1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại trường cao đẳng nghề kiên giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

127 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 4,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, đề tài “Đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp” được nghiên cứu nhằm đề xuất một s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

VỚI DOANH NGHIỆP

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 8140101

S K C0 0 6 1 1 6

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

VỚI DOANH NGHIỆP

NGÀNH: GIÁO DỤC HỌC - 8140101 GVHD: PGS TS Bùi Văn Hồng

Trang 3

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI

Trang 4

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN

Trang 5

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC

Địa chỉ liên lạc: Lô 16 Căn số 3 Khu dân cư An Bình, phường An

Bình, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Di động: 0944.23.26.28

Email: vovandienkg@gmail.com

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

1 Đại học

Hệ đào tạo: Tại chức Thời gian đào tạo từ năm 2005 đến năm 2010

Nơi học: Trường đại học Cần Thơ

Ngành học: Kỹ sư tin học

2 Thạc sĩ

Hệ đào tạo: Chính quy Thời gian đào tạo từ tháng 10/2016 đến 02/2018

Nơi học: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn: PGS TS BÙI VĂN HỒNG

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

10/2010 – 5/2016 Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND tỉnh Kiên Giang Chuyên viên

Trang 6

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng 5 năm 2019

TÁC GIẢ

Võ Văn Điền

Trang 7

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn:

PGS TS Bùi Văn Hồng - Giảng viên hướng dẫn khoa học, đã theo dõi và nhiệt tình định hướng khoa học trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn

Quý thầy, cô giảng dạy lớp cao học Giáo dục học khóa 2016B, đã truyền đạt những kiến thức khoa học, kinh nghiệm quý báo giúp tác giả hoàn thành khóa học

và nhận thức sâu hơn về chuyên môn

Quý thầy, cô trong Ban giám hiệu, quản lý các phòng, khoa, trung tâm và giáo viên của Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn

Ban lãnh đạo và quản lý các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận văn

Ban lãnh đạo và quản lý các cơ quan quản lý nhà nước ở tỉnh Kiên Giang đã tham gia đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi hoàn thành tốt luận văn

Xin chân thành cảm ơn các bạn học viên lớp Cao học Giáo dục học khóa 2016B Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP Hồ Chí Minh và cùng Gia đình đã hỗ trợ, tạo điều kiện, động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn

TÁC GIẢ

Võ Văn Điền

Trang 8

TÓM TẮT

Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng được yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải phát triển một hệ thống đào tạo nghề có khả năng cung cấp cho xã hội một đội ngũ nhân lực đông đảo, có trình độ cần thiết theo một cơ cấu thích hợp, có khả năng thích ứng nhanh với mọi biến đổi của môi trường, có trình độ toàn cầu hóa ngày càng cao Đồng thời có khả năng thường xuyên cập nhật các kiến thức và kỹ năng cần thiết cho đội ngũ lao động của đất nước Đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp là yêu cầu khách quan dựa trên những nguyên lý giáo dục: “Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục của nhà trường gắn liền với giáo dục của gia đình và xã hội”, “Nhà trường đào tạo cái xã hội cần chứ không phải đào tạo cái nhà trường có” Ở tỉnh Kiên Giang, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực nói chung và nhân lực Lễ tân nói riêng tuy bước đầu có những kết quả, song nhìn chung chưa đạt hiệu quả cao, chưa có sự gắn kết ổn định và bền vững hệ quả là tạo nên sự mất cân đối

nghiêm trọng về cung - cầu nhân lực chất lượng cao Vì thế, đề tài “Đào tạo nghề

nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp” được nghiên cứu nhằm đề xuất

một số biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp, làm nâng cao năng lực đào tạo, gia tăng số lượng doanh nghiệp tham gia vào hoạt động đào tạo nghề, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển kinh tế -

xã hội của địa phương

Cấu trúc luận văn gồm những phần chính như sau:

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với

doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại

Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang

Chương 3: Biện pháp cho đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại

Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

Kết luận – Khuyến nghị

Trang 9

ABSTRACT

For a high quality human resource meeting the requirements of industrialization and modernization, it is necessary to develop a vocational training system which possibly provides society with a large and well qualified workforce in

an appropriate structure, adapting quickly to all changes of the environment with a higher level of globalization At the same time, the system should be possible to regularly update necessary knowledge and skills for the country's workforce

Vocational training with the orientation of coupling schools with enterprises is

an objective requirement based on the educational principles: "Learning accompanies with practice, education and labour, school education combines with education of the family and society”,“The school trains what the society needs rather than the available ones”, etc In Kien Giang province, cooperation in training human resources in general and receptionist resource in particular achieved initial results but it was not highly effective, the unstable connection resulted in a serious imbalance between high quality human resource supply and demand Therefore, the

topic "Intermediate – level receptionist vocational training at Kien Giang

Vocational College with the orientation of coupling schools with enterprises" is

studied to propose measures of promoting cooperative relations between schools and businesses, enhancing training capacity, increasing the number of enterprises participating in vocational training activities, contributing to improving the quality

of human resources and local socio-economic development

The thesis structure includes the following main parts:

Introduction

Chapter 1: Theoretical basis on vocational training in the orientation of

coupling schools with enterprises

Chapter 2: The reality of the intermediate level reception vocational training

at Kien Giang vocational college

Chapter 3: Proposing measures to implement the intermediate level reception

vocational training at Kien Giang vocational college according to the orientation of connecting schools with enterprises

Conclusion - Proposals

Trang 10

MỤC LỤC

TRANG

QUYẾT ĐỊNH GIAO ĐỀ TÀI i

XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN ii

LÝ LỊCH KHOA HỌC iii

LỜI CAM ĐOAN iv

LỜI CẢM ƠN v

TÓM TẮT vi

ABSTRACT vii

MỤC LỤC viii

DANH MỤC BẢNG BIỂU xiv

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ xv

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT xvi

MỞ ĐẦU 1

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU 5

3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 5

3.1 Khách thể nghiên cứu 5

3.2 Đối tượng nghiên cứu 5

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 5

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 5

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 6

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6

8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN 6

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 7

1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 7

Trang 11

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước 7

1.1.2 Nghiên cứu trong nước 12

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 18

1.2.1 Đào tạo nghề 18

1.2.2 Nghiệp vụ lễ tân 18

1.2.3 Quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp 20

1.3 ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 21

1.3.1 Đặc điểm đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp 21

1.3.2 Mối quan hệ gắn kết giữa nhà trường với doanh nghiệp 23

1.3.3 Nội dung, cơ chế đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp 25

1.3.4 Quy trình đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp 29

1.4 THIẾT LẬP QUAN HỆ HỢP TÁC GIỮA NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP TRONG ĐÀO TẠO NGHỀ 32

1.4.1 Nguyên tắc thiết lập mối quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp 30

1.4.2 Các yếu tố tác động đến mối quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp 31

1.4.2.1 Sự tác động của cơ chế thị trường 31

1.4.2.2 Sự tác động của cơ chế chính sách 32

1.4.2.3 Lợi ích của các bên trong trong quan hệ hợp tác 32

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 35

Chương 2: THỰC TRẠNG VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP VỤ LỄ TÂN 36

TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KIÊN GIANG THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 36

2.1 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO NGHỀ TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KIÊN GIANG 36

2.1.1 Lịch sử Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang 36

2.1.1.1 Thông tin chung 36

Trang 12

2.1.1.2 Khái quát về lịch sử thành lập và phát triển 36

2.1.1.3 Chức năng nhiệm vụ 39

2.1.1.4 Năng lực đào tạo nhà trường từ năm 2002 đến năm 2018 41

2.1.1.5 Cơ cấu tổ chức và nhân sự của trường 43

2.2 GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CÁC DOANH NGHIỆP TIẾP NHẬN LAO ĐỘNG LỄ TÂN TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 44

2.2.1 Số lượng doanh nghiệp hoạt động Nhà hàng, Khách sạn 44

2.2.2 Tình hình hoạt động của doanh nghiệp 44

2.3 KHẢO SÁT THỰC TRẠNG ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP VỤ LỄ TÂN TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KIÊN GIANG THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP 45

2.3.1 Mục đích 45

2.3.2 Nội dung và đối tượng khảo sát 45

2.3.2.1 Nội dung 45

2.3.2.2 Đối tượng 45

2.3.3 Phương pháp và công cụ khảo sát 46

2.3.3.1 Phương pháp khảo sát: 46

2.3.3.2 Công cụ khảo sát 46

2.3.4 Đánh giá kết quả khảo sát 46

2.3.4.1 Mức độ đáp ứng yêu cầu đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân của HS tốt nghiệp từ Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang 47

2.3.4.2 Khả năng nghề nghiệp của HS qua đào tạo sau tốt nghiệp 48

2.3.4.3 Mức độ thường xuyên trong hoạt động hợp tác giữa NT với DN 50

2.3.4.4 Chính sách nhà nước hỗ trợ hoạt động hợp tác giữa NT với DN 51

2.3.4.5 Sự cần thiết hợp tác giữa NT với DN để nâng cao hiệu quả đào tạo 53

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 55

Chương 3: BIỆN PHÁP ĐÀO TẠO NGHỀ NGHIỆP VỤ LỄ TÂN TRÌNH ĐỘ TRUNG CẤP TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ KIÊN GIANG 56

Trang 13

3.1 ĐẶC ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO 56

3.1.1 Mục tiêu đào tạo 56

3.1.2 Nội dung chương trình 58

3.2 NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP 60

3.3 BIỆN PHÁP ĐÀO TẠO 60

3.3.1 Biện pháp 1: Xây dựng bộ phận quan hệ doanh nghiệp hoạt trong Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang 60

3.3.1.1 Mục đích 60

3.3.1.2 Nội dung 60

3.3.1.3 Cách thức thực hiện 61

3.3.2 Biện pháp 2: Linh hoạt nội dung đào tạo theo đặt hàng của các doanh nghiệp và điều kiện học tập thực tế cho học sinh 61

3.3.2.1 Mục đích 61

3.3.2.2 Nội dung 62

3.3.2.3 Cách thức thực hiện 62

3.3.3 Biện pháp 3: Xây dựng chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tuyển dụng học sinh sau khi tốt nghiệp 63

3.3.3.1 Mục đích 63

3.3.3.2 Nội dung 63

3.3.3.3 Cách thức thực hiện 63

3.3.4 Biện pháp 4: Xây dựng chính sách bảo vệ người học 64

3.3.4.1 Mục đích 64

3.3.4.2 Nội dung 64

3.3.4.3 Cách thức thực hiện 64

3.3.5 Biện pháp 5: Xây dựng cơ chế hỗ trợ giữa Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh nhà hàng, khách sạn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 65

3.3.5.1 Mục đích 65

Trang 14

3.3.5.2 Nội dung 65

3.3.5.3 Cách thức thực hiện 65

3.4 KIỂM NGHIỆM BIỆN PHÁP 66

3.4.1 Mục đích kiểm nghiệm 66

3.4.2 Nội dung và đối tượng 66

3.4.2.1 Nội dung 66

3.4.2.2 Đối tượng: 66

3.4.3 Phương pháp và công cụ 66

3.4.3.1 Phương pháp: 66

3.4.3.2 Công cụ: 66

3.4.4 Đánh giá kết quả kiểm nghiệm 67

3.4.4.1 Kết quả kiểm nghệm tại nhà trường 67

3.4.4.2 Kết quả kiểm nghiệm tại các doanh nghiệp 69

3.4.4.3 Kết quả kiểm nghiệm tại các cơ quan quản lý nhà nước 72

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 75

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76

1 KẾT LUẬN 76

2 KHUYẾN NGHỊ 77

2.1 Đối với Bộ Lao động TB và XH - cơ quan quản lí Nhà nước về lĩnh vực đào tạo nghề 77

2.2 Đối với UBND tỉnh Kiên Giang 77

2.3 Đối với Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang 78

2.4 Đối với các cơ sở dạy nghề 78

2.5 Đối với các doanh nghiệp 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79

PHỤ LỤC 83

Phục lục 1 84

Phục lục 2 87

Phụ lục 3 90

Trang 15

Phụ lục 4 92

Phụ lục 5 94

Phụ lục 06: 96

Phụ lục 07: 99

Phụ lục 08 104

Trang 16

DANH MỤC BẢNG BIỂU

TRANG

Bảng 2.1: Số lượng đào tạo nghề từ năm 2002- 2006 37

Bảng 2.2: Số lượng học sinh đào tạo trình độ trung cấp nghề của trường từ năm 2007 - 2009 38

Bảng 2.3: Các ngành nghề đào tạo 41

Bảng 2.4: Kết quả đào tạo và tốt nghiệp 42

Bảng 2.5: Thống kê về số phiếu khảo sát phát ra và thu vào 46

Bảng 2.6: Ý kiến về mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của HS 47

Bảng 2.7: Ý kiến về mức độ năng lực nghề của HS tốt nghiệp tại NT 48

Bảng 2.8: Ý kiến về mức độ hoạt động liên kết giữa NT với DN 50

Bảng 2.9: Ý kiến về mức độ hỗ trợ từ các sở ban, ngành 51

Bảng 2.10: Ý kiến về mức độ cần thiết gắn kết giữa NT và DN trong đào tạo 53

Bảng 3.1: Kết quả khảo sát tại trường về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các giải pháp 67

Bảng 3.2: Kết quả khảo sát tại doanh nghiệp về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 70

Bảng 3.3: Kết quả khảo sát tại cơ quan quản lý nhà nước về mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp 72

Trang 17

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TRANG

Hình 1.1: Mô hình hợp tác đào tạo luân phiên [19] 10

Hình 1.2: Các thành tố trong quan hệ giữa nhà trường với doanh nghiệp 24

Hình 1.3: Mô phỏng mô hình qui trình đào tạo gắn với nhu cầu của doanh nghiệp 26 Hình 1.4: Quy trình đào tạo trung cấp theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp [1] 30

Hình 2.1: Cơ cấu tổ chức của Trường Cao đẳng nghề tỉnh Kiên Giang 43

Hình 2.2: Biểu đồ về mức độ đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp của HS 47

Hình 2.3: Biểu đồ về mức độ năng lực nghề của HS sau khi tốt nghiệp 49

Hình 2.4: Biểu đồ về mức độ hoạt động liên kết giữa NT với DN 50

Hình 2.5: Biểu đồ về mức độ hỗ trợ từ các sở ban, ngành 52

Hình 2.6: Biểu đồ về mức độ cần thiết gắn kết giữa NT và DN trong đào tạo 54

Hình 3.1: Kết quả khảo sát tại trường về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 68

Hình 3.2: Kết quả khảo sát tại doanh nghệp về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 71

Hình 3.3: Kết quả khảo sát tại các cơ quan quản lý nhà nước về mức độ cần thiết và khả thi của các biện pháp 73

Trang 18

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Scientific and Cultural Organization

Trang 19

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Kiên Giang là 1 trong 4 tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long, sở hữu nhiều tiềm năng và lợi thế đa dạng cho phát triển kinh tế, nằm ở phía Tây Nam của Việt Nam, kết nối với các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Campuchia và Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường Hàng không Tỉnh Kiên Giang có diện tích tự nhiên 6.348,53 km2, dân số 1.721.763 người Phía Đông Bắc, giáp các tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Nam, giáp các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây Nam, giáp vịnh Thái Lan với hơn 200

km bờ biển và các đảo; phía Bắc, giáp Campuchia, với đường biên giới dài 56,8 km Tỉnh Kiên Giang có 05 quần đảo: An Thới, Thổ Châu, Nam Du, Bà Lụa và Hải Tặc Được thiên nhiên ban tặng nhiều tiềm năng để phát triển du lịch tổng hợp, có đường

bờ biển dài 200 km, nhiều hòn đảo thơ mộng và mang vẻ hoang sơ như Kiên Hải, Phú Quốc và Thổ Chu, có nhiều bãi tắm đẹp; danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử

đa dạng và hấp dẫn với tiềm năng du lịch là phong cảnh biển đẹp và sông nước hữu tình; sinh thái rừng ngập U Minh Thượng; sinh thái sông nước… Có thể tạo ra nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng như: du lịch lịch sử, du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống Đặc biệt, Kiên Giang còn có Khu dự trữ sinh quyển Thế giới với diện tích trên 1,1 triệu ha, hiện là khu dự trữ sinh quyển lớn nhất cả nước trong số 8 khu dự trữ sinh quyển của Việt Nam đã được UNESCO công nhận [35]

Trong Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 Thủ tướng Chính phủ, chỉ rõ: “Đẩy mạnh đào tạo theo nhu cầu xã hội, gắn kết cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, mở rộng hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và thu hút doanh nghiệp tham gia nhiều hơn vào đào tạo nhân lực (đóng góp kinh phí, tổ chức đào tạo tại doanh nghiệp, đầu tư cơ sở đào tạo tại doanh nghiệp…) Thể chế hóa trách nhiệm của doanh nghiệp đối với việc phát triển nguồn nhân lực Quốc gia” [24] Để cụ thể hóa chiến lược trên, Chính phủ đã xây dựng Quy hoạch phát triển nhân lực Việt Nam giai đoạn 2011-2020 trong đó nêu rõ: tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế chính sách mạnh để khuyến khích các doanh

Trang 20

nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế tăng đầu tư kinh phí để xây dựng, phát triển hệ thống đào tạo trong doanh nghiệp nhằm trực tiếp đào tạo nhân lực phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp hoặc tăng nguồn kinh phí của doanh nghiệp cho đào tạo nhân lực Mở rộng hình thức đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp

Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 cũng chú trọng tới giải pháp gắn kết giữa dạy nghề với thị trường lao động và sự tham gia của doanh nghiệp trong đó quy định “Doanh nghiệp có trách nhiệm chính trong việc đào tạo nghề cho doanh nghiệp của mình (tự tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cho lao động của doanh nghiệp; phối hợp với CSDN để cùng đào tạo, đặt hàng đào tạo); có trách nhiệm đóng góp vào quỹ hỗ trợ học nghề; đồng thời trực tiếp tham gia vào các hoạt động đào tạo nghề (xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề, xác định danh mục nghề, xây dựng chương trình đào tạo, đánh giá kết quả học tập của HS-SV học nghề…)”

Nghị quyết 29/NQ-TW ngày 23/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương

“Về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập quốc tế” chỉ đạo “Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng năng lực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham gia xây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học” và “Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo” Cụ thể hóa quan điểm này, Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ ngày 9/6/2014 đưa ra giải pháp “Quy định trách nhiệm của các cơ sở sử dụng lao động qua đào tạo trong việc tham gia xây dựng, phát triển chương trình đào tạo, hỗ trợ các điều kiện thực hành, thực tập trong hoạt động đào tạo”

Nhà nước đã ban hành một số chính sách nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nghề, cụ thể: Theo Điều 59, 60, 61-Bộ luật lao động (Luật số: 10/2012/QH13); Điều 55, 57-Luật dạy nghề (Luật số: 76/2006/QH11) [3, 23]

Trang 21

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế, chủ trương đó tiếp tục được đề cao, thông qua chương trình hành động của chính phủ:

“khuyến khích hợp tác, liên kết giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề, phối hợp giữa các cơ sở giáo dục, đào tạo và dạy nghề với các cá nhân, doanh nghiệp có

uy tín trong và ngoài nước để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo” [3] Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2014 quy định về “quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp” gồm 5 nhóm quyền hạn và 9 nhóm trách nhiệm [23]

Tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực [9, 15] là một trong ba khâu đột phá quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Kiên Giang

từ nay đến năm 2020 Tỉnh chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh: “Xuất phát từ đặc điểm tình hình của tỉnh và những mặt còn hạn chế, khó khăn, trong đó nổi lên chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, vì vậy từ nay đến năm 2020, tỉnh tập trung nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển của địa phương Đây là một trong ba khâu đột phá chủ lực đã được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2015-2020 xác định, chỉ đạo thực hiện nhằm tạo bức phá phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhanh hơn trong tình hình mới, hội nhập sâu rộng với thế giới”

Để đẩy mạnh phát triển đa dạng ngành [14, 25], nghề đào tạo gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội ở các tiểu vùng trong tỉnh, nhu cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp và cung ứng lao động cho các khu, cụm công nghiệp và khu

du lịch trong thời gian tới trong Nghị quyết về việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Kiên Giang, giai đoạn 2016 – 2020 chỉ rõ: “Đến năm 2020, đào tạo nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành, nghề và trình độ đào tạo; hình thành đội ngũ lao động có tay nghề, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, cải thiện chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh; đào tạo nghề cho người lao động, góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động, nâng cao thu nhập, giảm nghèo bền vững, đảm bảo an sinh xã hội Thực hiện đào

Trang 22

tạo theo nhu cầu của doanh nghiệp và yêu cầu của thị trường lao động, tập trung đào tạo theo hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực; đào tạo gắn với giải quyết việc làm tại các khu, cụm công nghiệp, khu du lịch, các doanh nghiệp và gắn với quá trình sản xuất nông nghiệp của nông dân; gắn đào tạo với chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới, đáp ứng nhiệm vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp”

Mặc dù trên địa bàn tỉnh, mạng lưới cơ sở đào tạo nghề được phát triển rộng khắp ở các huyện, thị, thành phố nhưng vẫn chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp Trên thực tế, các cơ sở đào tạo nghề chủ yếu đào tạo theo khả năng “cung”, chứ chưa thực sự đào tạo theo “cầu” của doanh nghiệp Quy luật cung - cầu trong đào tạo nghề chưa thực sự tương xứng, đào tạo nghề và nhu cầu lao động có tay nghề trong doanh nghiệp vẫn còn nhiều bất cập Chính gì thế các cơ sở đào tạo nghề và doanh nghiệp nên liên kết lại với nhau là nhu cầu khách quan xuất phát từ lợi ích của cả hai phía Các doanh nghiệp sẽ đóng vai trò là những nhà cung cấp thông tin để các cơ sở đào tạo nắm được nhu cầu của thị trường lao động Vì lợi ích của chính mình, các cơ sở đào tạo nghề luôn hướng tới nhu cầu xã hội, trong đó có nhu cầu doanh nghiệp Như vậy, các cơ sở đào tạo nghề luôn có nhu cầu phải được gắn kết với doanh nghiệp Mặt khác, nếu cơ sở đào tạo nghề đảm bảo cung cấp những lao động đáp ứng đúng nhu cầu của doanh nghiệp, thì đối với doanh nghiệp đó là điều lý tưởng nhất Được hợp tác với một cơ sở đào tạo nghề cũng là nhu cầu thiết thực của chính doanh nghiệp Do đó, mối liên kết này vừa mang tính tất yếu, vừa mang tính khả thi cao trong việc đáp ứng lao động cho doanh nghiệp

Từ những lý do trên, người tác giả chọn đề tài “Đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân

trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của tác giả

Trang 23

2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp, từ đó, đề xuất biện pháp phù hợp cho hoạt động đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang

3 KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang

3.2 Đối tượng nghiên cứu

- Đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

- Biện pháp đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Quan hệ giữa trường cao đẳng nghề Kiên Giang với doanh nghiệp chưa mang lại hiệu quả cao trong đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân Nếu biện pháp đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp được đề xuất phù hợp với đặc điểm chương trình đào tạo

và thực trạng đào tạo hiện nay sẽ có tính khả thi và cần thiết

5 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Khảo sát thực trạng tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang và một số doanh nghiệp tiêu biểu trong lĩnh vực Nhà hàng - Khách sạn

- Kiểm nghiệm ba giải pháp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang

6 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu cơ sở lý luận về đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

- Đánh giá thực trạng về đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang

- Đề xuất biện pháp đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

Trang 24

7 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

Tác giả hệ thống hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước; Phân tích, tổng hợp lý luận và các nguồn tài liệu có liên quan đến đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp để xây dựng cơ sở

lý luận cho đề tài

7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi

Khảo sát công tác đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang thông qua Giáo viên, Lãnh đạo trường; Lãnh đạo quản lý doanh nghiệp bằng phương pháp phỏng vấn viết Để làm cơ sở người được hỏi trả lời ý kiến của mình bằng cách đánh dấu vào các ô tương ứng theo một quy ước

- Phương pháp chuyên gia

Khảo sát công tác đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang bằng phương pháp

sử dụng trí tuệ, khai thác ý kiến của Lãnh đạo quản lý nhà trường, Lãnh đạo quản lý doanh nghiệp nhằm đánh giá tính khả thi và cần thiết của đề tài

8 CẤU TRÚC LUẬN VĂN

Mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận về đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với

doanh nghiệp

Chương 2: Thực trạng về đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại

Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang

Chương 3: Biện pháp cho đào tạo nghề nghiệp vụ lễ tân trình độ trung cấp tại

Trường Cao đẳng nghề Kiên Giang theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

Kết luận – Khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 25

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

1.1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Nghiên cứu ngoài nước

Đã có nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu và ứng dụng mô hình đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp và mang lại hiệu quả cao trong đào tạo Một số quốc gia tiêu biểu như sau:

Tại CHLB Đức, mô hình “đào tạo kép” Theo mô hình này, việc đào tạo nghề

được tiến hành song song giữa NT với DN, sự kết hợp giữa việc học trong môi trường có sự gần gũi với thực tế sản xuất của DN và một cơ sở có năng lực chuyên môn về sư phạm, nghiệp vụ dạy nghề [19, 36] Theo đó, phía DN tập trung cung cấp các kiến thức và kỹ năng thực tế, còn nhà trường cung cấp khối kiến thức lý thuyết

về cơ bản Người học được trang bị các kiến thức và kỹ năng cơ bản tại các trường nghề, sau đó họ được rèn luyện và phát triển kỹ năng nghề nghiệp tại các cơ sở sản xuất DN được phép tham gia rộng rãi vào hoạt động đào tạo nghề thông qua các quy định của nhà nước được thể hiện cụ thể trong luật dạy nghề Theo Bộ Luật đào tạo nghề của Đức, quy định những điều lệ rất chi tiết và tích cực, trong đó luật nhấn mạnh trách nhiệm của xã hội đối với việc đào tạo nghề Bộ Luật còn là cơ sở pháp

lý cho hệ thống đào tạo kép thành hệ thống tiêu chuẩn chất lượng dạy nghề ở CHLB Đức Chi phí đào tạo do chính quyền Bang trả cho phần học tại trường theo chương trình, còn các doanh nghiệp trả chi phí trực tiếp cho việc đào tạo thực hành tại DN với mức trung bình 2 - 3% tổng quỹ tiền lương cho đào tạo ban đầu Mô hình hợp tác này có cơ chế quản lý là chính quyền Bang chịu trách nhiệm quản lý trường nghề và chính phủ Liên bang chịu trách nhiệm quản lý đào tạo nghề tại DN Việc dạy nghề tại DN đều do các DN trực tiếp tổ chức, song việc kiểm soát là do Công đoàn cùng với sự tham gia của các quan sát viên và hội đồng công nhân tại doanh

Trang 26

nghiệp thực hiện Công đoàn tham gia vào mọi công đoạn của hệ thống đào tạo kép trong doanh nghiệp từ quá trình lựa chọn HS cho đến duy trì một chương trình học hiện đại, kiểm soát chất lượng và bảo vệ công nhân khỏi nguy cơ như bị trả lương thấp hoặc không được đào tạo đầy đủ Mặt khác, mô hình hợp tác đào tạo nghề kép còn được thực hiện theo những quy chế do Chính phủ Liên bang quy định, như quy định theo nhu cầu cung cấp vị trí đào tạo của các DN Các DN được quyết định số lượng công nhân được đào tạo và đào tạo theo chuyên ngành nào, DN được quyền

tự lựa chọn các ứng viên được tham gia đào tạo Mô hình đào tạo kép đã khẳng định được tính ưu việt của nó, bởi người học được rèn luyện kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp và năng lực nghề nghiệp phù hợp với nhu cầu DN Vì vậy, trong những năm gần đây có rất nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng mô hình này cho đào tạo nghề, như: Phần Lan, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ…

Tại Na Uy, quốc gia được xem là sở hữu nhiều mô hình dạy nghề tiên tiến trên

thế giới, lại giàu kinh nghiệm trong việc quản lý hệ thống dạy nghề, chính vì vậy trong nhiều năm qua chất lượng đào tạo nghề tại quốc gia này liên tục tăng cao, đáp ứng hiệu quả yêu cầu hội nhập và phát triển Đặc biệt, nguồn nhân lực của Na Uy đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế, đóng góp khoảng 75% GDP Nhận thức được tầm qua trọng của công tác đào tạo nghề cũng như vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế, từ những năm 1994 cho đến nay, Chính phủ Na Uy liên tục có những cải cách về giáo dục - đào tạo, có tác động mạnh mẽ đến hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia này [37] Hệ thống giáo dục - dạy nghề của Na Uy đang sử dụng mô hình 2+2, tức là 2 năm học ở trường và 2 năm học thực tế tại nhà máy hoặc doanh nghiệp Tuy nhiên theo hướng linh hoạt hơn, việc thực tập không nhất thiết phải là 2 năm cuối cùng mà do doanh nghiệp và nhà trường lập kế hoạch đan xen trong quá trình 4 năm học Ngoài ra, dựa trên mô hình chung này, các tổ chức đào tạo nghề Na Uy đã thiết lập và xây dựng thêm nhiều mô hình biến thể linh hoạt và uyển chuyển như “mô hình 1+ 3” (1 năm học tại trường và 3 năm học nghề), “mô hình 0+4” (cả 4 năm đều học nghề); qua đó mang lại hiệu quả cao trong công tác đạo tạo và dạy nghề tại quốc gia này Ở Na Uy, những người lựa chọn con

Trang 27

đường học nghề sẽ kí hợp đồng với một công ty mà công ty này phải được cơ quan

có thẩm quyền công nhận là doanh nghiệp đào tạo Trong khoảng thời gian 2 năm thực hành về một ngành nghề cụ thể của học viên, doanh nghiệp cần phải bảo đảm nguyên tắc: ngay từ năm 1 sẽ cử các công nhân lành nghề hướng dẫn về kĩ thuật cho học viên; từ năm thứ 2 sẽ giảm bớt hướng dẫn, tăng việc tự học Học viên sẽ được hưởng lương học việc trong cả 2 năm học Sau khi kết thúc học việc, học viên sẽ được trao chứng chỉ công nhận hoàn thành khóa học và có thể bắt đầu tìm việc làm

để nuôi sống bản thân Điều cốt lõi ở đây là hầu hết các cơ sở dạy nghề ở Na Uy đều có được sự liên kết chặt chẽ đối với các đối tượng liên quan, đặc biệt là có sự hợp tác ba bên chặt chẽ của Tổ chức giới chủ, Công đoàn và đại diện Cơ quan giáo dục từ cấp quốc gia đến cấp tỉnh và địa phương Về nội dung chương trình đào tạo nghề sẽ do các tổ chức 3 bên cấp quốc gia có nhiệm vụ xây dựng giáo trình dạy nghề và tổ chức đào tạo nghề Nội dung đào tạo được soạn thảo dựa trên nguyên tắc: Xây dựng kiến thức cơ bản về đọc, viết, làm toán, khoa học, ngoại ngữ và các

kĩ năng thực tiễn

Tại Thái Lan, chính phủ và các cơ quan hữu trách rất coi trọng hệ thống thông

tin thị trường lao động ĐTN Đề cương ĐTN (chương trình đào tạo) được xây dựng thông qua việc nghiên cứu nhu cầu của thị trường lao động trong các vùng, miền, các DN có sử dụng lao động qua ĐTN [16]

Liên kết đào tạo giữa trường dạy nghề với doanh nghiệp tại Pháp theo mô hình đào tạo luân phiên (Alternation) do viện đào tạo luân phiên về xây dựng và công trình công cộng (IFABTP: Institut de Formation par Alternance du Batiment et des Travaux Publics) ở Pháp đề xuất [5] Mô hình này có một số đặc trưng sau:

- Về chương trình đào tạo: Đối với các lớp đào tạo chính quy nhà trường hoàn

toàn tuân thủ theo quy định chuẩn của quốc gia về chương trình giảng dạy, sau khi tốt nghiệp nhà trường cấp bằng nghề Doanh nghiệp tham gia gián tiếp thông qua các đại diện tới Ủy ban Giáo dục quốc gia Đối với các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ thì doanh nghiệp được tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chương trình, khi tốt nghiệp nhà trường cấp chứng chỉ

Trang 28

- Về tổ chức quá trình đào tạo: Viện và doanh nghiệp cùng kết hợp tổ chức

đào tạo các môn cơ bản, lí thuyết chuyên môn, thực hành cơ bản được dạy tại viện IFABTP, thực tập sản xuất được thực hiện tại các doanh nghiệp có sự tham gia giảng dạy của các cán bộ kỹ thuật của doanh nghiệp

Nhà trường:

Doanh nghiệp:

Hình 1.1: Mô hình hợp tác đào tạo luân phiên [19]

Đây là mô hình đào tạo liên kết được áp dụng rộng rãi ở Pháp và một số nước Bắc Âu Quá trình đào tạo được tổ chức tại NT và ở DN Học lý thuyết tổ chức tại trường trong giai đoạn đầu; Thực hành cơ bản và thực hành sản xuất được tổ chức luôn phiên nhau, xen kẽ ở nhà trường và DN Cuối khóa học HS được thi tốt nghiệp cuối khóa được tổ chức ở hai nơi, thi lý thuyết tại trường và thi thực hành tại doanh nghiệp

Khi nghiên cứu về lợi ích của hoạt động liên kết đào tạo, tổ chức Cedefop (European Centre for the Development of Vocational Training – Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu Âu), cũng như các tác giả: Kathrin Hoeckel, Rita Nikolai

và Christian Ebner, đã có những kiến giải khá toàn diện về lợi ích mang lại cho các bên tham gia thông qua con đường hợp tác đào tạo giữa NT với DN [29, 32, 33] Đặc biệt, từ năm 2005 đến năm 2009, Trung tâm Phát triển Đào tạo nghề châu

Âu (Cedefop) đã triển khai nghiên cứu về lợi ích liên kết đào tạo với DN theo nhiều hướng khác nhau tại 21 quốc gia châu Âu như: Cộng hoà Séc, Đan Mạch, Đức, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Cộng hoà Séc, Latvi, Hungary, Hà lan, Austria, Ba lan, Bồ đào nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần lan, Thụy điển và Vương quốc Anh cũng như Nauy và Iceland Để từ đó khẳng định: 2 nhóm lợi ích chính mà chương trình liên kết đào tạo nghề đem lại là: Lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Cả 2 nhóm lợi ích đều được phân tích cụ thể qua 3 cấp độ: cấp độ vi mô (lợi ích của cá nhân), cấp độ trung gian (lợi ích của DN) và cấp độ vĩ mô (lợi ích của xã hội) [35] Ngoài ra, các

Lý thuyết

Trang 29

thành viên của trung tâm Cedefop cũng rất quan tâm đến yếu tố tiền lương và cơ hội việc làm Theo họ, đây là những yếu tố tạo nên thành công của quan hệ hợp tác đào tạo

Các tác giả: Chana Kasipar, Se-Yung LIM, Alexander Schnarr, Wu Quanquan,

Xu Ying, Frank Bünning (2009); Chun Gyun Jung (2001); Rita Nikolai and Christian Ebner (2011), khi nghiên cứu về giải pháp thúc đẩy mối quan hệ hợp tác giữa NT và DN trong liên kết đào tạo cũng đã đề cập tới nhiều giải pháp liên kết mang lại hiệu quả tích cực như: đào tạo tại xí nghiệp, nơi sản xuất với vai trò chủ đạo thuộc về cơ sở sử dụng nhân lực [30, 31, 32] Theo tác giả Frank Bunning và Schnarr (2009) cần chú ý đến hoạt động xúc tiến chiến dịch cộng tác (strategic partnership) giữa các thành viên như: cá nhân; gia đình; cộng đồng; tổ chức tình nguyện; cơ sở đào tạo tư nhân; cơ sở đào tạo quốc gia; công nhân; người quản lý; chính phủ Vấn đề là phải tạo được sự thoải mái, tự nguyện trong liên kết [30] Khi nghiên cứu về những quy định, trách nhiệm đối với các bên trong quan hệ hợp tác, các tác giả: Chana Kasipar, Se-Yung LIM, Alexander Schnarr, Xu Ying, Frank Bünning (2009); Tazeen Fasih (2008), nhấn mạnh tới trách nhiệm, vai trò của

DN, các quy định về nghĩa vụ, khoản kinh phí đóng góp cho quỹ đào tạo, hỗ trợ phát triển nhân lực [30, 34] Các chính sách cho vay vốn với lãi suất ưu đãi; Chính sách khuyến khích doanh nghiệp tự đào tạo lao động thông qua việc cho phép doanh nghiệp tính chi phí đào tạo nhân lực vào chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm; chính sách đào tạo miễn phí thông qua một số dự án dạy nghề cho một số đối tượng lao động thuộc nhóm yếu thế trong xã hội Ngoài ra, cần có hệ thống chính sách hỗ trợ DN tham gia đào tạo như: Chính sách quy định trách nhiệm của DN khi tiếp nhận lao động qua đào tạo; Chính sách đối với chuyên gia, nhân viên kỹ thuật có tay nghề cao của doanh nghiệp tham gia đào tạo…; Chính sách sử dụng người lao động qua đào tạo, đặc biệt cần có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước về lao động với đại diện giới chủ, đại diện giới thợ, đại diện của các hội nghề nghiệp và cơ

sở dạy nghề trong việc xác định nhu cầu của DN về lao động và xây dựng danh mục, tiêu chuẩn nghề

Trang 30

Từ những phân tích trên cho thấy, mối quan hệ giữa NT và DN tại các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước phát triển là mối quan hệ bình đẳng, hai bên cùng

có lợi, không phải là chỉ hỗ trợ từ một phía Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã đưa

ra nhiều khuyến cáo cho các quốc gia, nhất là các nước đang phát triển trong việc ĐTN gắn với thị trường lao động nhằm giải quyết việc làm, gắn với việc phân công điều tiết lao động trong các vùng miền hoặc giữa các quốc gia Các chương trình này hiện đang được coi như một phương thức đào tạo có hiệu quả Việc gắn kết này thể hiện chủ yếu ở nội dung chương trình đào tạo, hình thức, phương pháp đào tạo, qui trình đào tạo và cách thức giải quyết việc làm sau đào tạo cho người học

1.1.2 Nghiên cứu trong nước

Đảng và Nhà nước Việt Nam đã khẳng định “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược,… Đẩy mạnh đào tạo nghề theo nhu cầu phát triển của xã hội; có cơ chế và chính sách thiết lập mối liên kết chặt chẽ giữa các doanh nghiệp với cơ sở đào tạo”

Gắn kết giữa nhà trường và doanh nghiệp có nhiều ưu điểm như người học nghề được học những nghề phù hợp với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp; các kiến thức và kỹ năng nghề mà người học tiếp thu được đáp ứng được lợi ích của cả người học và người sử dụng lao động Người học nghề ngoài việc học lý thuyết nghề tại trường còn được thực tập ngay trên các máy móc, thiết bị đang sử dụng tại doanh nghiệp, giúp cho người học có thể vận dụng được những kiến thức đã học, đồng thời nâng cao được kỹ năng nghề

Hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp, gắn kết giữa đào tạo và sử dụng lao động không chỉ là xu hướng mà còn là yêu cầu có tính khách quan để nâng cao chất lượng đào tạo, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh mạnh mẽ về nhân lực trên thị trường lao động trong nước, khu vực và thế giới

Xuất phát từ những lý do trên mà hoạt động gắn kết đào tạo giữa NT và DN đã được nghiên cứu, rút kinh nghiệm từ các nước tiên tiến trên thế giới và được vận dụng vào các chính sách của Việt Nam Điều này được cụ thể hoá trong Luật giáo

Trang 31

dục năm 2005, Quy chế trường nghề nhà nước năm 1993, Điều lệ trường cao đẳng nghề năm 2007 Luật giáo dục nghề nghiệp có hiệu lực 1 tháng 7 năm 2015, Điều lệ trường cao đẳng nghề năm 2015 Cụ thể ở Luật giáo dục nghề nghiệp, Chương I, điều 4 qui định mục tiêu của giáo dục nghề nghiệp là đào tạo nhân lực trực tiếp cho sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, có năng lực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo; có đạo đức, sức khỏe; có trách nhiệm nghề nghiệp; có khả năng sáng tạo, thích ứng với môi trường làm việc trong bối cảnh hội nhập quốc tế; bảo đảm nâng cao năng suất, chất lượng lao động; tạo điều kiện cho người học sau khi hoàn thành khóa học có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn Chương IV, luật giáo dục nghề nghiệp cũng đã qui định rõ ở Điều 30 và 31 về quyền và nghĩa vụ của DN trong hoạt động đào tạo nghề [22]

Nhìn chung, mô hình cho hình thức QHHT giữa NT với DN ở Việt Nam hiện nay thực hiện theo hai dạng như: Dạy nghề phối hợp giữa cơ sở đào tạo và DN (thực hiện tại cơ sở đào tạo và doanh nghiệp): Đây là mô hình đào tạo theo địa chỉ,

có kỹ năng chuyên sâu, lao động được phân phối, phân công theo nguyên tắc tuân thủ chấp hành; Dạy nghề tại xí nghiệp, dạy nghề tại nơi làm việc (thực hiện tại DN):

Là mô hình đào tạo theo hợp đồng, cam kết, có kỹ năng phù hợp và lao động tự chịu trách nhiệm Đáng chú ý là mô hình tổ chức hợp tác đào tạo giữa NT với DN trong Khu công nghiệp của các Trường CĐN Việt Nam - Singapore (tại khu công nghiệp Việt Nam - Singapore) [11] Theo đó, NT chịu trách nhiệm về hạ tầng cơ sở, tuyển dụng đội ngũ, cung cấp kinh phí hoạt động thường xuyên, Chính phủ Singapore cung cấp chương trình đào tạo, máy móc thiết bị, tổ chức đào tạo nâng cao nghiệp

vụ cho đội ngũ GV, cử chuyên gia cùng quản lý điều hành hoạt động, khu công nghiệp Việt Nam-Singapore hỗ trợ các chi phí phục vụ công tác quản lý, trang bị văn phòng, bố trí việc làm cho người học khi tốt nghiệp Với Trường CĐN Dung Quất: Trường không tuyển sinh tràn lan mà tuyển theo đơn đặt hàng của các DN, tập trung đào tạo các ngành mà các DN đang cần, trường nhận được sự hỗ trợ đắc lực từ phía DN như cung cấp trang thiết bị, chịu trách nhiệm hướng dẫn thực tập cho HS trong học kỳ DN của chương trình đào tạo Khu công nghiệp với các tập

Trang 32

đoàn kinh tế lớn có nhu cầu nhân lực cao là môi trường thuận lợi cho các CSĐT Đào tạo nhân lực tại chỗ, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo gắn với việc làm trở thành chất xúc tác quan trọng kết dính giữa CSĐT với DN Trên thực tế, các CSĐT trong khu công nghiệp nói chung, trong trường nghề nói riêng đã có quan hệ gắn kết với

DN trên các phương diện: Liên kết trong tuyển sinh; Liên kết về xây dựng nội dung chương trình; Liên kết về nguồn lực; Liên kết về giải quyết việc làm cho HS sau tốt nghiệp Tuy bước đầu thành công song mô hình trong QHHT đào tạo với DN trên chưa được nhân rộng vì nhiều lý do khách quan như: Phần lớn DN Việt Nam chưa

đủ mạnh để thành lập CSĐT thuộc DN cũng như CSĐT không đủ năng lực thành lập DN trong CSĐT; Cơ chế chính sách quy định trách nhiệm, quyền lợi của DN trong đào tạo nhân lực chưa đầy đủ, chưa phát huy hiệu lực, đã tác động không nhỏ đến mối quan hệ hợp tác của DN

Khi bàn về sự cần thiết xây dựng mối QHHT bền vững giữa NT với DN, các tác giả như Nguyễn Minh Đường - Phan Văn Kha (2006), Nguyễn Đức Trí (2008), nhấn mạnh và khẳng định tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải có mối quan

hệ hợp tác bền vững giữa NT với DN [12, 13] Theo đó, các tác giả cũng đã quan tâm tới quá trình tìm kiếm các nhóm giải pháp thúc đẩy hoạt động QHHT giữa NT

và DN Trong đó, đáng chú ý, như nhóm giải pháp mà tác giả Nguyễn Minh Đường

- Phan Văn Kha: Về nội dung, cơ chế quan hệ; Về thiết lập hệ thống thông tin về thị trường lao động; Về quy mô, cơ cấu đào tạo theo nhu cầu [9] Hay quan điểm của tác giả Dương Đức Lân (2007) và Trần Anh Tài (2009): Vấn đề cấp thiết hiện nay

là phân cấp triệt để và hợp lí nhằm phát huy tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các cấp và các CSĐT Các nghiên cứu cho rằng, phải mở rộng quyền tự chủ cho các CSĐT (với tư cách là người bán sản phẩm đào tạo) tương xứng với quyền tự chủ của các nhà sử dụng lao động, các DN (với tư cách là người mua sản phẩm đào tạo) [4, 26]

Như vậy, những giải pháp thúc đẩy hoạt động QHHT với DN hiện rất được quan tâm nhưng chỉ được nghiên cứu trên phương diện tổng thể đối với cả hệ thống ĐTN chưa đi sâu tới từng loại hình trường và trình độ đào tạo nghề cụ thể, đặc biệt

Trang 33

chưa có nhóm giải pháp dành cho các trường CĐN Những biện pháp liên quan tới quan hệ hợp tác giữa NT với DN trong đào tạo nguồn nhân lực, mà cụ thể là nhân lực trình độ cao đẳng nghề còn mờ nhạt, lẫn trong giải pháp thúc đẩy hoạt động liên kết nói chung và chưa được nghiên cứu cụ thể, tách bạch

Khi nghiên cứu về các điều kiện cơ bản đảm bảo thành công đào tạo gắn với nhu cầu DN, tác giả Phùng Xuân Nhạ (2009) nhận định: Cơ sở đào tạo phải được quyền tự chủ cao trong các quyết định có liên quan đến các hoạt động của quy trình đào tạo Trước hết, cần được tự chủ trong các quy định đầu vào, quy mô tuyển sinh, nội dung chương trình, thu nhập, đãi ngộ và thu chi tài chính Đào tạo theo nhu cầu của DN thì phải căn cứ vào nhu cầu và điều kiện của DN để đào tạo chứ không thể căn cứ vào các quy định chung, theo “kiểu may sẵn” để áp dụng cho “kiểu may đo” theo đơn đặt hàng của DN Cần có sự hỗ trợ của chính phủ, các địa phương để thúc đẩy hợp tác giữa trường và doanh nghiệp [18]

Trong những năm qua, Quốc hội và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản

có đề cập đến chủ trương thiết lập mối quan hệ giữa NT và DN Chẳng hạn, Luật Giáo dục năm 2005, Điều 59, Điều 95 có đề cập đến nhiệm vụ của NT và trách nhiệm của các cơ quan, hội nghề nghiệp, … "Liên kết với các tổ chức kinh tế…; giúp nhà trường tổ chức các hoạt động giáo dục, …", Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Điều 51, Điều 52 quy định quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp trong hoạt động giáo dục nghề nghiệp [21, 22] Tuy nhiên, cho đến nay chủ trương thiết lập mối liên kết giữa NT và DN mới chỉ dừng lại ở một số điều quy định chung trong các luật, còn rất thiếu các văn bản dưới luật, các thông tư hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là các chính sách để làm cơ sở pháp lý cho các trường cùng các DN thực hiện chủ trương QHHT và sử dụng lao động qua đào tạo Mặc dù mối quan hệ liên doanh, liên kết giữa trường dạy nghề và DN là mối quan hệ cung - cầu và quan hệ nhân - quả, mang lại lợi ích cho cả đôi bên, song trong khuôn khổ luật pháp hiện nay, các trường và các cơ sở sản xuất đang hoạt động với hai thể chế khác nhau: Trường là một cơ sở dịch vụ công không vụ lợi, hoạt động theo Luật Giáo dục và Luật Giáo dục nghề nghiệp, còn các cơ sở sản xuất là những DN lại hoạt động theo

Trang 34

Luật Doanh nghiệp, lấy lợi nhuận tối đa làm mục tiêu hoạt động của mình Hai cơ chế này hầu như hoàn toàn trái ngược nhau Do vậy, nếu không có những văn bản pháp quy làm cầu nối, dung hòa hai thể chế này thì khó có thể thực hiện được mối quan hệ hợp tác giữa trường và các DN một cách có hiệu quả và bền vững

Một số nghiên cứu trong nước gần đây đã khẳng định tầm quan trọng của việc đào tạo theo định hướng gắn NT với DN, như của tác giả Nguyễn Đình Luận (2015) khẳng định sự cần thiết của việc gắn kết bền vững giữa NT và DN trong đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển KT - XH Theo đó, tác giả đã đề cập đến những lợi ích cơ bản của quan hệ hợp tác giữa NT và DN và khẳng định cần phải có những giải pháp đồng bộ và tối ưu nhằm xây dựng và phát triển mối gắn kết bền vững này [10] Năm 2015, xuất phát từ nhu cầu cấp bách của việc phát triển KT - XH khu vực Tây Nam bộ, Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Tp HCM đã kết hợp với trường Đại học Cần Thơ và Trường CĐN Cần Thơ tổ chức Hội thảo đào tạo và phát triển nhân lực lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp cho khu vực Tây Nam Bộ [27] Hội thảo đã thu hút sự tham gia của nhiều nhà lãnh đạo, quản lý và nhà khoa học Thông qua hội thảo, các nhà khoa học cũng đã khẳng định tầm quan trọng của QHHT đào tạo và đề xuất nhiều giải pháp chiến lược để phát triển nhân lực thuộc lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp cho vùng đồng bằng sông Cửu Long, đồng thời đã khẳng định việc phát triển nhân lực khu vực Tây Nam Bộ là cần thiết và cấp bách cho việc phát triển KT - XH khu vực này trong giai đoạn hiện nay

Tác giả Bùi Văn Hồng (2015) khi nghiên cứu về đào tạo nguồn nhân lực trình độ trung cấp chuyên nghiệp theo định hướng gắn NT với DN, cũng nhận định rằng: Việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội không phải chỉ là trách nhiệm của các

cơ sở đào tạo, mà còn là trách nhiệm không nhỏ của bản thân các DN sử dụng lao động và cơ quan quản lý nhà nước Vì vậy, gắn NT với DN trong đào tạo có thể được hiểu là NT và DN cùng tham gia vào quá trình đào tạo nguồn nhân lực dựa trên sự hỗ trợ của cơ quan quản lý nhà nước, hoặc các quy định của luật pháp Đào tạo nguồn nhân lực theo hướng gắn NT với DN chính là đào tạo dựa trên quan hệ hợp tác bình đẳng giữa NT với DN trong đào tạo dựa trên sự hỗ trợ của các cơ chế

Trang 35

chính sách nhà nước phù hợp với pháp luật và được đại diện bởi cơ quan quản lý nhà nước về người lao động [1] Theo đó, tác giả đề xuất bốn giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trình độ trung cấp chuyên nghiệp theo định hướng gắn NT với DN Trong đó, các giải pháp áp dụng đối với NT và DN như

“Đầu tư trang thiết bị phục vụ đào tạo ở mức cơ bản” và các giải pháp nhằm tạo ra

cơ chế bảo vệ quyền lợi người lao động, cũng như ràng buộc thời gian làm việc của người lao động với DN đã tham gia đào tạo ra họ, tạo ra sự công bằng và bền vững cho quan hệ giữa NT với DN trong đào tạo Tuy nhiên, như đã phân tích trên đây,

do chưa có những quy định mang tính pháp lý, do văn hóa sử dụng lao động, do chưa xây dựng được “văn hóa” hợp tác, … nên việc xây dựng QHHT giữa NT và

DN trong đào tạo ở nước ta hiện nay gặp rất nhiều khó khăn và chưa đạt được kết quả như mong muốn

- Hiện tại, NT và DN với một mối quan hệ kém mặn mà, còn lỏng lẻo, mang tính đối phó, chắp vá, thời vụ chưa trở thành hoạt động chung của hai bên

Như vậy, điều cần làm để giải quyết tình trạng hiện nay không phải là tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gắn kết giữa NT với DN, hoặc kêu gọi DN hỗ trợ quá trình đào tạo của các trường để chứng tỏ trách nhiệm xã hội, mà là nhanh chóng tìm ra những giải pháp phù hợp cho từng loại hình trường cụ thể để vận dụng nhằm thúc đẩy QHHT giữa NT và DN trong đào tạo nguồn nhân lực Đó là vấn đề cấp thiết và còn mới mẽ đối với địa phương như ở tỉnh Kiên Giang và sẽ được triển khai nghiên cứu trong đề tài này

Trang 36

1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI

1.2.1 Đào tạo nghề

Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì đào tạo nghề là sự cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc nghề nghiệp được giao

Theo Phan Chính Thức: “ĐTN là quá trình phát triển một cách có hệ thống kiến thức, kỹ năng, thái độ và khả năng tìm được việc làm, tự tạo việc làm” [20]

Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11,

trong đó viết: “Dạy nghề (đào tạo nghề) là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học” [23]

Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch

vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Từ những khái niệm trên, “đào tạo nghề” trong luận văn này được hiểu là hoạt

động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học cũng xem như là giải pháp gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất nghiệp, thiếu việc làm cho người lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao trình độ dân trí,

Trang 37

công ty, cơ quan với nhiệm vụ tạo được ấn tượng vàng tốt đẹp, là trung gian nhận

và lưu chuyển các cuộc điện thoại gọi đến đúng chuẩn chuyên nghiệp Phụ trách các công việc hành chính như chấm công, quản lí văn phòng phẩm, đặt vé máy bay, đặt dịch vụ du lịch, khách sạn, Lễ tân là những người trực tiếp ảnh hưởng nhiều nhất đến ấn tượng của công ty, cơ quan trong lòng khách hàng Lễ tân chuyên nghiệp phải là người hiểu rõ hơn ai hết hoạt động của công ty, cơ quan vì khi cần thiết họ

sẽ phải giải đáp những thắc mắc của đối tác, khách hàng về công ty, cơ quan Lễ tân

là người quan sát nhiều nhất, lắng nghe nhiều nhất và thấu hiểu rõ nhất các sự việc diễn ra trong công ty, cơ quan, hiểu biết về văn hóa ứng xử giao tiếp, biết ngoại ngữ, biết sử dụng công nghệ thông tin…

Có 3 loại lễ tân:

Lễ tân ngoại giao là bộ phận của hệ thống nghi thức nhà nước gồm các hoạt

động đối ngoại giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ Quy định điều chỉnh: thông lệ quốc tế, tập quán quốc gia Nội dung: thủ tục thiết lập quan hệ ngoại giao Thăm chính thức

Lễ tân nội bộ quốc gia là các hoạt động diễn ra trong quá trình tiếp xúc, trao

đổi giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước

Lễ tân kinh doanh là các hoạt động diễn ra trong quá trình tiếp xúc, trao đổi

giữa các tổ chức kinh tế

Hoạt động lễ tân nói chung được thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật, tập quán

Trang 38

1.2.3 Quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp

Theo Từ điển Tiếng Việt: “Quan hệ là sự gắn bó chặt chẽ, có tác động qua lại với nhau” [28, tr 1361]; và “hợp tác là cùng chung sức làm việc, giúp đỡ, hỗ trợ lẫn nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó vì mục đích chung” [28, tr 848]

Như vậy, Quan hệ hợp tác trong đề tài này được hiểu “là sự kết hợp giữa các

đối tượng tham gia trên một hay nhiều phương diện với cách thức nhất định cùng thực hiện hoạt động nhằm đạt mục tiêu chung Quan hệ hợp tác sẽ phản ánh các mối liên kết chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, ràng buộc nhau giữa các thành phần trong một tổ chức hay giữa các tổ chức khác nhau.”

Về bản chất, quan hệ hợp tác được hợp thành bởi các yếu tố: Đối tượng (chủ thể) tham gia hoạt động hợp tác; Hình thức hợp tác; Nội dung hợp tác; Mục đích hợp tác Mặt khác, dù xét trên phương diện nào về bản chất, quan hệ hợp tác là hoạt động cộng đồng trách nhiệm giữa các chủ thể nhằm đạt mục đích mong muốn Nội hàm của khái niệm quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp trong phạm

vi đề tài này được xác định qua:

- Chủ thể quan hệ hợp tác: Là cơ sở đào tạo và doanh nghiệp (cơ sở sử dụng lao động)

- Mục đích quan hệ hợp tác: Tối đa hóa lợi ích các bên tham gia, đảm bảo mục tiêu phát triển nhân lực, đáp ứng yêu cầu xã hội

- Nội dung, hình thức quan hệ hợp tác: Theo thỏa thuận đã được thống nhất

Từ phân tích trên, Quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp trong đề

tài được hiểu “là tất cả mọi hình thức tương tác trực tiếp hay gián tiếp, có tính

chất cá nhân hay tổ chức giữa cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp cùng xây dựng

kế hoạch, tổ chức thực hiện trên cơ sở nhằm hỗ trợ lẫn nhau vì lợi ích của cả hai

và của cộng đồng và đảm bảo mục tiêu đã định”

Như vậy, QHHT giữa NT và DN được thực hiện vì lợi ích chung, sự hợp tác này sẽ mang lại lợi ích cho các trường tạo ra những “sản phẩm” gắn liền với yêu cầu thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động, giúp các doanh nghiệp xây dựng được lợi thế cạnh tranh trên thị trường, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Trang 39

trong xã hội, đóng góp vào sự phát triển kinh tế của một khu vực hay tầm quốc gia

Có thể thấy rằng, tính mục đích là tiêu điểm, là cơ sở hình thành quan hệ hợp tác, quan hệ hợp tác sẽ tạo ra sức mạnh mới, trạng thái mới mà mỗi thành phần sẽ không có được khi chưa hợp tác với nhau Như vậy, giữa NT và DN nếu hình thành mối quan hệ hợp tác cũng sẽ tạo được sức mạnh cho cả hai bên trong hoạt động của mình mà cụ thể là hoạt động đào tạo Vì vậy quan hệ hợp tác trong luận văn này chính là quan hệ hợp tác đào tạo hay là sự liên kết đào tạo

1.3 ĐÀO TẠO NGHỀ THEO ĐỊNH HƯỚNG GẮN NHÀ TRƯỜNG VỚI DOANH NGHIỆP

1.3.1 Đặc điểm đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp

Xuất phát từ các khái niệm “Đào tạo nghề” và “Quan hệ hợp tác giữa nhà trường với doanh nghiệp” như đã trình bày ở mục {1.2.1} và {1.2.3}, đào tạo nghề theo định hướng gắn nhà trường với doanh nghiệp có những đặc điểm cơ bản sau:

- Tính thống nhất và linh hoạt của chương trình đào tạo: Chương trình đào

tạo được phát triển dựa trên sự thống nhất về yêu cầu năng lực nghề nghiệp theo vị trí việc làm của người lao động mà doanh nghiệp có nhu cầu tuyển dụng và những quy định chung của cơ quan quản lý nhà nước Trên cơ sở thống nhất giữa các bên liên quan, chuẩn đầu ra và nội dung chương trình đào tạo được xác định Bên cạnh

đó, mỗi doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất khác nhau, nên nhu cầu về năng lực người lao động cũng khác nhau Vì vậy, chương trình đào tạo cho phép thay đổi một số nội dung học tập phù hợp với đặt hàng của từng doanh nghiệp, hoặc nhóm doanh nghiệp khác nhau

- Tính trách nhiệm và bình đẳng của nhà trường và doanh nghiệp: Trong

hợp tác, yếu tố quyết định thành công là các bên phải cùng có lợi ích Doanh nghiệp luôn yên tâm có một đội ngũ nhân lực vững chắc hỗ trợ khi mình có nhu cầu Đồng thời doanh nghiệp ít tốn chi phí tuyển dụng, thử việc, vì qua thời gian thực tập chính

là thời gian học sinh thể hiện năng lực, doanh nghiệp đánh giá khả năng, năng lực, phẩm chất của học sinh Nói cách khác là doanh nghiệp có thêm quyền và cơ hội

Trang 40

lựa chọn và sử dụng nguồn lao động chất lượng, có trình độ, từ đó giải quyết được bài toán nan giải về nhân lực Được phép đánh giá chất lượng đào tạo (phát huy mặt mạnh khắc phục những mặt yếu kém) và đóng góp ý kiến vào việc xây dựng chương trình đào tạo của nhà trường Nhà trường được hỗ̃ trợ tài chính, cơ sở vật chất và đội ngũ chuyên gia tham gia giảng dạy Doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi khi chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường được đảm bảo bởi đầu ra quá trình đào tạo của nhà trường là đầu vào của quá trình tuyển dụng, sử dụng lao động của doanh nghiệp Từ đó doanh nghiệp có thêm cơ hội quảng bá thương hiệu, hình ảnh của doanh nghiệp Doanh nghiệp sớm tiếp nhận những thông tin về khoa học, công nghệ Doanh nghiệp có thể đặt hàng các đề tài nghiên cứu khoa học có chất lượng

và thiết thực từ nhà trường nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp Nhà trường được tổ chức tuyển dụng tư vấn về việc sửa đổi và xây dựng nội dung chương trình đào tạo Góp phần nâng cao năng lực và trình độ chuyên môn cho người học Tham gia các đề tài nghiên cứu khoa học và tổ chức các buổi tọa đàm, hội thảo chung Trao đổi các thông tin về khoa học, công nghệ tiên tiến và nhu cầu về nguồn nhân lực trong thời điểm hiện tại và tương lai Nhà trường nâng cao được chất lượng đào tạo cũng như tìm được đầu ra phong phú cho người học, từ đó nâng cao uy tín của nhà trường trước những yêu cầu của thị trường lao động đa dạng và luôn biến động Nhà trường tạo được tiếng vang trong giáo dục và đào tạo, gây uy tín cũng như duy trì mối liên kết bền vững giữa nhà trường và doanh nghiệp Nhà trường có thể tăng cường tính tự chủ về nguồn tài chính cũng như cơ sở vật chất ở hiện tại và tương lai

- Tính bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ của người học: Học sinh có cơ

hội lựa chọn địa điểm thực tập phù hợp sẽ tạo cho học sinh nắm bắt được môi trường thực tế, phát triển được kỹ năng giải quyết những vấn đề phát sinh Chính bản thân của học sinh, sẽ có được yếu tố linh động, mềm mại, uyển chuyển hơn trong xã hội Thực tập, kiến tập tại doanh nghiệp giúp học sinh, mở rộng mối quan

hệ của mình Các đợt thực tập thực tế giúp họ hiểu rõ hơn những bài học lý thuyết Với kinh nghiệm thực tập họ sẽ tự tin, sẵn sàng nhận công việc được giao sau khi ra

Ngày đăng: 11/01/2022, 22:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w