đồng bộ ở cả trung ương và địa phương,
Tuy nhiên, thực tế thi hành Luật Tài nguyên nước trong thời gian qua chothấy còn một số tồn tại như: Nhiều quy định của Luật Tài nguyên nước không cònphù hợp với thực tế, việc cấp phép về tài nguyên nước chưa có quy định chặt chẽ vềđiều kiện cấp giấy phép, quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được cấp giấyphép về tài nguyên nước,… Vì vậy, Luật tài nguyên nước số 17/2012/QH 13 ra đời.Luật Tài nguyên nước có 79 điều thể hiện trong 10 chương, trong đó có 39 điềuđược bổ sung mới toàn bộ về nội dung và có 40 điều được sửa đổi, bổ sung nộidung So với Luật Tài nguyên nước năm 1998, Luật Tài nguyên nước năm 2012tăng 4 điều
Và còn nhiều văn bản quy phạm pháp luật của các Bộ, Cục, Sở,…ban hành
về việc bảo vệ tài nguyên nước dưới đất
Tại TP HCM nói riêng, các nghiên cứu về nước dưới đất liên tục được thựchiện từ trước những năm 1975 cho đến nay
1.2.2.1 Giai đoạn trước năm 1975
Năm 1936, Brenil và Molleret cho xuất bản “Lịch sử cấp nước Thành phốSài Gòn” Cùng thời gian này có các tác giả Richard, Viclard, Godon, Brashears với
Trang 27những bài viết: “Tiềm năng cung cấp nước Sài Gòn - Chợ Lớn”, “Vấn đề nướcuống, sự kiểm tra các hệ thống phân phối của nước mưa Sài Gòn”.
Năm 1969 - 1975, Nguyễn Đình Viễn, Trịnh Thanh Phúc đã phát hiện nướcngọt vùng rừng sác - duyên hải
Năm 1970, Burgh, Đào Duy, Rassan viết về kết quả khảo sát và bơm hútnước thí nghiệm tại trung tâm huấn luyện Quang Trung - Gò Vấp
Năm 1970 - 1973, cuộc khảo sát nước dưới đất ở Hóc Môn để cung cấp nướccho toàn Thành phố Sài Gòn, do công ty của Nhật tiến hành dưới sự hướng dẫn củatiến sĩ Hyromn Tana
1.2.2.2 Giai đoạn sau năm 1975
Năm 1975, Lê Thạc Xính đã hiệu đính và cho xuất bản tờ bản đồ Địa chấtthủy văn phần miền Nam tỷ lệ 1 : 500.000
Năm 1979, Võ Ngọc Tùng tìm ra 5 vỉa nước ngọt trong thành phố và đã đượckhai thác
Năm 1982, Nguyễn Hoàng Bỉnh và Lê Văn Tốt (sở Thủy lợi) đã báo cáo vềđặc điểm nguồn nước dưới đất khu vực TP HCM; Trần Kim Thạch, Võ Ngọc Tùng
và Đoàn 500 N tham gia nghiên cứu, đánh giá trữ lượng, chất lượng, nguồn cungcấp, hướng vận động và sự phân bố nước dưới đất TP HCM
Năm 1983, Trần Hồng Phú, Đoàn Văn Tín và các chuyên gia Liên Xô đã lậpbản đồ địa chất thủy văn toàn quốc tỷ lệ 1 : 500.000
Năm 1985, Sở Thủy lợi TP HCM đã thành lập báo cáo “Nghiên cứu dự báotrữ lượng nước dưới đất phục vụ nông nghiệp tại TP HCM” Công trình này chủyếu đánh giá tầng chứa nước Pleistocen
Từ năm 1983 - 1992, Bùi Thế Định và các tác giả khác của Liên đoàn 8 đãhoàn thành tờ bản đồ địa chất thủy văn Nam Bộ tỷ lệ 1 : 200.000
Năm 1988, Vũ Văn Nghi đã thành lập báo cáo “Tính trữ lượng khai thácnước dưới đất nhà máy nước Hóc Môn TP HCM”
Năm 1991, Liên đoàn 8 tiếp tục hoàn thành báo cáo kết quả thăm dò sơ bộvùng Củ Chi - Hóc Môn do Nguyễn Quốc Dũng làm chủ biên
Trang 28Năm 1994, Vũ Văn Nghi chủ biên thành lập báo cáo “Tính trữ lượng nguồnnước dưới đất cho nhà máy nước Bình Chánh TP HCM”.
Năm 1995, Vũ Văn Nghi đã thành lập báo cáo “Tổng hợp đánh giá tàinguyên nước dưới đất vùng TP HCM”
Năm 1997, Liên đoàn 8 đã hoàn thành báo cáo “Điều tra địa chất đô thị
TP HCM” do Trần Hồng Phú làm chủ biên
Năm 2003, Nguyễn Việt Kỳ và Tô Văn Nhụ đã báo cáo về bổ cấp nhân tạocho nước dưới đất, một yêu cầu bức bách của TP HCM trong tạp chí phát triểnkhoa học công nghệ ĐHQG TP HCM
Năm 2005, Nguyễn Văn Ngà báo cáo về nước dưới đất Thành phố Hồ Chí
Minh và định hướng khai thác sử dụng trong hội thảo quốc gia Phát triển bền vững
thành phố xanh trên lưu vực sông
Năm 2007, Thềm Quốc Tuấn, Huỳnh Ngọc Sang, Trần Lê Thế Diễn tìm hiểu
cơ chế gây lún mặt đất do khai thác nước dưới đất ở khu công nghiệp Hiệp BìnhPhước quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh đăng trên tạp chí phát triển Khoahọc và Công nghệ tập 10, số 6
Trang 29Chương 2 NỘI DUNG
2.1 Tổng quan Luật tài nguyên nước 2012
Luật Tài nguyên nước năm 1998 được Quốc hội khoá X thông qua ngày 20tháng 5 năm 1998 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 1999 Luật có 8chương và gồm 75 điều Đây là văn bản pháp luật cao nhất về quản lý tài nguyênnước, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong công tác quản lý tài nguyên nước ởnước ta Luật đã thể chế hoá quan điểm, đường lối của Đảng, chiến lược phát triểnđất nước có liên quan đến tài nguyên nước Luật ra đời đã góp phần tăng cường hiệulực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
và cá nhân trong bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắcphục hậu quả tác hại do nước gây ra
Sau 12 năm thi hành Luật cho thấy, về cơ bản các chính sách lớn của Đảng,Nhà nước đối với tài nguyên nước trong thời gian đã được thể chế hoá trong Luật vàcác văn bản hướng dẫn thi hành Nhiều quy định của Luật đã được triển khai trênthực tế, đem lại những kết quả tích cực, đặc biệt là đã khai thác, sử dụng tốt hơn cácnguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Công tác quản lý nhà nước về tàinguyên nước đã có nhiều tiến bộ và từng bước đi vào nề nếp; hệ thống chính sách,pháp luật từng bước được hoàn thiện; ý thức của người dân trong khai thác, sử dụng
và bảo vệ tài nguyên nước đã được nâng cao
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, qua mười hai năm thực hiện, LuậtTài nguyên nước đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập Trong khi Luật Doanh nghiệp,Luật Đầu tư, Luật Bảo vệ môi trường, Luật Đất đai, Luật Đa dạng sinh học, LuậtThuế tài nguyên… đã được sửa đổi hoặc ban hành mới thì Luật Tài nguyên nướcnăm 1998 vẫn chưa được điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới Nhiềuchế định pháp lý của Luật Tài nguyên nước không còn phù hợp với thực tế; một số
Trang 30quan hệ mới trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước phát sinh trong thực tiễn cầnđược điều chỉnh; một số chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước trongquản lý tài nguyên nước thời gian gần đây mới chỉ thể hiện trong các văn bản dướiluật, giá trị pháp
Luật Tài nguyên nước số 17/2012/QH13 đã được Quốc hội nướcCHXHCNVN khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21/6/2012 Từ ngày 1-1-
2013, Luật Tài nguyên nước (sửa đổi) sẽ có hiệu lực thi hành, gồm 10 chương và 79điều So với Luật Tài nguyên nước năm 1998, Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã
bổ sung 39 điều mới hoàn toàn về nội dung và sửa đổi, bổ sung 40 điều Những nộidung mới của Luật được thể hiện ở những chương sau đây:
Về Chương I Những quy định chung
Điểm mới trong Luật là bổ quy định để làm rõ tài nguyên nước không chỉ cónước mà còn bao gồm cả sông, suối, hồ chứa, để tránh bỏ sót đối tượng quản lý;quy định một số dự án liên quan đến khai thác nước, xả nước thải vào nguồn nướcphải lấy ý kiến của cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng của dự án và tổ chức, cá nhânliên quan nhằm đề cao trách nhiệm, minh bạch thông tin về những tác động tiêu cực
có thể gây ra ngay từ khi chuẩn bị thực hiện dự án; bổ sung quy định phân loại lưuvực sông, nguồn nước làm căn cứ phân công, phân cấp quản lý và bổ sung quy định
về phổ biến, giáo dục pháp luật Cụ thể như sau
- Đã bổ sung và chỉnh sửa một số giải thích từ ngữ tại Điều 2 nhằm thống nhấttrong việc thi hành Luật như: "nguồn nước liên tỉnh", "nguồn nước nội tỉnh",
“nguồn nước liên quốc gia”, "lưu vực sông liên tỉnh", "lưu vực sông nội tỉnh" đểphân biệt rõ các lưu vực sông và các nguồn nước trong từng lưu vực sông; giải thíchtách biệt hai thuật ngữ "suy thoái nguồn nước", "cạn kiệt nguồn nước" để phân biệt
sự suy giảm về chất lượng nước với sự suy giảm về số lượng nước, bổ sung cácthuật ngữ: “dòng chảy tối thiểu ”, “ngưỡng khai thác nước dưới đất”, “chức năngcủa nguồn nước” v.v
- Các nguyên tắc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng,chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra tại Điều 3 được bổ sung và