1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

SỰ ám ẢNH của văn hóa NÔNG NGHIỆP và môi TRƯỜNG SÔNG nước TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM

22 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 62,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng khi đem ngôn ngữ Việt đối chiếu với ngôn ngữnước ngoài, mới thấy rằng: cái gốc văn hóa nông nghiệp cùng môi trường sông nước đãthực sự đã tạo nên một “trường ngôn ngữ nông nghiệp,

Trang 1

SỰ ÁM ẢNH CỦA VĂN HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ MÔI TRƯỜNG SÔNG NƯỚC

TRONG NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Mai bá Ẩn

Trên thế giới có hai loại hình văn hóa chính: Văn hóa gốc nông nghiệp (phương Đông) vàVăn hóa gốc du mục (phương Tây), trong đó Việt Nam thuộc loại hình văn hóa gốc nôngnghiệp điển hình, phương Tây là loại hình văn hóa gốc du mục điển hình, còn Trung Hoa làloại hình văn hóa nước đôi (nông nghiệp gốc du mục) Đến bây giờ, với những thành tựucủa ngành khảo cổ học, dân tộc học, đặc biệt là công nghệ gien, Việt Nam và các nướcĐông Nam Á thực sự đã là chiếc nôi của nền văn minh lúa nước của loại hình văn hóa nôngnghiệp điển hình Chính vì lẽ đó mà đã từ lâu, đời sống nông nghiệp, môi trường sông nước

đã ảnh hưởng rất lớn đến tính cách sống của con người Việt Nam Chính từ cội nguồn vănhóa mà người Việt Nam từ cách sống, cách sinh hoạt cho đến lối nhận thức, tư duy đều chịu

sự chi phối nặng nề của cội nguồn văn hóa Nhận thức đã thế, tư duy đã thế, tất nhiên sẽđược biểu hiện qua ngôn ngữ Sự biểu hiện này, xưa nay, ta dễ dàng nhìn thấy trong ngônngữ các tác phẩm văn chương, đặc biệt là văn chương bình dân (văn học dân gian) Tuynhiên, để hiểu rõ ngọn nguồn của ngôn ngữ giao tiếp hàng ngày - loại ngôn ngữ mà từ bình

Trang 2

dân đến trí thức đều thường dùng, không phải ai cũng cảm nhận hết Trong giao tiếp thôngthường, ngôn ngữ có thói quen là cứ hễ nói mà được nhiều người công nhận, hiểu được thìtất nhiên sẽ tồn tại và lưu truyền Nhưng khi đem ngôn ngữ Việt đối chiếu với ngôn ngữnước ngoài, mới thấy rằng: cái gốc văn hóa nông nghiệp cùng môi trường sông nước đãthực sự đã tạo nên một “trường ngôn ngữ nông nghiệp, sông nước” rất đặc thù trong giaotiếp của người Việt.

1 Ám ảnh của gốc văn hóa nông nghiệp trong ngôn ngữ Việt Nam

Là chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp lúa nước, người Việt sống chan hòa cùng cây cỏ

tự nhiên, cùng với ruộng đồng gò bãi để tiến hành sản xuất nông nghiệp Từ cách nói quenthuộc trong công việc đồng áng của mình, ngôn ngữ dần dần hình thành, vốn từ ngày càngphong phú để diễn tả mọi sự vật, sự việc cùng những tâm tư, tình cảm con người Cách gọitên sự vật, hiện tượng tự nhiên gắn liền với đất đai nông nghiệp tạo nên một ám ảnh khônnguôi trong tâm thức người Việt để từ đó họ vận dụng vốn liếng ngôn ngữ này vào tronggiao tiếp hàng ngày với sự chuyển nghĩa rất rõ nét và độc đáo

Trang 3

1.1.Danh từ:

Khác với các dân tộc khác, khái niệm Tổ quốc, Quốc gia luôn luôn trừu tượng, người ViệtNam nông nghiệp dùng hai yếu tố quan trọng nhất của sản xuất nông nghiệp để chỉ Tổ quốc,

Quốc gia, đó và Đất và Nước: “Đất nước Việt Nam” Nhưng với cư dân làm nông nghiệp

lúa nước, lúc cần thiết, người Việt lại lấy yếu tố quan trọng đầu tiên trong bốn yếu tố chính

của sản xuất nông nghiệp: Nước - Phân - Cần - Giống để gọi Quốc gia: “Nước Việt Nam”.

Từ tư tưởng hạt mầm, hạt giống của các loại cây trồng, người Việt nâng lên để gợi dậy cả

cội nguồn dân tộc: “Nòi giống Việt Nam”, “Dòng giống Tiên Rồng”…

Nghề chính của cư dân nông nghiệp là trồng trọt, vì thế các loại cây trồng trở thành đốitượng gắn bó suốt cả cuộc đời của người dân nông nghiệp Thuần dưỡng được một loài cây

để phục vụ lợi ích con người đôi lúc phải trải qua một quá trình rất dài mới nắm được đặctính của từng loài cây để tìm cách gieo trồng, chăm bón Chính vì lẽ đó mà cuộc sống này,

cuộc đời bao la rộng lớn này được người Việt gọi một cách thân thương, gần gụi là: “Cây đời”, “Vườn đời”

Trang 4

Cây cối sống được, sinh trưởng được là nhờ mũ, nhờ nhựa, vậy thì con người sống được,trưởng thành được từ nhỏ đến lớn cũng được người Việt liên tưởng như sức sống của cây

trồng theo cách nói: “Nhựa sống tràn đầy”, “Tràn trề nhựa sống”… Rồi cái việc nhổ mạ đi

cấy, mạ được nắm lại, bó thành từng lọn, thu hoạch các loại rau, nắm lại, bó thành từng lọn,đặc biệt là thu hoạch lúa trên đồng, bó thành từng lọn… từ đó, người Việt không ngại ngùng

gọi: “Lọn tóc”, “Bó hoa”, “Nắm xương tàn”,… Từng nhúm thóc gieo vãi trên đồng để từ

đó phát sinh cách nói “Một nhúm kiến thức còm cõi”… Đến mùa thu hoạch lúa, để cân đong

đo đếm, người nông dân dùng cái ang để đong, từ đó, cái danh từ chỉ đơn vị đo lường nàyđược sử dụng không phải chỉ riêng dùng cho việc đong đo sản phẩm nông nghiệp theo cách

nói rất dễ thương:“Ngủ được một ang rồi”, …

Gieo trồng trong sản xuất nông nghiệp, tất đợi đến ngày cây cối ra hoa, kết trái để đợi tráichín mà thu hoạch cho bỏ công cày cấy và thu về thành quả của mình Chính vì như vậy,người Việt xem quá trình trai gái tìm hiểu nhau, yêu thương nhau cũng như sự vun quén để

mong ngày thu hoạch, cho nên, họ mới nói rằng: “Hoa tình yêu thơm ngát, tỏa hương”,

Trang 5

“Trái tình ngọt lịm”,… hoặc hiện đại hơn, ta thường nghe nói: “Sự nghiệp đổi mới của ngành giáo dục, bước đầu đã đem lại những trái quả ngọt ngào”…

Trong sản xuất nông nghiệp thì giai đoạn cây cối làm nụ để cho hoa cho trái là một giaiđoạn khởi đầu rất quan trọng của muà thu hoạch, chính vì lẽ đó, người Việt gọi tình cảm ban

đầu là:“Nụ hoa đầu đời”, rồi cái danh từ “nụ” này được phái sinh nghĩa để gọi “Nụ hôn đầu đời”, rồi nói: “Tuổi thiếu niên là mầm là nụ”… “Nụ” đã vậy, còn “mầm” lại là bước

khởi đầu của quá trình sinh trưởng của hạt giống, của mầm cây, từ đó, người Việt phái sinh

nghĩa từ “mầm” thành “Mầm sống”, hoặc chỉ cho sự khởi đầu của một quá trình về sau:

“Mầm hi vọng”, “Mầm móng của tội ác”, “Gieo mầm tình yêu”, “Hạt mầm hi vọng”…

Khi các loài rau trổ hoa mà không thu hoạch kịp, cuống hoa sẽ vượt cao lên thành “ngồng”.Cọng ngồng nhỏ bé mà vươn lên cao vút, từ đó, người Việt biến danh từ “ngồng” này thành

định ngữ của tính từ và gọi những đứa bé nhanh lớn, cao mà gầy là: “Cao ngồng”, “Lớn ngồng” Rồi cũng chính cái nõn nà, non nớt, trắng trong của những nõn chuối, nõn hoa, nõn

rau, nõn cải để chỉ cái non tươi của mầm nụ các loài cây nông nghiệp, người Việt biến danh

Trang 6

từ “nõn” thành từ chỉ mức độ làm định ngữ cho tính từ: “Da trắng nõn”, rồi thành từ láy hai: “Nước da trắng nõn nà”, tách láy hai: “Trắng nõn trắng nà”, láy bốn: “Trắng nõn nà nõn nuột” và tách láy bốn bằng cách tĩnh lượt tính từ để biến nó thành tính từ: “Ngón tay nõn nà, bàn tay nõn nuột”…

1.2 Động từ:

Từ những chuyển động của quá trình sinh trưởng của cây cối; từ những thao tác cụ thể, cửđộng cụ thể, hoạt động cụ thể, hành động cụ thể trong từng khâu của quá trình sản xuất nôngnghiệp, những động từ mang đậm yếu tố nhà nông dần dần được chuyển nghĩa trong quátrình giao tiếp của con người Hạt giống, hạt mầm của các loài cây nông nghiệp ngoi lênkhỏi mặt đất để bắt đầu giai đoạn sinh trưởng, người Việt gọi là “Mọc” Chính vì lẽ đó màkhi mặt trời xuất hiện ở đằng đông, đỏ ửng, tròn trịa như hình một hạt đậu phộng nhô lên từ

biển, liền gọi: “Mặt trời mọc” Những ngôi nhà mới được xây lên từ một vùng đất hoang đang rộn ràng sự sống liền được gán ngay cho yếu tố “mọc” của hạt mầm: “Những ngôi nhà khang trang mọc lên từ trên vùng đất đồi hoang hóa”…

Trang 7

Thao tác ươm hạt, ươm cây để bắt đầu cho quá trình sinh trưởng của cây cối nông nghiệpcũng liền sau đó đi vào ngôn ngữ giao tiếp thông thường, chỉ những hành động không hề

liên quan gì đến sự ươm trồng nông nghiệp: “Ươm đầy mơ ước”, “Ươm đầy khát vọng”…

Hoa nở rồi rụi tàn, lá xanh rồi úa héo là chuyện của cỏ cây, vậy mà con người đã quá thì

xuân liền lập tức được gán ngay động từ này vào:“Đến thời tàn rụi”, “Đôi môi tàn úa”

Vun thành hàng để trồng khoai, trồng rau cùng những động từ: vun xới, vun trồng gắn chặtvới thao tác nông nghiệp dần dần cũng chuyển sang để chỉ những hành động tạo nên những

thành quả trừu tượng chứ không hề còn là hàng khoai hay luống đậu:“Có công vun trồng cho tuổi trẻ tình yêu đất nước”, “Truyền thống lịch sử cha ông đã vun đắp cho tuổi trẻ Việt Nam tình yêu nước thiết tha”…Vun hàng, luống lên rồi, khi ngọn khoai, ngọn rau vươn khỏi

hàng, khỏi luống, người nông dân liền phải vén lên để nó khỏi bò lan xuống rãnh, thế rồidần dần chuyển thành những động từ mà nghĩa của nó đã trượt rất xa cái nghĩa nông nghiệp

ban đầu: “Vun vén hạnh phúc”,… hoặc khi vun xong, đất đã dẽ không thoát khí được, người

nông dân bèn dùng cuốc chĩa xới lên cho tơi đất để rễ cây dễ thở, những động từ này dần

Trang 8

dần chuyển nghĩa riêng vào giao tiếp không dính dáng gì đến chuyện khoai, rau nông

nghiệp: “Chính anh là người đã vun xới cho lý tưởng cách mạng hình thành trong lớp trẻ chúng tôi ngày đó” Và vân vân các động từ gốc nông nghiệp khác được chuyển vào ngôn

ngữ giao tiếp với nhiều trường nghĩa rất phong phú như: Động tác chỉ thu hoạch kết

quả:“Gặt hái thành công”, “Thu hoạch nhiều kết quả quan trọng”…; động từ chỉ quá trình sinh trưởng của cây trái: “Nẩy mầm tình yêu”, “Nẩy nở tình cảm”, “Tình yêu đơm hoa, kết trái”, “Đôi má ửng hồng”, “Đôi môi chín đỏ”, …; động từ chỉ sự rơi rụng của hoa quả:

“Thành quả đạt được đã bắt đầu rơi rụng”, “Rơi rớt lại một vài ý nghĩ tiêu cực”,…

Trang 9

Đất đai khô khan, cằn cỗi được liên tưởng và sử dụng thành: “Tâm hồn khô khan”, “Trái tim cằn cỗi”,… ; tính từ chỉ đặc điểm, tính chất (màu sắc, trạng thái) của cây cối được chuyển nghĩa thành: “Ánh mắt tươi xanh”, “Nước da mơn mởn”, “Làn da tươi mát”, …

Đặc điểm tàn úa, héo rũ của cây, lá, hoa được chuyển thành: “Thân xác héo gầy”, “Đôi môi tàn úa”, “Nụ cười xanh xao”, “Bờ môi khô quắt”…

Cái đặc điểm hành động (vất vả) và âm thanh (tạo nên giữa bùn và nước) của người đi trêncánh đồng bùn lầy cũng được liên kết với cụm danh từ “bùn nhơ” để chuyển nghĩa thành sự

vất vả, khó khăn giữa cuộc đời tội lỗi:“Lội bì bõm giữa bùn nhơ cuộc sống”, rồi cả đặc

điểm lao động “chân lấm tay bùn” của con người nông nghiệp cũng được vận dụng thành:

“Đời nó bụi bặm và lấm láp”, “Bụi phấn lấm láp trên đôi tay người thầy giáo”…

Sẽ còn rất nhiều người kéo dài thêm nhiều minh chứng sinh động nữa về những từ xuất phát

từ đời sống và sinh hoạt của cư dân gốc văn hóa nông nghiệp trong ngôn ngữ giao tiếp ViệtNam Dù đây là những minh chứng mang tính gợi mở, nhưng ta cũng dễ dàng nhận ra rằng:

Trang 10

chính sự ám ảnh của gốc văn hóa nông nghiệp này đã khiến trong ngôn ngữ giao tiếp củangười Việt nổi bật lên đặc trưng là rất biểu tượng và đầy hình ảnh Một ai đó muốn chuyểnngữ lớp từ ngữ này sang một ngoại ngữ nào đó e sẽ rất khó khăn, có lẽ chỉ còn cách đưanhững nghĩa biểu trưng này trở về lại với nghĩa đen mà nó muốn diễn tả Ta cứ thử tưởng

tượng dịch sang tiếng Anh những cụm từ này sẽ càng dễ thấy hơn: “gieo mầm kiến thức”,

“hạt giống cách mạng”…

Rõ ràng, chính gốc văn hóa nông nghiệp đã hằn một dấu ấn rất sâu đậm trong tâm thứcngười Việt để tạo nên cả một trường ngôn ngữ sinh động và phong phú trong tiếng Việt Dùsao, đây mới chỉ là lớp ngôn ngữ giao tiếp thông thường, nếu thử đi vào các tác phẩm văn

chương ta sẽ còn phát hiện ra nhiều điều thú vị nữa Giả dụ như: “Các em mở ra những trang sách ruộng đồng/ Tôi cúi xuống gieo vào hạt chữ” (Đoàn Vị Thượng), hoặc “Nước Việt Nam từ máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Nguyễn Đình Thi)… Tôi nghĩ các luận

văn, luận án về ngôn ngữ và văn học nên chăng hãy đi vào những vấn đề cụ thể này thì mới

có những đóng góp của công trình, còn cứ mãi đi vào những đề tài chung chung ắt sẽ rơivào những điều mà người đi trước đã nói

Trang 11

2 Ám ảnh của môi trường sông nước trong ngôn ngữ Việt Nam

Cư dân Đông Nam Á cổ đại - một trong hai trung tâm hình thành sớm nhất của loài ngườiđang vui sống yên bình giữa một vùng đất đai ẩm thấp, rộng lớn Bỗng một ngày băng tan,mực nước biển dâng lên cao (khoảng 100 đến 120 mét so với hiện nay), toàn bộ vùng đồngbằng ngập trong biển nước, để từ đó hình thành nên vùng Ma-Lai đa đảo (là các quốc đảoĐông Nam Á hiện nay) Vậy là, Việt Nam đối diện với biển Đông Biển và địa hình sôngnước cùng với nền văn minh lúa nước đã trở thành một đặc điểm địa lý tự nhiên ảnh hưởngđến văn hóa Việt - một dạng văn hóa - địa khá đặc trưng Chính vì lẽ đó mà bên cạnh nềnvăn hóa gốc nông nghiệp, môi trường sông nước đã trở thành nỗi ám ảnh đối với người dânViệt Điều này lý giải vì sao các nước Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam trở thành nhữngdân tộc có kỹ thuật chế tác các phương tiện giao thông sông nước thủ công sớm và đa dạng

so với các dân tộc khác Các nhà khảo cổ đã khai quật được những con thuyền buồm có niênđại cách nay trên 4.000 năm ở thềm lục địa Đông Nam Á Và trên thực tế, các phương tiệngiao thông trên sông nước do người Việt tạo ra, bây giờ, khó ai gọi hết tên của từng loại

Trang 12

Nào là bè, là mãng, là xuồng, là thúng, là ghe, là nóp, là thuyền… Rồi trong các loại xuồng,loại thuyền, loại ghe lại phân chia ra nhiều tiểu loại khác nhau: xuồng ba lá, thuyền độcmộc, thuyền đuôi tôm, thuyền nan, thuyền thúng, ghe ngo, ghe bầu… Kỹ thuật làm cầucống thủ công để làm phương tiện giao thông qua các địa hình sông rạch, kênh suối củangười Việt cổ cũng khá đa dạng: cầu khỉ, cầu tre, cầu dừa, cầu dây, cầu treo, cầu gỗ, cầuđá…; cống tre, cống dừa, cống gỗ, cống đá… khó mà kể tên cho hết Đây chính là nguyênnhân khiến cho văn hóa giao thông (văn hóa đối phó với khoảng cách tự nhiên) của ngườiViệt chỉ chủ yếu phát triển về giao thông đường thủy Giao thông đường bộ thì do gốc vănhóa làng xã của cư dân nông nghiệp khống chế nên không thể phát triển Mỗi làng là mộtvương quốc độc lập, tự trị, tự cấp tự túc nên không hề nghĩ tới việc di chuyển xa Dân tronglàng chỉ có từ nhà mình ra đồng làng cày cấy; lên đình làng hội họp, lễ hội; ra chợ làng mua

con cá, cái rau; lên trường làng học hành dăm ba chữ… vì thế cho nên: “Nhất ruộng giữa đồng, nhì chồng giữa làng”, “Trâu ta ăn cỏ đồng ta/ Đừng ham cỏ tốt mà qua đồng người”… Giao thông đường bộ không có cơ hội phát triển, người Việt phải tận dụng tối đa

môi trường giao thông sông nước Cho nên, làng xã Việt Nam thường hình thành bên cạnhmột bến sông, mọi quan hệ giao thương, buôn bán đều diễn ra ở bến sông Từ đó hình thành

Trang 13

nên những trung tâm đông người, cho nên không lạ gì khi các đô thị Việt Nam hiện nay đềutồn tại bên cạnh một dòng sông Điều này cũng lý giải vì sao quá trình hình thành ngôi nhà(văn hóa kiến trúc nhà ở) của người Việt cũng mang dấu ấn sông nước rõ ràng đến vậy Đầutiên là Bè (để nổi được trên mặt nước), ngồi trên Bè rồi thì lại chịu nắng mưa nên phải cắmcây trên bè lấy lá lợp che, nên phát triển thành Nhà Bè Che được nắng mưa rồi thì Bèkhông kín nên sàn bè thường ngập nước, vậy là phải nghĩ ngay đến cách đối phó làm chonước không ngập lên, và như thế thúng, mãng, nóp, xuồng, ghe… đan bằng tre, khoét bằng

gỗ ra đời Nước không vào được rồi thì lo việc che nắng che mưa nên thuyền mui (thuyền

có mái che) ra đời Đây chính là Nhà thuyền (chiếc ghe bầu) của cư dân sông nước Nó tồntại như một ngôi nhà di động Ở trên thuyền, có cả bàn thờ ông bà, bếp núc, giường ngủ,thậm chí là trồng rau, nuôi gà, nuôi heo; vợ chồng sinh hoạt ở đó, sinh con đẻ cái ở đó, concái học hành và lớn lên ở đó; tổ chức cúng tổ tiên ông bà cũng ở đó Cho đến khi định cưđược trên đất liền, người Việt quen ở trạng thái lênh đênh cộng với địa hình đồng bằng ẩmthấp, nên ngôi nhà đầu tiên dựng được trên đất liền chính là Nhà sàn (Chính vì thế mà cáinền nhà hiện nay, ta vẫn quen gọi là sàn nhà) Cho đến khi quen dần với sự định cư, yên vịcủa mặt đất thì kiến trúc mái nhà Việt Nam vẫn uốn cong theo dáng con thuyền (Mái nhà

Trang 14

của dân Trung Hoa theo mô-típ lều của cư dân đồng cỏ du mục cho nên mái thẳng, chỉ đếncuối đời Minh, mái nhà Trung Hoa mới có một nét uốn cong nhẹ) Cứ nhìn vào mái đình,miếu, chùa cổ, cố cung, nhà cổ của Việt Nam ta sẽ dễ nhận ra nét uốn cong của dáng conthuyền Thuyền là nhà, và vì thế, con thuyền luôn có hai con mắt để biết đi đâu về đâu Nhìnluồng nước nào nhiều tôm, nhiều cá để đánh bắt; đi tới bến nào để trao đổi cá tôm lấy hànghóa khác; mắt nhìn được nơi đâu là sóng gió, chốn nào là bình yên… Mắt con thuyền quả làmột biểu tượng đẹp, một hình tượng độc đáo của cư dân sông nước Việt Nam.

Chính môi trường sông nước đó đã hình thành nên một kho tàng đồ sộ và đa dạng, phongphú trong ngôn ngữ giao tiếp của người Việt Từ ngôn ngữ ra đời gắn liền với địa hình sôngnước, hoạt động trên sông nước, dần dần hình thành nên cả một trường ngôn ngữ sông nướctrong giao tiếp của người Việt

2.1 Danh từ: Như ta đã biết, khác với các dân tộc khác, khái niệm về Quốc gia khá trừu

tượng và khái quát, người Việt Nam nông nghiệp lúa nước, sống giữa môi trường sông nướcnên gọi Quốc gia là Đất Nước Và vì sống bằng nghề trồng lúa nước, nên khi cần người Việt

Ngày đăng: 11/01/2022, 23:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w