1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chuyên đề 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI (1979 – 1986)

25 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 162,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kiến thức:Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về quá trình hình thành đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1979 đến năm 1986; những thành tựu, hạn chế trong hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảng, giai đoạn 19791986; ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đường lối đổi mới. Kỹ năng:Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp tư duy khoa học trong nhận thức, đánh giá về hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảng, giai đoạn 19791986; biết vận dụng kiến thức được trang bị để phân tích, đánh giá hoạt động lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay. Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoa học về vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; tích cực đấu tranh chống lại các quan điểm, nhận thức sai trái.

Trang 1

Chuyên đề 2 QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI

(1979 – 1986) MỤC TIÊU

- Kiến thức:Trang bị cho học viên những kiến thức cơ bản về quá trình hình

thành đường lối đổi mới của Đảng từ năm 1979 đến năm 1986; những thành tựu,hạn chế trong hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảng, giai đoạn 1979-1986; ýnghĩa lý luận và thực tiễn của đường lối đổi mới

- Kỹ năng:Chuyên đề góp phần hình thành cho học viên phương pháp tư duy

khoa học trong nhận thức, đánh giá về hoạt động lý luận và thực tiễn của Đảng,giai đoạn 1979-1986; biết vận dụng kiến thức được trang bị để phân tích, đánh giáhoạt động lãnh đạo của Đảng trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay

-Về tư tưởng: Giúp học viên củng cố niềm tin với những căn cứ khoa học về

vai trò của Đảng đối với cách mạng Việt Nam; tích cực đấu tranh chống lại cácquan điểm, nhận thức sai trái

Khủng hoảng kinh tế - xã hội và những khó khăn thách thức khác làm chođời sống nhân dân có nhiều khó khăn Từ trong khó khăn, thách thức đã xuất hiệnnhững sáng kiến, cách thức quản lý mới năng động có hiệu quả từ các địa phương,

cơ sở, từ những người lao động Hiện tượng "khoán chui" trong hợp tác xã nôngnghiệp ở Hải Phòng và một số địa phương khác, cách quản lý "phá rào" ở một sốđơn vị kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác như là những khởiđộng thu hút sự chú ý của những người lãnh đạo, quản lý

Trang 2

Cũng từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hội củacác nước bộc lộ sự phát triển trì trệ, khó khăn và hiệu quả thấp Nền kinh tế và nhucầu đời sống của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa cũng đứng trước những đòihỏi phải cải cách, cải tổ để phát triển Trung Quốc bắt đầu chủ trương cải cách, mởcửa từ Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốckhóa XI (12-1978) với chính sách cải cách kinh tế trong nước, mở cửa, hợp tác thuhút nước ngoài đầu tư, thực hiện 4 hiện đại hóa: hiện đại hóa công nghiệp, hiện đạihóa nông nghiệp, hiện đại hóa khoa học, công nghệ và hiện đại hóa quốc phòng

Tình hình trong nước và thế giới nêu trên đặt ra yêu cầu tất yếu đối với Đảng

ta là phải tìm tòi đổi mới, khắc phục những sai lầm khuyết điểm, đưa đất nước tiếnlên theo mục tiêu con đường đã chọn Từ năm 1979 đến tháng 8 năm 1986 là thời

kỳ đổi mới từng phần, có vị trí rất quan trọng đối với quá trình phát triển của cáchmạng Việt Nam

1.2 Quá trình tìm tòi con đường đổi mới từ 1979-1986

1.2.1 Thời kỳ 1979-1981

Trước những đòi hỏi bức xúc của cuộc sống, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấphành Trung ương Đảng, khoá IV (8-1979) lúc đầu định bàn về kinh tế địa phương

và sản xuất hàng tiêu dùng, nhưng sau đã chuyển sang bàn về những vấn đề kinh tế

- xã hội cấp bách có liên quan đến đường lối và chính sách kinh tế - xã hội trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng kinh tế - xã hội của đất nước, Hộinghị cho rằng nguyên nhân của tình hình khó khăn về kinh tế là do việc xây dựng

kế hoạch kinh tế thiếu căn cứ khoa học; chưa kết hợp chặt chẽ kế hoạch hoá với thịtrường; chưa chú ý tăng trưởng kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và chưa sử dụngđúng đắn các thành phần kinh tế; có những biểu hiện nóng vội, giản đơn trongcông tác cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam Từ đó, Hội nghị đã quyết địnhnhững chủ trương và giải pháp mới, mạnh dạn và sáng tạo, sát hợp với yêu cầu cấpbách của đời sống kinh tế

Trước hết, Hội nghị xác định phải coi nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là

động viên cao độ và tổ chức toàn dân đẩy mạnh sản xuất nông, lâm, ngư nghiệpnhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm, cung ứng nguyên liệu cho công

Trang 3

nghiệp, tăng nhanh nguồn hàng xuất khẩu Để thực hiện nhiệm vụ quan trọng vàcấp bách đó, cần ban hành những chính sách khuyến khích sản xuất nông nghiệpnhư: ổn định mức nghĩa vụ lương thực trong 5 năm, phần còn lại bán cho Nhànước theo giá thoả thuận hoặc được tự do lưu thông; khuyến khích việc tận dụngđất canh tác còn bỏ hoang hoá; ổn định mức bán thịt lợn, phần còn lại bán giá thoảthuận cho Nhà nước hoặc tự do lưu thông; sửa đổi lại giá lương thực và các loại nôngsản khác; bỏ lối phân phối theo định xuất, bảo đảm phân phối theo lao động coi đó lànguyên tắc phân phối chủ yếu Đối với các xí nghiệp, cần đảm bảo quyền chủ độngsản xuất kinh doanh và quyền tự chủ tài chính Việc xây dựng kế hoạch phải tính đếnyếu tố thị trường, và sự tồn tại của thị trường tự do là tất yếu.

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hội nghị cho rằng: phải tận dụng các thành

phần kinh tế ngoài quốc doanh và tập thể để phát triển sản xuất; phải tuỳ từngngành nghề, từng mặt hàng và xuất phát từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linh hoạtcác hình thức tổ chức sản xuất cho thích hợp Hội nghị còn chỉ rõ, cái gì hợp tác xã

đã làm tốt thì không vội vàng thay thế bằng quốc doanh Đối với cá thể, kể cả sảnxuất, sửa chữa và dịch vụ, xét sản phẩm nào, công việc nào cá thể hiện đang làmtốt, phục vụ tốt thì giúp cá thể tiếp tục làm, một số mặt hàng hiện do quốc doanhphụ trách sản xuất, nay nếu xét để cho tiểu, thủ công nghiệp và tư bản tư nhân sảnxuất có điều kiện phát triển thuận lợi hơn thì cần mạnh dạn giao lại cho tiểu, thủcông và tư nhân làm Đối với công nghiệp tư bản chủ nghĩa ở miền Nam, phải uốnnắn những nhận thức lệch lạc, thực hiện đúng chủ trương của Đảng về sự tồn tạicác thành phần kinh tế để tận dụng mọi khả năng lao động, kỹ thuật, kinh nghiệmquản lý nhằm phát triển sản xuất Đối với công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa trong

nông nghiệp, Hội nghị xác định: phải nắm vững phương châm tích cực và vững

chắc, hiện nay phải nhấn mạnh vững chắc; chống tư tưởng nóng vội, chủ quan,

cưỡng ép, mệnh lệnh, làm ồ ạt gây thiệt hại cho sản xuất và đời sống nhân dân

Tư tưởng nổi bật của Hội nghị Trung ương sáu là “làm cho sản xuất bung

ra”, nghĩa là phải khắc phục những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế,

trong cải tạo xã hội chủ nghĩa, điều chỉnh những chủ trương, chính sách kinh tế,

phá bỏ những rào cản để cho lực lượng sản xuất phát triển Đó là bước đột phá

đầu tiên trong quá trình tìm tòi, đổi mới của Đảng.

Trang 4

Nghị quyết ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đón nhận, bước đầu đã xuấthiện những điển hình về cách làm ăn mới phát huy tác dụng tích cực Tuy nhiênnhững giải pháp Hội nghị Trung ương sáu nêu ra chưa đủ sức tháo gỡ khó khăn.Sau một thời gian thực hiện lại xuất hiện những khó khăn mới: Sản xuất bung ranhưng không đúng hướng; hàng lậu, hàng giả xuất hiện nhiều; giá cả ngày càngcao.

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu, tháng 9-1979 Hội đồng Chínhphủ ra quyết định về việc tận dụng đất đai nông nghiệp để khai hoang, phục hoáđược trả thù lao thích đáng và được sử dụng toàn bộ sản phẩm, được miễn thuế.Tháng 10 - 1979 Hội đồng Chính phủ công bố quyết định xóa bỏ những trạm kiểmsoát ngăn sông cấm chợ Người sản xuất có quyền đưa sản phẩm ra trao đổi ngoài thịtrường không phải nộp thuế sau khi làm đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước Được sự quantâm của Nhà nước trong đầu tư phát triển nông nghiệp và cố gắng của nhân dân, năm

1979 sản lượng lương thực tăng 1.718.500 tấn so với năm 1978

Trước hiện tượng “khoán chui” ở một số các hợp tác xã nông nghiệp, ngày22-6-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22, cho phép các địaphương mở rộng thí điểm khoán sản phẩm và khoán việc đối với cây lúa trong cáchợp tác xã nông nghiệp

Rút kinh nghiệm qua khoán thí điểm cây lúa trong các hợp tác xã nôngnghiệp, ngày 13-1-1981, Ban Bí thư ra Chỉ thị 100/CT-TW về khoán sản phẩm đếnnhóm và người lao động trong các hợp tác xã nông nghiệp Theo tinh thần của Chỉthị này, mỗi xã viên nhận mức khoán trên một diện tích nhất định và tự mình làm 3khâu, cấy, chăm sóc và thu hoạch, còn những khâu khác do hợp tác xã đảm nhiệm.Nếu thu hoạch vượt mức khoán thì xã viên được hưởng Phương hướng chủ yếutrong cải tiến khoán là khuyến khích lợi ích chính đáng của người lao động làmcho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất và quản lý hợp tác xãđều gắn với sản phẩm cuối cùng Chỉ thị ra đời được nhân dân cả nước hồ hởi đónnhận Chưa có hình thức kinh tế nào khi xuất hiện lại được nhiều người bàn luậnsôi nổi và được mở rộng nhanh chóng, biến thành một phong trào quần chúng sâurộng, thu hút hàng triệu nông dân, không những đem lại hiệu quả kinh tế lớn màcòn mở ra triển vọng tốt đẹp cho việc cải tiến quản lý nông nghiệp như Chỉ thị 100

Trang 5

Với hình thức khoán ấy, tuy còn ở trình độ thấp nhưng đã tạo nên không khí phấnkhởi trong nông dân Nhiều hiện tượng tiêu cực, lãng phí ngày công đã từng tồn tại

từ nhiều năm trong các hợp tác xã nông nghiệp thì chỉ trong một vụ đông xuân(1981- 1982) áp dụng cách khoán mới đã giảm nhiều, theo đó sản xuất nôngnghiệp ở nước ta trong thời kỳ 1981-1985 đã có những bước tiến đáng kể Nếu sovới mức bình quân hàng năm của thời kỳ trước đó 1976-1980 là 1,9% thì tốc độtăng trưởng của nông nghiệp trong thời kỳ 1981-1985 là 4,9%, sản xuất lương thực

có bước phát triển quan trọng, mức tăng bình quân hàng năm từ 13,4 triệu tấn trongthời kỳ 1976-1980 đã tăng lên 17 triệu tấn trong thời kỳ 1981-1985 Diện tích câycông nghiệp hàng năm tăng 62,1%; đàn bò tăng 33,2%; đàn lợn tăng 22%; lươngthực cung cấp cho Nhà nước tăng 2 lần

Trong lĩnh vực công nghiệp, trên cơ sở tổng kết các hiện tượng "xé rào" vàlàm thí điểm nhằm phát triển công nghiệp, nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh vàLong An, ngày 21-1-1981 Chính phủ đã ban hành Quyết định 25-CP về quyền chủđộng sản xuất kinh doanh và quyền tự chủ về tài chính của các xí nghiệp quốcdoanh Quyết định nêu rõ: Cần lấy kế hoạch làm chính, đồng thời sử dụng đúngđắn quan hệ hàng hoá, thị trường, kinh doanh có lãi; cho phép các xí nghiệp quốcdoanh có nhiều nguồn cân đối và kế hoạch ba phần (phần Nhà nước giao, phần tựlàm, phần sản xuất phụ) Cùng ngày 21-1-1981 Hội đồng Chính phủ ban hànhquyết định 26-CP về việc mở rộng hình thức trả lương khoán, lương sản phẩm vàvận dụng hình thức tiền thưởng trong các đơn vị sản xuất kinh doanh của Nhànước Những chủ trương chính sách nêu trên giúp cơ sở tự giải quyết một phần khókhăn, góp phần thực hiện kế hoạch Nhà nước Năm 1981, lần đầu tiên sau chiếntranh sản xuất công nghiệp đạt kế hoạch, riêng công nghiệp địa phương vượt kếhoạch 7,5%

Trên mặt trận phân phối lưu thông, ngày 23-6-1980, Bộ Chính trị ra Nghịquyết 26/NQ-TW về cải tiến công tác phân phối, lưu thông Đây là lĩnh vực rấtnóng bỏng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nước ta thời đó Nghị quyết đã đề ramục tiêu, biện pháp và các bước cụ thể của việc cải tiến công tác phân phối lưuthông Tuy nhiên, hạn chế của Nghị quyết là chủ trương khuyến khích sản xuấttrước (bước 1) rồi trên cơ sở sản xuất phát triển mới cải tiến công tác phân phối lưu

Trang 6

thông (bước 2 và 3) Trong khi thực tiễn lại yêu cầu phải cải tiến ngay công tácphân phối lưu thông để phát triển sản xuất Vì thế, tình hình phân phối lưu thôngsau Nghị quyết 26 vẫn chưa có chuyển biến đáng kể.

Những tìm tòi, đổi mới từng phần từ 1979-1981 được xuất phát từ thực tếcuộc sống, dựa trên những sáng tạo của nhân dân, của địa phương Đó là nhữnggiải pháp tình thế, hướng vào giải quyết những khó khăn trước mắt về đời sốngkinh tế, xã hội Những ý tưởng ban đầu của đổi mới tuy còn sơ khai, chưa cơ bản

và toàn diện, nhưng đó là bước mở đầu có ý nghĩa, đặt những cơ sở đầu tiên choquá trình đổi mới toàn diện sau này Những đổi mới từng phần nêu trên chưa đủsức giải quyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra vì nó vẫn nằm trong bối cảnhchung là mô hình chủ nghĩa xã hội cũ, tư duy về kinh tế tập trung, quan liêu baocấp cơ bản còn tồn tại Thực tiễn đòi hỏi Đảng phải tiếp tục tìm tòi đổi mới

và 36 uỷ viên dự khuyết Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương, khoá

V đã bầu ra Ban Bí thư, Tổng Bí thư và Uỷ ban kiểm tra Trung ương Đồng chí LêDuẩn được bầu lại làm Tổng Bí thư của Đảng

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đã có những nhận thức mới

về chủ nghĩa xã hội và con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Thứ nhất, Đại hội V xác định cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến

đấu, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa

Hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ mật thiết với nhau Xây dựng chủ nghĩa

xã hội đạt những kết quả thiết thực làm cho đất nước ta mạnh lên về mọi mặt vàtrong mọi hoàn cảnh thì mới có đủ sức đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược

Trang 7

của địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Ngược lại, bảo vệ vững chắc Tổ quốc thì mới

có điều kiện để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

Mỗi nhiệm vụ chiến lược có vị trí riêng: "Trong khi không một phút lơi lỏngnhiệm vụ củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, Đảng ta và nhân dân ta phải đặt lênhàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội"1

Thứ hai, Đại hội đưa ra quan niệm về chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá

độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Theo quan điểm của Đại hội V, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

là khó khăn, phức tạp, lâu dài, phải trải qua nhiều chặng đường, hiện nay nước tađang ở chặng đường đầu tiên, đồng thời chỉ ra nội dung kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội của chặng đường đầu Đây chính là sự nhận thức và vận dụng đúng đắnquan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin về thời kỳ quá độ và sự phân kỳ thời kỳ quá độvào điều kiện thực tiễn nước ta Đại hội xác định: Chặng đường trước mắt bao gồmthời kỳ 5 năm 1981-1985 và kéo dài đến những năm 1990 là khoảng thời gian cótầm quan trọng đặc biệt

Thứ ba, Đại hội đã có những điều chỉnh về nội dung, bước đị, cách làm của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên.

Đại hội V xác định: Tập trung sức phát triển mạnh nông nghiệp, coi nôngnghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủnghĩa; ra sức đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngànhcông nghiệp nặng quan trọng; kết hợp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng vàcông nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý

Nội dung đó phản ánh đúng bước đi của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa,phù hợp với thực tiễn nước ta; nhằm khai thác, phát huy thế mạnh, tiềm năng củađất nước về lao động, đất đai, ngành nghề giải quyết đúng đắn mối quan hệ côngnghiệp với nông nghiệp làm cơ sở để thực hiện nhiệm vụ chủ yếu của chặng đườngđầu tiên, tạo ra những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hộichủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo

Đại hội V có bước tiến mới về đổi mới tư duy trong việc tìm tòi con đường

đi lên chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên Đại hội V vẫn chưa thấy đúng mức nguyên nhân

1 ĐCSVN, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, tập 1, Nxb Sự thật, Hà Nội, tr 42

Trang 8

dẫn đến tình trạng trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội Đại hội vẫn khẳng định:

“đường lối chung là hoàn toàn đúng đắn; khuyết điểm là trong khâu tổ chức thực

định đúng nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế - xã hội, nên Đại hội vẫn tiếptục chủ trương hoàn thành về cơ bản cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam trongvòng 5 năm Quá trình chỉ đạo thực hiện vẫn tiếp tục đầu tư cơ sở vật chất, kỹ thuậtcho việc phát triển công nghiệp nặng một cách tràn lan; không dứt khoát cắt bỏnhững công trình xét ra chưa thật cần thiết để dành thêm vốn và vật tư cho pháttriển nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng Đại hội đã không tiếp tục pháttriển những kết quả của việc tìm tòi, thử nghiệm những chủ trương, chính sáchmới, những cách làm hay có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận đã được nêu ra ởNghị quyết Trung ương 6 - khoá IV, Chỉ thị 100 của Ban Bí thư, Quyết định 25/CPcủa Chính phủ, cũng như qua hoạt động thực tiễn của nhiều địa phương, cơ sở

Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương khoá V (6-1985) bàn về đổi

mới cơ chế quản lý kinh tế.Đây là bước đột phá thứ hai trong quá trình tìm tòi, đổi

mới của Đảng Hội nghị chủ trương dứt khoát xoá bỏ cơ chế tập trung quan liệubao cấp, thực hiện cơ chế một giá, xoá bỏ chế độ bao cấp bằng hiện vật theo giáthấp, chuyển mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh sang hoạch toán kinh doạnh xãhội chủ nghĩa Giá, lương, tiền coi là khâu đột phá để chuyển đổi cơ chế Hội nghịlần thứ 8 thừa nhận sản xuất hàng hoá và những quy luật sản xuất hàng hoá trongnền kinh tế quốc dân

Hội nghị Bộ Chính trị tháng 8-1986 đưa ra “Kết luận đối với một số vấn đề

thuộc về quan điểm kinh tế” Đây là bước đột phá thứ ba, đồng thời cũng là bước

quyết định cho sự ra đời của đường lối đổi mới

Về cơ cấu sản xuất, Hội nghị cho rằng, chúng ta đã chủ quan, nóng vội đề ra

một số chủ trương quá lớn về quy mô, quá cao về nhịp độ xây dựng cơ bản và pháttriển sản xuất Đây là một nguyên nhân quan trọng khiến cho sản xuất trong 5 nămgần đây như dẫm chân tại chỗ, năng suất lao động giảm sút, chi phí sản xuất khôngngừng tăng lên, tình hình kinh tế xã hội ngày càng không ổn định Đây cũng lànguyên nhân trực tiếp của tình trạng chậm giải quyết căn bản các vấn đề về lương

2Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng thời kỳ 1975 – 1985, Nxb CTQG, HN, 1996, tr.22

Trang 9

thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và tạo nguồn hàng cho xuất khẩu Bởi vậy,cần tiến hành một cuộc điều chỉnh lớn về cơ cấu sản xuất và cơ cấu đầu tư theohướng thật sự lấy nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, ra sức phát triển công nghiệpnhẹ, việc phát triển công nghiệp nặng phải có lựa chọn cả về quy mô và nhịp độ, chútrọng quy mô vừa và nhỏ, phát huy hiệu quả nhanh nhằm phục vụ đắc lực yêu cầuphát triển nông nghiệp, công nghiệp nhẹ và xuất khẩu Theo hướng đó, cần tập trunglực lượng, trước hết là vốn và vật tư, thực hiện cho được ba chương trình quan trọngnhất về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu và hàng xuất khẩu.

Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, Hội nghị cho rằng, do chưa nắm vững quy luật

đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục trong suốtthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, nên chúng ta đã phạm nhiều khuyết điểmtrong cải tạo xã hội chủ nghĩa Bởi vậy, phải biết lựa chọn bước đi và hình thứcthích hợp trên quy mô cả nước cũng như từng vùng, từng lĩnh vực, phải đi quanhững bước trung gian, quá độ từ thấp đến cao, từ quy mô nhỏ đến trung bình, rồitiến lên quy mô lớn; phải nhận thức đúng đắn đặc trưng của thời kỳ quá độ lên chủ

nghĩa xã hội ở nước ta là nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần, đó là sự cần thiết

khách quan để phát triển lực lượng sản xuất, tận dụng các tiềm năng, tạo thêm việclàm cho người lao động, phải sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế; cải tạo xãhội chủ nghĩa không chỉ là sự thay đổi chế độ sở hữu, mà còn thay đổi cả chế độquản lý, chế độ phân phối, đó là một quá trình gắn liền với mỗi bước phát triển củalực lượng sản xuất, vì vậy không thể làm một lần hay trong một thời gian ngắn làxong

Về cơ chế quản lý kinh tế, Hội nghị cho rằng, bố trí lại cơ cấu kinh tế phải đi

đôi với đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, làm cho hai mặt ăn khớp với nhau tạo

ra động lực mới thúc đẩy sản xuất phát triển Hội nghị nêu ra những nội dungchủ yếu của cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa là: Đổi mới kế hoạchhoá theo nguyên tắc phát huy vai trò chủ đạo của các quy luật kinh tế xã hộichủ nghĩa, đồng thời sử dụng đúng đắn các quy luật của quan hệ hàng hoá -tiền tệ; làm cho các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ trong sản xuất, kinh doanh;phân biệt chức năng quản lý hành chính của Nhà nước với chức năng quản lýsản xuất, kinh doanh của các đơn vị kinh tế; phân công, phân cấp bảo đảm các

Trang 10

quyền tập trung thống nhất của Trung ương trong những khâu then chốt, quyềnchủ động của địa phương trên địa bàn lãnh thổ, quyền tự chủ sản xuất kinhdoanh của cơ sở.

Những kết luận trên đây là kết quả tổng hợp của cả quá trình tìm tòi, thửnghiệm, đấu tranh giữa quan điểm mới và quan điểm cũ, đặc biệt trên lĩnh vực kinh

tế Những quan điểm mới được trình bày trong bản kết luận đã định hướng cho việcsoạn thảo Báo cáo Chính trị để trình ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI củaĐảng, thay cho bản Dự thảo Báo cáo chính trị được chuẩn bị trước đó, vì trong bản

dự thảo ấy vẫn còn giữ lại nhiều quan điểm cũ không phù hợp với yêu cầu trước mắt

là khắc phục cho được khủng hoảng kinh tế - xã hội, và lâu dài đưa đất nước đi lênchủ nghĩa xã hội

1.3 Nhận xét quá trình tìm tòi đổi mới

Nghiên cứu quá trình tìm tòi đổi mới từng phần từ năm 1979- 1986 có thể rút ramột số nhận xét sau đây:

Một là, từ năm 1979- 1986 là những năm đất nước phải đương đầu với hai

cuộc chiến tranh biên giới rất phức tạp, phải đối phó với chính sách bao vây cấm vậncủa các thế lực thù địch, đồng thời cũng là những năm mà nhược điểm của mô hình

và cơ chế quản lí cũ đã bộc lộ ra rất rõ và trở thành lực cản lớn đối với sự phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước

Hai là, từ khi đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội Đảng và nhân dân

ta đã liên tục tiến hành những tìm tòi, thử nghiệm nhằm tháo gỡ khó khăn, đưa đất nướcthoát khỏi khủng hoảng, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân

Ba là, quá trình tìm tòi thử nghiệm của Đảng và nhân dân ta từ năm 1979 –

1986 tuy có đạt được một số kết quả quan trọng nhưng không chắc chắn, khủnghoảng vẫn diễn ra và ngày càng trầm trọng, có nguy cơ đe doạ sự sống còn của Đảng

và chế độ xã hội chủ nghĩa Nguyên nhân cơ bản là, những tìm tòi thử nghiệm ở thời

kỳ này mới chỉ là những đổi mới từng phần, từng lĩnh vực đơn lẻ, chưa có tính tổngthể, trong khi thực tiễn lại yêu cầu cần có một chiến lược đổi mới căn bản và toàndiện

Bốn là, những tìm tòi thử nghiệm về đường lối của Đảng và nhân dân ta ở

thời kỳ này tuy chưa khắc phục được khủng hoảng kinh tế - xã hội nhưng đã tạo ra

Trang 11

những tiền đề cần thiết cho việc hình thành đường lối đổi mới toàn diện mà Đại hội

và đã đạt được những thành tựu quan trọng trên lĩnh vực kinh tế, KHKT

Tình hình trong nước:

Sau 10 năm cả nước quá độ lên CNXH, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sựnghiệp XD và BVTQ của nhân dân ta đã giành được những thành tựu quan trọngnhưng cũng còn nhiều hạn chế, yếu kém

Thành tựu: Đại hội VI nêu lên 3 thành tựu nổi bật:Thực hiện thắng lợi chủ

trương thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước; đã đạt được những thành tựu quan

trọng trong sự nghiệp XD CNXH; giành thắng lợi to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổquốc, bảo vệ an ninh chính trị và làm nghĩa vụ quốc tế Những thành tựu trên đã tạocho sự nghiệp cách mạng nước ta những nhân tố mới để tiếp tục tiến lên

Hạn chế và nguyên nhân:

Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật,

ĐH VI đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ rõ những sai lầm, khuyết điểm và nguyênnhân dẫn đến tình trạng đó Cụ thể là:

Hạn chế: nhiệm vụ mục tiêu do ĐH IV và ĐH V của Đảng đề ra đều không

hoàn thành, đất nước lâm vào khủng hoảng KT-XH từ cuối những năm 70 và kéodài trong nhiều năm Biều hiện của khủng hoảng: Sản xuất tăng trưởng chậm vàkhông ổn định; Nền kinh tế luôn trong tình trạng thiếu hụt, không có tích luỹ;Lạm phát tiếp tục tăng cao và kéo dài trong nhiều năm; Đất nước bị bao vây, cô

Trang 12

lập; Đời sống nhân dân hết sức khó khăn, lòng tin đối với Đảng, Nhà nước, chế

độ giảm sút nghiêm trọng Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng:

Nguyên nhân khách quan: Điểm xuất phát lên CNXH của nước ta thấp;

Thiên tai, địch hoạ liên tiếp xảy ra; Quan hệ quốc tế có nhiều thay đổi

Nguyên nhân chủ quan: ĐH đã nghiêm túc kiểm điểm, chỉ ra 6 vấn đề: Sai lầm

trong đánh giá tình hình, xác định mục tiêu, bước đi; Sai lầm trong bố trí cơ cấukinh tế; Sai lầm trong cải tạo XHCN; Sai lầm trong lĩnh vực phân phối, lưu thông;Duy trì quá lâu cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp; Còn buông lỏng chuyên chính

vô sản (cả trong quản lý KT, XH, trong đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của

địch…) Những sai lầm nói trên là những sai lầm nghiêm trọng và kéo dài về chủ

trương, chính sách lớn, sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện Khuynhhướng tư tưởng chủ yếu của những sai lầm, khuyết điểm nói trên, đặc biệt là trên lĩnh

vực kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ và hành động giản đơn, nóng vội,

chạy theo nguyện vọng chủ quan Đó là tư tưởng tiểu tư sản, vừa “tả” khuynh và hữukhuynh Nguyên nhân của mọi nguyên nhân bắt nguồn từ “những khuyết điểm tronghoạt động tư tưởng và công tác cán bộ của Đảng”

Như vậy, khi Đảng ta tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, tìnhhình thế giới, trong nước đã và đang có nhiều biến đổi sâu sắc Những biến đổi đóđặt ra yêu cầu tất yếu và cấp bách đối với Đảng ta là phải đổi mới chủ trương,chính sách đối nội, đối ngoại để tiếp tục đưa đất nước phát triển theo mục tiêu, conđường đã chọn

2.2 Đường lối đổi mới của Đại hội VI

Đường lối đổi mới của Đại hội VI được hoạch định trên những cơ sở lý luận vàthực tiễn sau: dựa trên phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin về thời

kỳ quá độ lên CNXH; dựa trên quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về CNXH; quathực tiễn hơn 3 thập kỷ xây dựng CNXH và từ kinh nghiệm quá trình đổi mới từngphần của Đảng và nhân dân ta trong những năm 1979 - 1986

Quan điểm chỉ đạo đổi mới:

- Đổi mới là tất yếu khách quan, là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa sống còn của

Đảng và chế độ XHCN ở nước ta

Ngày đăng: 12/01/2022, 09:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hồ Chí Minh, Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, NXB CTQG, H, 1998, trang 42-376 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chủ nghĩa Mác-Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đilên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: NXB CTQG
3. Nguyễn Trọng Phúc (2001): Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
4. Nguyễn Trọng Phúc (2007): Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhận thức lý luận, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ở Việt Nam thực tiễn và nhận thức lýluận
Tác giả: Nguyễn Trọng Phúc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2007
1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban chấp hành Trung ương, Báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn qua 30 năm đổi mới (1986 – 2016), Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2015 Khác
2. Đinh Thế Huyng, Phùng Hữu Phú…. (Chủ biên), 30 năm đổi mới và phát triển ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2015 Khác
3. Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H.2008 Khác
4. Giáo trình Lịch sử Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam, tập 2, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2008 Khác
5. Hỏi đáp Lịch sử Đảng CSVN, Nxb Quân đội nhân dân, H. 2004.- Tài liệu tham khảo không bắt buộc Khác
1. Nguyễn Đức Bình (Chủ biên), Về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, H. 2004 Khác
5. Nguyễn Văn Sự, Con đường đổi mới đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội 91986-1996), Nxb Quân đội nhân dân, H. 2014 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w