1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề 4: XÂY DỰNG ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986NAY)

35 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây Dựng Đảng Thời Kỳ Đổi Mới (1986-Nay)
Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 197 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về kiến thức: chuyên đề nhằm cung cấp cho học viên những kiến thức về công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay. Về kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức được trang bị, học viên rút ra được những vấn đề cần thiết để giải quyết những vấn đề đặt ra trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. Về tư tưởng: Củng cố niềm tin đối với Đảng, khơi dậy niềm say mê nghiên cứu khoa học, quán triệt sâu sắc các vấn đề cơ bản lịch sử xây dựng Đảng trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam.

Trang 1

Chuyên đề 4 XÂY DỰNG ĐẢNG THỜI KỲ ĐỔI MỚI (1986-NAY)

MỤC TIÊU

- Về kiến thức: chuyên đề nhằm cung cấp cho học viên những kiến

thức về công tác xây dựng Đảng trong thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay

- Về kỹ năng: Trên cơ sở kiến thức được trang bị, học viên rút ra được

những vấn đề cần thiết để giải quyết những vấn đề đặt ra trong công tác xâydựng Đảng hiện nay

- Về tư tưởng: Củng cố niềm tin đối với Đảng, khơi dậy niềm say mê

nghiên cứu khoa học, quán triệt sâu sắc các vấn đề cơ bản lịch sử xây dựngĐảng trong nghiên cứu và giảng dạy Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

tế của Việt Nam với khối các nước này bị thu hẹp

Trang 2

Trong lúc này, các nước XHCN cũng đã bắt đầu bộc ngày càng rõnhững hạn chế, bất cập trong xây dựng CNXH; bộc lộ những khó khăn,khủng hoảng trong đời sống xã hội của mình Các nước XHCN bắt đầu khởiđộng quá trình cải cách, mở cửa, đổi mới, nhằm tìm ra con đường thích hợp

để phát triển kinh tế- xã hội Trong quá trình đó, ở Liên Xô và các nước

XHCN Đông Âu có những biến động phức tạp, gây ra nhiều khó khăn, bất lợicho cách mạng Việt Nam Công cuộc cải tổ của Liên Xô không những khôngkhắc phục được những sai lầm, hạn chế của quá trình xây dựng CNXH trướcđây, mà còn đẩy đất nước lún sâu vào khung hoảng kinh tế, chính trị

Trên thế giới, sự phát triển khoa học – kỹ thuật và công nghệ đang diễn

ra như vũ bão Các nước đều coi trọng sự phát triển kinh tế, coi đây là mộttrong những thế mạnh quan trọng của đất nước Phát triển kinh tế trong thời

kỳ mới không chỉ dựa vào tài nguyên, nguồn vốn và sức lao động, mà cần dựavào các thành tựu của khoa học kỹ thuật và công nghệ

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng

Tình hình trên vừa tạo ra những thuận lợi, song cũng không tránh khỏinhiều thách thức khó khăn đối với sự phát triển của đất nước Mục tiêu bất biếncủa cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là xây dựng thành công CNXH và bảo vệvững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN Như vậy, một yêu cầu khách quan có tínhsống còn được đặt ra đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam là phải có nhữngbước đi đột phát, xoay chuyển được tình thế, nhanh chóng đưa đất nước khỏikhủng hoảng kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị Đạt mục tiêu này chính

là tạo ra sự chuyển biến có ý nghĩa quyết định trên con đường đi lên CNXH, tìm

ra cách thức, bước đi thích hợp xây dựng CNXH, vừa phù hợp với điều kiệnthực tiễn Việt Nam, vừa phù hợp với xu thế chung của thời đại, kiên định mụcđích mà toàn Đảng, toàn dân tộc đang theo đuổi Đây là nhiệm vụ, trách nhiệmnặng nề; nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện được khi công tác xây dựng Đảngvới tư cách là Đảng cầm quyền tiếp tục phải được đẩy mạnh, có những nhậnthức và chủ trương, biện pháp mới, nhằm nâng cao năng lực, sức chiến đấu củaĐảng, làm cho Đảng thực sự vững mạnh, đáp ứng được nhiệm vụ to lớn, khókhăn trong bước ngoặt lịch sử

Trang 3

2 Chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng

a Về tư tưởng

Bước vào thời kỳ mới, các Đại hội Đảng (từ Đại hội VI đến Đại hội X)đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới, nâng cao chất lượng côngtác tư tưởng Trọng tâm của công tác tư tưởng thời kỳ này là đổi mới tư duy

và nâng cao tinh thần yêu nước và yêu CNXH, khơi dậy ý chí cách mạng củacán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên

và nhân dân ta những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, những giátrị tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lốicủa Đảng, để mọi người kiên định con đường đi lên CNXH, đấu tranh chốngcác quan điểm sai trái, các biểu hiện dao động, hoài nghi, phủ định thành quảcách mạng; trong đó đổi mới tư duy được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu.Đại hội VI của Đảng chỉ rõ: Muốn đổi mới tư duy, Đảng ta phải nắm vững bảnchất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin, kế thừa di sản quýbáu về tư tưởng và lý luận cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của các đồngchí lãnh đạo khác của Đảng, tiếp thu những thành tựu lý luận, những kinhnghiệm mới phong phú của các đảng anh em, những kiến thức khoa học củathời đại; đồng thời, phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận Để hoàn thànhnhiệm vụ đó, cần phải:

- Tổ chức tốt công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tạo cơ

sở khoa học cho đổi mới tư duy, nâng cao năng lực vận dụng chủ nghĩa Mác –Lênin vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, góp phần phát triển chủ nghĩa Mác –Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là nhiệm vụ trọng yếu của công tác

tư tưởng - Toàn Đảng nghiêm túc học tập chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh; thường xuyên bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên đườnglối, chủ trương của Đảng, các vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh; kiên quyết đấu tranh bảo vệ đường lối, quan điểm củaĐảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, uốn nắn những nhậnthức lệch lạc, những quan điểm mơ hồ, những biểu hiện dao động về tư tưởngtrong cán bộ, đảng viên

- Hướng công tác lý luận vào những vấn đề do cuộc sống đặt ra, làm rõcăn cứ khoa học của các giải pháp, dự báo các xu hướng phát triển, góp phân

Trang 4

bổ sung, hoàn thiện đường lối của Đảng; tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề vềCNXH và con đường đi lên CNXH của nước ta; làm rõ cơ sở lý luận và thựctiễn đường lối, chính sách của Đảng trong thời kỳ mới.

- Mọi cán bộ, đảng viên, trước hết là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, phải

có kế hoạch thường xuyên học tâp, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiếnthức và năng lực hoạt động thực tiễn

- Tiếp tục đưa việc tự phê bình và phê bình trong các cấp uỷ và tổchức đảng từ Trung ương đến cơ sở thành nền nếp thường xuyên và theođịnh kỳ; đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, làm trongsạch đội ngũ đảng viên; thi hành kỷ luật nghiêm khắc mọi vi phạm vềnguyên tắc, nhất là đối với những vấn đề về quan điểm, đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng

- Đổi mới công tác giáo dục lý luận chính trị, tư tưởng trong Đảng vềnội dung và hình thức, tổ chức và phương pháp, con người và phương tiện;cần đào tạo, bồi dưỡng và đổi mới đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng;tuyển lựa những cán bộ đã trải qua công tác thực tiễn bổ sung cho đội ngũ cán

bộ làm công tác tuyên truyền, giáo dục; củng cố, nâng cao chất lượng các cơquan chuyên ngành về công tác tư tưởng, lý luận;

Với những định hướng lớn trong công tác tư tưởng được các kỳ Đại hộiĐảng xác định, suốt thời kỳ đổi mới, công tác tư tưởng được triển khai mạnh

mẽ Đặc biệt là trong tình hình thế giới và trong nước có những thay đổi tolớn: Ở Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu trong công cuộc cải cách, cải tổ

đã chấp nhận đa nguyên, đa đảng Ở một số nước xuất hiện vấn đề xét lại chủnghĩa Mác-Lênin Còn ở Trung Quốc, cải cách, mở cửa một mặt chưa thuđược kết quả rõ nét; mặt khác lại xảy ra “sự kiện Thượng Hải 1986”, “Thiên

An Môn 1989” Những khó khăn đó đẩy công cuộc xây dựng CNXH củaTrung Quốc đứng trước những thách thức nặng nề Trong khi đó, chủ nghĩa

đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đang thực hiện chiến lược “diễnbiến hòa bình”, tấn công các nước XHCN Tình hình nêu trên đã đặt công tác

tư tưởng, lý luận của Đảng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng và nhiệm vụchính trị hết sức nặng nề

Trang 5

Đại hội VI của Đảng chỉ rõ cần phải đổi mới tư duy, bắt đầu từ tư duykinh tế Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 khóa VI (3-1989) đã cụthể hóa đường lối công tác tư tưởng của Đại hội VI, đưa Nghị quyết Đại hội

VI đi vào cuộc sống

Sau Hội nghị Trung ương lần 6 khóa VI, công tác tư tưởng – lý luậncủa Đảng được đẩy mạnh Công tác tư tưởng sau Đại hội VI của Đảng đã gópphần tích cực kích thích sự đổi mới tư duy và khơi dậy tinh thần dân chủ trongĐảng và trong xã hội Nghị quyết Đại hội VI, các Nghị quyết của các Hội nghịBCH Trung ương khóa VI bằng nhiều kênh tuyên truyền đến với người dân kịpthời, làm thay đổi tư duy và hành động của mỗi người và các tổ chức trong hệthống chính trị

Cùng với kinh tế, văn hóa, xã hội, công tác tư tưởng góp phần to lớntrong việc biến mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội VI trở thành hiện thực Nhữngthách thức của công cuộc đổi mới từng bước bị đẩy lùi Tư tưởng đa nguyên,

đa đảng bị đập tan Chủ nghĩa xét lại không có cơ hội sinh sôi, nảy nở ở ViệtNam Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trở thành một khối thống nhất, quyếttâm đổi mới đất nước để đi lên CNXH Niềm tin của các tầng lớp nhân dânvào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ngày càng được củng cố

Đại hội VII (1991) của Đảng đã khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minhcùng với chủ nghĩa Mác – Lênin là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam chohành động của Đảng Đây là một dấu mốc quan trọng, có ý nghĩa to lớn tronglịch sử tư tưởng của Đảng và trong công tác xây dựng Đảng CSVN

Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả vận dụng và phát triển sáng tạo chủnghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam, trở thành một tài sảntinh thần quý báu của Đảng và của cả dân tộc Việc xác lập tư tưởng Hồ ChíMinh đã thúc đẩy mạnh mẽ tư duy sáng tạo trong quá trình xây dựng CNXHphù hợp với điều kiện, đặc điểm Việt Nam Đã có rất nhiều công trình nghiêncứu tư tưởng Hồ Chí Minh một cách toàn diện: Tư tưởng giải phóng dân tộc,giải phóng xã hội, giải phóng con người; tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền vớiCNXH; tư tưởng nhân văn…Việc công bố các công trình nghiên cứu này, cáchoạt động thiết thực kỷ niệm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, các sinh hoạt

Trang 6

giáo dục truyền thống cách mạng đã góp phần làm cho cán bộ, đảng viêntăng thêm tinh thần và ý chí cách mạng

Cùng với nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, ở mỗi bước ngoặt củacách mạng, hoặc khi tình hình thực tiễn diễn biến phức tạp, Đảng kịp thời cóđịnh hướng tư tưởng: Kết luận ba quan điểm của Bộ Chính trị về kinh tếtrước Đại hội VI, Nghị quyết Trung ương 6,7,8 (khóa VI), kết luận của BộChính trị (khóa VII) về sự kiện Liên Xô tan vỡ, việc xử lý kịp thời một sốtrường hợp dao động về chính trị, các nghị quyết Trung ương và Nghị quyết

09 của Bộ Chính trị (khóa VII) là những định hướng quan trọng cho côngtác tư tưởng

Từ Đại hội VIII (1996) đến Đại hội X (2006), Đảng đã coi trọng vàđẩy mạnh một bước công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, làmsáng tỏ hơn một số vấn đề lý luận do thực tiễn công cuộc đổi mới đặt ra.Công tác tư tưởng đã khẳng định định hướng chung của Đảng là kiên trì đổimới theo định hướng XHCN, xác định phát triển kinh tế là trung tâm, xâydựng Đảng là then chốt; khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng HồChí Minh, khẳng định con đường XHCN của sự phát triển đất nước, khẳngđịnh vai trò lãnh đạo của Đảng, đấu tranh với khuynh hướng “đa nguyên, đađảng”, đấu tranh với âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, đề cao cảnhgiác cách mạng, khắc phục tư tưởng bảo thủ, cũng như buông lỏng quản lý,

đi chệch hướng XHCN

Công tác tư tưởng đã góp phần đổi mới tư duy, định hướng tư tưởng,bồi dưỡng những nhận thức đúng đắn cho đảng viên và nhân dân, tạo ra sựnhất trí đối với đường lối, quan điểm của Đảng Đã chú ý mở rộng thông tin,thông tin nhiều chiều, tuyên truyền những nhân tố mới, phổ biến những kinhnghiệm tốt, đồng thời tích cực đấu tranh chống tiêu cực, chống những quanđiểm và nhận thức sai trái, bảo vệ quan điểm đúng đắn của Đảng

Đảng đã từng bước đổi mới công tác giáo dục tư tưởng chính trị,nghiên cứu, học tập các nghị quyết của Đảng, tuyên truyền, giáo dục chủnghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh Coi trọng hơn công tác tuyêntruyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước,

Trang 7

nêu gương người tố,t việc tốt, phê phán những biểu hiện của chủ nghĩa cánhân, tư tưởng cơ hội, lối sống thực dụng Công tác giáo dục truyền thốngcách mạng, nâng cao ý thức tự lực tự cường, lòng tự hào và tự tin dân tộc,tinh thần cần kiệm xây dựng đất nước được triển khai sâu rộng Từ đó, đã gópphần nâng cao nhận thức, tính tích cực của cán bộ, đảng viên, nâng cao lòngtin của nhân dân vào đường lối đổi mới, tạo sự nhất trí trong Đảng và sự đồngthuận trong xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, giữ vững ổn địnhchính trị – xã hội.

Công tác tư tưởng đã tìm ra bước đi thích hợp để đạt đạt hiệu quả cao:Thông qua các cuộc vận động thực tiễn đúng hướng, phù hợp lợi ích và nguyện

vọng của đông đảo người lao động và các tầng lớp nhân dân như “Xóa đói, giảm nghèo”, “Ngôi nhà tình nghĩa”, việc thành lập các quỹ khuyến thiện, khuyến tài, khuyến học, khuyến nông, phong tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng”, gặp mặt thế hệ “Ba sẵn sàng”, các cuộc hành hương “Về nguồn”, “Đi tìm những địa chỉ đỏ” và tổ chức tốt những ngày kỷ niệm lớn Nhờ đó, có tác dụng giáo

tư tưởng muốn phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, lái đất nước đi chệch conđường XHCN

Những khuynh hướng đòi “dân chủ, công khai” một cách cực đoan,khuynh hướng phủ nhận quá khứ, bôi đen hiện thực, khuynh hướng muốnchuyển nhanh nhất loạt sang cơ chế thị trường tự do, muốn tư nhân hóa hoàntoàn, “thương mại hóa” báo chí, xuất bản đã được ngăn chặn, chủ yếu làthông qua sự uốn nắn kịp thời và các định hướng được vạch ra trong các nghịquyết, chỉ thị của BCH Trung ương Bộ Chính trị và Ban Bí thư Đã diễn racuộc đấu tranh tư tưởng sâu rộng để giữ vững định hướng XHCN Nhữngthành công trong thực tiễn đổi mới là cơ sở và nguồn sức mạnh quan trọng

Trang 8

cho công tác tư tưởng và làm tăng thêm khả năng thống nhất tư tưởng trong Đảng,trong nhân dân.

b Về chính trị

Các Đại hội của Đảng thời kỳ đổi mới đã nêu cao ý chí sắt đá của toànĐảng, toàn dân, toàn quân ta, năng động và sáng tạo, nắm bắt thời cơ, vượt quathách thức, quyết tâm đổi mới toàn diện và mạnh mẽ theo con đường XHCN Đó

là định hướng căn bản trong xây dựng Đảng về chính trị thời kỳ này Thực hiệnđịnh hướng đó, các đại hội, hội nghị Trung ương Đảng đã tập trung nỗ lực đểhoạch định đường lối chính trị đúng đắn, chỉ đạo đưa đường lối đó vào trongcuộc sống

Đại hội VI (1986) của Đảng đã đưa ra đường lối đổi mới, với trọng tâmđổi mới đặt vào đổi mới kinh tế và nêu cao nhiệm vụ chăm lo, xây dựng Đảngngang tầm với nhiệm vụ của một Đảng cầm quyền Với tư tưởng cốt lõi củađổi mới kinh tế là phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng

cố quan hệ sản xuất XHCN, Đại hội đưa ra hệ thống các giải pháp để thựchiện mục tiêu trên các phương diện chính: Bố trí lại cơ cấu sản xuất, điềuchỉnh cơ cấu đầu tư, đổi mới cơ chế quản lý kinh; phát huy vai trò của khoahọc- kỹ thuật và kinh tế đối ngoại Trong hệ thống các giải pháp, Đại hội nhấnmạnh phải tập trung sức lực vào việc thực hiện được ba chương trình, mụctiêu: Lương thực, thực phẩm; hàng tiêu dùng; hàng xuất khẩu Đại hội VI củaĐảng đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội, thể hiện quanđiểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đườngthích hợp đi lên CNXH ở Việt Nam; đánh dấu một bước ngoặt trong sựnghiệp quá độ lên CNXH và mở ra thời kỳ phát triển mới cho cách mạng ViệtNam Tuy nhiên, Đại hội VI còn có những hạn chế về giải pháp tháo gỡ tìnhtrạng rối ren trong phân phối, lưu thông

Sau Đại hội VI, Đảng và Nhà nước ra sức khắc phục khó khăn, giữvững ổn định chính trị, giải quyết những vấn đề kinh tế – xã hội cấp bách,từng bước đưa Nghị quyết Đại hội VI vào cuộc sống Các hội nghị BCHTrung ương khoá VI đã tập trung bàn và quyết định những chủ trương, bước điquan trọng của sự nghiệp đổi mới

Trang 9

Hội nghị lần thứ 2 (4-1987) bàn vấn đề cấp bách về lưu thông, phânphối Đây là lần đầu tiên Đảng ra một nghị quyết riêng về vấn đề phân phốilưu thông, nêu rõ từ quan điểm, chủ trương tới các biện pháp cụ thể nhằm xoá

bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Đó là sự chuyển hướng quan trọng trongnhận thức về tư duy kinh tế Hội nghị lần thứ 3 (8-1987) bàn về chuyển hoạtđộng của các đơn vị quốc doanh sang kinh doanh XHCN, đổi mới cơ chếquản lý nhà nước về kinh tế Hội nghị lần thứ 4 (12-1987) bàn về phươnghướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội ba năm 1988-1990 Ngày 5- 4-

1988, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10/NQ-TW về đổi mới cơ chế quản lý kinh

tế nông nghiệp Nghị quyết 10 (Khoán 10) đề ra cơ chế khoán mới Nhà nướccông nhận sự tồn tại lâu dài của các thành phần kinh tế cá thể, bình đẳng vềquyền lợi, nghĩa vụ trước pháp luật Hội nghị lần thứ 5 (6-1988) bàn về côngtác xây dựng Đảng, đặc biệt là phải đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mớiđội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo, mở rộng dân chủ đi đôi vớităng cường kỷ luật trong Đảng Hội nghị lần thứ 6 (3-1989) kiểm điểm 2 nămthực hiện Nghị quyết Đại hội VI, đề ra phương hướng, nhiệm vụ 3 năm tới.Hội nghị đã quyết định 12 chủ trương, chính sách lớn đẩy mạnh công cuộcđổi mới và đề ra những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo công cuộc đổi mới Hội nghị

lần thứ 8 (3-1990) ra Nghị quyết “Về tình hình các nước XHCN, sự phá hoại của CNĐQ và nhiệm vụ cấp bách của Đảng ta” (Nghị quyết 8A) và Nghị quyết “Về tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đẩy mạnh công cuộc đổi mới” (Nghị quyết 8B).

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (6-1991) diễn ratrongbối cảnh thế giới và trong nước hết sức phức tạp Trong tình hình ấy, Đạihội đã kiên định con đường đi lên CNXH, thông qua nhiều văn kiện quan

trọng, trong đó có Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH Cương lĩnh đã chỉ ramục tiêu tổng quát phải đạt tới khi kết thúc thời kỳ

quá độ là xây dựng xong về cơ bản những cơ sở kinh tế của CNXH, với kiếntrúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng và văn hoá phù hợp, làm cho nước tatrở thành một nước XHCN phồn vinh Đây là quá trình lâu dài, trải qua nhiềuchặng đường Mục tiêu của chặng đường đầu là thông qua đổi mới toàn diện,

Trang 10

xã hội đạt tới trạng thái ổn định vững chắc, tạo thế phát triển nhanh ở chặngsau Đại hội VII đã hoạch định con đường đi lên CNXH phù hợp với điềukiện nước ta và đề ra những giải pháp đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh

tế – xã hội; kiên trì con đường XHCN gắn liền với sự phát triển sáng tạo lýluận, quyết tâm thúc đẩy công cuộc đổi mới tiến lên

Triển khai Nghị quyết Đại hội VII, các Hội nghị Trung ương khóa VII

đã tập trung vào các vấn đề cấp bách liên quan tới kinh tế, chính trị, văn

hóa-xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại

Hội nghị lần thứ 2 BCH Trung ương khoá VII (11-1991) đưa ra nghị quyết

về nhiệm vụ và giải pháp ổn định, phát triển kinh tế - xã hội những năm 1995; nêu lên quan điểm, phương hướng sửa đổi Hiến pháp và cải cách mộtbước bộ máy nhà nước Hội nghị lần thứ 3 (6-1992) đã quyết định ba vấn đềquan trọng: Tình hình thế giới và chính sách đối ngoại; củng cố quốc phòng

1992-và giữ vững an ninh quốc gia; đổi mới 1992-và chỉnh đốn Đảng Hội nghị lần thứ 5(6-1993) bàn về nông nghiệp, nông thôn, chủ trương tiếp tục đổi mới và pháttriển kinh tế – xã hội nông thôn, gắn liền với cải tạo một bước cơ bản đờisống vật chất, văn hoá của nông dân Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm

kỳ khoá VII (1-1994) đề ra những nhiệm vụ quan trọng để đẩy mạnh sựnghiệp đổi mới, trong đó chú trọng thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tếtheo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Hội nghị lần thứ 7 (7-1994) đề rachủ trương phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướngCNH, HĐH và nhiệm vụ xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới.Hội nghị lần thứ 8 (1-1995) ra nghị quyết về tiếp tục xây dựng và hoàn thiệnNhà nước CHXHCNVN, nhấn mạnh trọng tâm cải cách một bước nền hànhchính Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp 1992

Đại hội VIII (1986) chủ yếu bàn về vấn đề CNH, HĐH đất nước Đại hội

đã xác định mục tiêu của CNH, HĐH và quan điểm chỉ đạo CNH, HĐH.Điểmmới ở đây là quan điểm chỉ đạo của Đảng về tiến hành CNH, HĐH là gắn liềncông nghiệp hoá với hiện đại hoá và với khoa học- công nghệ, thực hiện trong

cơ chế thị trường, là sự nghiệp của toàn dân với sự tham gia tích cực của cácthành phần kinh tế và luôn được điều chỉnh phù hợp với xu thế chung

Trang 11

Các Hội nghị Trung ương khóa VIII đặt trọng tâm vào việc giải quyết cácvấn đề mà công cuộc CNH, HĐH đặt ra:

Hội nghị lần thứ 2 (12-1996) đã quyết định những vấn đề quan trọng

về phát triển giáo dục- đào tạo; phát triển khoa học và công nghệ, thực sự coigiáo dục- đào tạo là quyết sách hàng đầu và nhấn mạnh cần tăng cường sựlãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ Hội nghị lần thứ 3 (6-1997) chủ trương phát huy hơn nữa quyền làm chủ của nhân dân, mở rộngdân chủ XHCN, xây dựng nhà nước trong sạch, vững mạnh, đồng thời có nghịquyết về chính sách cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH Hội nghị lần thứ 4 (12-1997) xác định những chủ trương và giải pháp lớn để thúc đẩy sự chuyển dịch

cơ cấu kinh tế và điều chỉnh cơ cấu đầu tư; phát triển nông nghiệp, nông thôntheo hướng CNH, HĐH; đẩy mạnh đổi mới, phát triển và quản lý có hiệu quảcác loại hình doanh nghiệp; đổi mới và lành mạnh hoá hệ thống tài chính –tiền tệ… Hội nghị lần thứ 5 (7-1998) bàn về văn hoá, xây dựng và phát triểnnền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Hội nghị lần thứ 6(lần 2- khoá VIII) nhấn mạnh tầm quan trọng phải chú trọng công tác xâydựng Đảng Hội nghị lần thứ 7 (8-1999) bàn về vấn đề thực hiện cải cách bộmáy của hệ thống chính trị với nhiệm vụ là tập trung củng cố, chỉnh đốn nội

bộ từng tổ chức và các mối quan hệ trong toàn bộ hệ thống chính trị, để bảođảm cho bộ máy của hệ thống chính trị vận hành thông suốt, năng động, khắcphục tình trạng phiền hà, tiêu cực, yếu kém

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) củaĐảng các định conđường đi lên CNXH ở nước ta sáng rõ hơn, đưa ra mô hình kinh tế tổng quátsuốt thời kỳ quá độ - mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN Đại hội IX

đã bổ sung, phát triển thêm những quan điểm của Đảng về CNXH và conđường đi lên CNXH ở Việt Nam Đây là đại hội đánh dấu thời kỳ phát triển mớicủa cách mạng Việt Nam – thời kỳ tiếp tục đổi mới, thực hiện mục tiêu CNH,HĐH, xây dựng đất nước giầu mạnh tiến lên CNXH

Sau Đại hội IX, Hội nghị lần thứ 3 BCH Trung ương Đảng (9-2001)bàn về nhiệm vụ tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quảcủa doanh nghiệp nhà nước Hội nghị khẳng định kinh tế nhà nước phải giữ

Trang 12

vai trò chủ đạo và phải đổi mới, phát triển hơn nữa để nâng cao hiệu quả vàgiữ vai trò then chốt trong nền kinh tế của Nhà nước Hội nghị lần thứ 4 (11-2001) bàn về phương hướng chỉ đạo sửa đổi, bổ sung một số điểm của Hiếnpháp 1992 và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm (2001-2005) Hộinghị lần thứ 5 (2-2002) đã về vấn đề đẩy nhanh CNH, HĐH nông nghiệp,nông thôn thời kỳ 2001-2010, đồng thời đề ra biện pháp để đổi mới và nângcao hiệu quả kinh tế tập thể và khuyến khích, tạo điều kiện phát triển kinh tế

tư nhân Hội nghị lần thứ 6 (7-2002) bàn về vấn đề tiếp tục thực hiện pháttriển giáo dục- đào tạo, khoa học, công nghệ đến năm 2005 và 2010 Hội nghịcũng bàn và kết luận về việc tiếp tục thực hiện công tác tổ chức và cán bộ Hộinghị lần thứ 7 (3-2003) bàn về vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc;

về công tác dân tộc, thế giới; về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đấtđai trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước Hội nghị lần thứ 8 (7-2003)

ra Nghị quyết về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đồng thờivạch ra phương châm thực hiện Hội nghị lần thứ 9 (1-2004) kiểm điểm nửanhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội IX của Đảng và đề ra những giải pháp

để tiếp tục thực hiện nghị quyết của Đại hội trong thời gian tới

Đại hội lần thứ X của Đảng có chủ đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo vàsức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diệncông cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển Đại hộilần thứ X đánh dấu một bước trưởng thành mới của Đảng, mở ra một giai đoạnphát triển mạnh mẽ và đi vào chiều sâu của công cuộc đổi mới, đẩy mạnh CNH,HĐH đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xây dựng công bằng, dân chủ,văn minh

Điều lệ Đảng do Đại hội X thông qua có cách diễn đạt mới về Đảng:

“ĐCSVN là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiênphong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thànhvới lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc” Cáchdiễn đạt này vừa nói lên được bản chất giai cấp công nhân của Đảng theo chủnghĩa Mác – Lênin, vừa nói lên được nét đặc thù của Đảng ta theo sự pháttriển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tế Việt Nam và

Trang 13

đáp ứng được nguyện vọng, tình cảm của nhân dân Điều lệ khẳng định chủtrương cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân và có những quy định cụ thể.

Sau Đại hội X của Đảng, có những Hội nghị Trung ương đáng chú ýsau:Hội nghị lần thứ 4 đưa ra biện pháp đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máycác cơ quan đảng và định hướng về đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội Hội nghị lần thứ 5 (7-2007)bàn vể công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới; tăng cườngcông tác kiểm tra, giám sát của Đảng; tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạocủa Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị; đẩy mạnh cải cách hànhchính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước Hội nghị lầnthứ 6 (1-2008) đưa ra những biện pháp tiếp tục xây dựng giai cấp công nhânViệt Nam thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước; vấn đề tiếp tục hoàn thiệnthể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN và đưa ra phương hướng nângcao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượngđội ngũ cán bộ, đảng viên Hội nghị lần thứ 7 (7-2008) thông qua Nghị quyết

“Về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên trong thời

kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Nghị quyết “Về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”; Nghị quyết “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” Hội nghị

cũng đó cho ý kiến về tình hình kinh tế – xã hội 6 tháng đầu năm và các giảipháp chủ yếu trong 6 tháng cuối năm 2008

c Về tổ chức

Các đại hội Đảng trong thời kỳ đổi mới luôn nhấn mạnh những nộidung cơ bản trong xây dựng Đảng về tổ chức, bao gồm: (1).Đổi mới tổ chức, bộmáy, công tác cán bộ và đổi mới đội ngũ cán bộ, kiện toàn các cơ quan lãnh đạo

và quản lý; (2) Nâng cao chất lượng đảng viên, đấu tranh chống các biểu hiệntiêu cực; (3) Kiện toàn, đổi mới hoạt động và nâng cao sức chiến đấu của tổchức cơ sở; (4) Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷluật của Đảng

Trong những nhiệm vụ trên, đổi mới công tác cán bộ, đổi mới đội ngũcán bộ lãnh đạo các cấp luôn luôn được nhấn mạnh qua các kỳ đại hội Đảng

Trang 14

và được coi là mắt xích quan trọng nhất; đồng thời vấn đề dân chủ hoá côngtác cán bộ được xác định là điểm mấu chốt trong quá trình nâng cao chấtlượng và đổi mới công tác cán bộ Trong công tác cán bộ, cần chú ý nhữngnôi dung:

-Trong công tác cán bộ, cần coi trọng cả ba mặt: Ra sức bồi dưỡng,phát huy lực lượng cán bộ hiện có; kịp thời thay những cán bộ kém năng lực,

xử lý những cán bộ có quan điểm và tư tưởng chính trị lệch lạc; tích cực quyhoạch, đào tạo cán bộ dự bị ở các cấp

- Bảo đảm tính dân chủ và tập thể trong công tác cán bộ; khắc phụcnhững hiện tượng gò ép, áp đặt, dân chủ hình thức

- Đổi mới các chế độ, chính sách đối với cán bộ, nhằm nâng cao đờisống cho cán bộ, kích thích cán bộ làm việc, cống hiến

- Thực hiện trẻ hoá đội ngũ cán bộ và xây dựng quy chế tuyển chọncán bộ, tuyển chọn nhân tài

- Thực hiện chủ trương luân chuyển cán bộ lãnh đạo và quản lý theoquy hoạch ở các ngành và địa phương

Thực hiện các chủ trương trên, xây dựng về tổ chức được đẩy mạnhtoàn diện

- Kiện toàn hệ thống tổ chức

Đảng đã quan tâm xây dựng, kiện toàn hệ thống tổ chức Từng bướcsắp xếp tổ chức, bộ máy, biên chế cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận và cácđoàn thể nhân dân; điều chỉnh, bổ sung và quy định cụ thể hợp lý hơn chứcnăng, nhiệm vụ, phương thức hoạt động và lề lối làm việc của mỗi tổ chức.Tăng cường tính chủ động, sáng tạo, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp.Tiếptục có sự cải tiến nhất định trong quan hệ làm việc giữa các cơ quan Trungương và các đoàn thể; giữa cấp ủy đảng với cơ quan nhà nước và đoàn thể

ở các cấp; khắc phục một phần đáng kể tình trạng cấp ủy đảng làm thaycông việc của các cơ quan nhà nước và đoàn thể Trong cách thức lãnh đạo,quản lý ở tầm vĩ mô đã có những chuyển biến đáng mừng Việc phát huyquyền chủ động của các đơn vị cơ sở có những tiến bộ nhất định

- Xây dựng các ban và cơ quan sự nghiệp của Đảng

Trang 15

Từ sau Đại hội VI, tiếp tục thực hiện Nghị quyết 34 của Bộ Chính trịkhóa V, việc kiện toàn tổ chức các ban, nhằm khắc phục tình trạng bộ máycồng kềnh, kém hiệu quả được xúc tiến mạnh hơn Đã sắp xếp lại tổ chức cácban và cơ quan sự nghiệp của Đảng ở Trung ương và các cấp tỉnh, huyệntương đối gọn Ở cấp Trung ương đã sắp xếp lại còn 12 ban và 5 cơ quan sựnghiệp (giảm 17 đầu mối so với thời kỳ 1980-1985) Ở các địa phương, cácđầu mối cũng được tinh giảm Đã quy định rõ hơn chức năng, nhiệm vụ củacác ban, sắp xếp, bổ sung cán bộ, xây dựng chương trình công tác và quy chếlàm việc Một số ban đã có nhiều cố gắng và tiến bộ trong việc thực hiện chứcnăng tham mưu, xây dựng hoặc thẩm định các đề án, hướng dẫn và kiểm tracác mặt công tác của Đảng.

- Xây dựng tổ chức đảng trong cơ quan chính quyền các cấp

Sau Đại hội VI của Đảng, công tác kiện toàn tổ chức chính quyền cáccấp hướng vào phục vụ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước Đã sắp xếp lại

tổ chức một số bộ và cơ quan ngang bộ theo hướng tinh gọn, bớt đầu mốitrung gian Tiến hành cải cách một bước nền hành chính quốc gia, xây dựngcác cơ quan Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, giảm bớt chứcnăng quản lý trực tiếp các đơn vị sản xuất, kinh doanh, tăng cường quản lýnhà nước và xã hội bằng pháp luật Thu gọn bớt khoảng cách 30% đầu mối cơquan nhà nước các cấp và hơn 10% biên chế so với trước thời kỳ đổi mới

- Xây dựng tổ chức đảng trong các cơ quan dân cử, Mật trận và các đoàn thể

Đảng đã tiếp tục lãnh đạo cải tiến tổ chức và hoạt động của Quốc hội,Hội đồng nhân dân các cấp, đổi mới công tác bầu cử, giới thiệu những người

đủ tiêu chuẩn để nhân dân lựa chọn bầu vào các cơ quan dân cử, nâng cao chấtlượng và hiệu quả hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp

Nhiều đảng đoàn trong các cơ quan dân cử, các đoàn thể chính trị – xãhội và một số hội quần chúng đã có những hoạt động tốt, bảo đảm việc quántriệt và tổ chức triển khai thực hiện đường lối chính trị của Đảng và công táccán bộ trong các cơ quan, đoàn thể đó Một số đảng đoàn, nhất là ở cấp địaphương và ở một vài hội quần chúng nghề nghiệp ở cấp trung ương hoạt động

Trang 16

còn yếu, là do cấp ủy lãnh đạo thiếu sâu sát, việc bố trí cán bộ chủ chốt ởnhững nơi đó chưa đáp ứng yêu cầu.

- Xây dựng tổ chức đảng trong quân đội nhân dân và công an nhân

dân

Đảng ta đã xây dựng một hệ thống tổ chức bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối,trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội và công an Một vấn đề cần lưu ý là có thờigian trong quân đội đã bỏ chế độ Đảng ủy các cấp, thay vào đó bằng chế độ Hộiđồng quân sự, tập trung quyền vào thủ trưởng; từ đó đã làm ảnh hưởng lớn đếnchế độ tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách Nhưng khuyết điểm này chỉ sau mộtthời gian ngắn đã được phát hiện và sửa chữa Đã lập lại chế độ lãnh đạo củaĐảng ủy các cấp, bảo đảm vai trò lãnh đạo của các tổ chức đảng trong quân đội

và công an

- Xây dựng các tổ chức cơ sở đảng

Chuyển sang giai đoạn cách mạng mới, Đảng ta đã quan tâm chỉ đạonâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo toàn diện của các tổ chức cơ sởđảng, nhất là năng lực lãnh đạo chính quyền, xây dựng và phát triển kinh tế,cải thiện đời sống nhân dân, giữ vững an ninh và quốc phòng, củng cố mốiquan hệ mật thiết với các tầng lớp nhân dân Đã có nhiều cố gắng trong việcbồi dưỡng, phát huy những nhân tố mới, củng cố các cơ sở yếu kém, chăm lođào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ cấp ủy viên và cán bộ chủ chốt cơ sở

Đã tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng Xác địnhchức năng, nhiệm vụ các loại hình tổ chức cơ sở đảng phù hợp hơn trong điềukiện hoạt động mới Kiện toàn tổ chức cơ sở đảng ở nông thôn và một bộ phậndoanh nghiệp; chú ý hơn xây dựng tổ chức cơ sở đảng ở vùng sâu, vùng xa,bước đầu xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong các công ty cổ phần, doanh nghiệp

tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Việc xây dựng, củng cố tổchức cơ sở đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị cơ sở bước đầu tạo nên một

số chuyển biến tích cực, xuất hiện những mô hình tốt và kinh nghiệm mới

- Xây dựng đội ngũ đảng viên

Nhiều cấp ủy và tổ chức đảng đã triển khai thực hiện Nghị quyết 04 của

Bộ Chính trị và Nghị quyết 05 của BCH Trung ương, tăng cường kiểm tra

Trang 17

đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng; thông qua tự phê bình và phê bình, lấy ý

kiến quần chúng để đánh giá, xem xét tư cách đảng viên; giải quyết nhiều vụviệc tiêu cực, thư tố cáo cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật đảng và pháp luậtnhà nước; bố trí lại đội ngũ cốt cán Từ sau Đại hội VI đến tháng 12-1990, đãthi hành kỷ luật 206.181 đảng viên, trong đó đưa ra khỏi Đảng 78.206 người

Đợt củng cố, làm trong sạch Đảng trước Đại hội VII gắn với đấu tranhchống tham nhũng được chỉ đạo tích cực hơn, đạt một số kết quả Đại hộiđảng bộ hai cấp tiến hành vào cuối năm 1988 đầu năm 1989 và đại hội đảng

bộ các cấp tiến tới Đại hội VII thật sự là các đợt sinh hoạt chính trị sâu rộngcủa toàn Đảng, góp phần quan trọng nâng cao ý thức đảng, ý thức trách nhiệmcủa đông đảo cán bộ, đảng viên đối với sự nghiệp cách mạng

Từ năm 1986 đến 1991, các tổ chức đảng đã kết nạp 303.237 đảng viênmới, trong đó có 68,4% là đoàn viên thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, gópphần tăng thêm sức chiến đấu mới cho Đảng Đến cuối năm 1990, toàn Đảng

có 2.155.022 đảng viên, sinh hoạt trong 43.088 chi bộ và đảng bộ cơ sở (dướiđảng ủy cơ sở có 121.311 chi bộ) Tuy nhiên, tuổi bình quân của đội ngũ đảngviên ngày càng cao (43,6 tuổi), số dưới 30 tuổi chỉ có gần 12%, số đồng chí làcán bộ, công nhân viên về hưu ngày càng nhiều (27,4% tổng số đảng viên); tỷ

lệ đảng viên so với số dân còn chênh lệch nhiều giữa các vùng (miền Bắc 4,5%, miền Trung và Tây Nguyên 1,5-1,7%; miền Nam 1,1%) Còn hàngngàn thôn, xóm, ấp, bản chưa có đảng viên Từ năm 1992 đến năm 1995,công tác phát triển đảng viên tiếp tục được quan tâm và có chuyển biến mới,

3,5-số đảng viên mới kết nạp liên tục tăng, riêng năm 1995 tăng hơn 2 lần so vớinăm 1992 Đã khắc phục được tình trạng số lượng đảng viên mới kết nạp liên tụcgiảm trong 4 năm 1988-1991 Đã thu hẹp hơn diện các thôn, xóm, ấp, bản lâunay chưa có đảng viên Theo thống kê của 17 tỉnh, thành, ở các thôn, xóm, ấp,bản trong 3 năm 1992-1994 đã có thêm 282 nơi có đảng viên và 389 nơi lậpthêm được chi bộ đảng

Việc tiếp tục thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theoNghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII và Kết luận Hội nghị lần thứ 4

Ngày đăng: 12/01/2022, 09:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Nguyễn Trọng Phúc, Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011), Nxb, Chính trị quốc gia, H.2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử công tác xây dựng Đảng (1930-2011)
3.Mạch Quang Thắng, Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995.- Tài liệu tham khảo không bắt buộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản ViệtNam," Nxb Chính trị Quốc gia, H. 1995
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc và Nghị quyết Hội nghị các khóaVI, VII, VIII, IX, X và XI (Phần viết về công tác xây dựng Đảng) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc vàNghị quyết Hội nghị các khóaVI, VII, VIII, IX, X và XI
3. Tiểu ban tổng kết công tác xây dựng Đảng; Tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975- 1995, Lưu hành nội bộ, Nxb. Chính trị Quốc gia . H. 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng kết công tác xây dựngĐảng thời kỳ 1975- 1995
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia . H. 1995
4. Mạch Quang Thắng, Đảng Cộng sản Việt Nam-Những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng, Nxb Lao Động, H, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đảng Cộng sản Việt Nam-Những vấn đề cơ bảnvề xây dựng Đảng
Nhà XB: Nxb Lao Động
5. Viện Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh – Viện Lịch sử Đảng: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I,1920-1945, Nxb.Sự thật, H. 1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I,1920-1945
Nhà XB: Nxb.Sự thật
1. Các tổ chức tiền thân của Đảng, Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung ương xuất bản, Hà Nội, 1977 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w