Tính cấp thiết của đề tài Công nợ là một vấn đề phức tạp, nhưng rất quan trọng vì nó tồn tại trong suốt quá trình kinh doanh, công nợ ảnh hưởng rất lớn và trực tiếp đến hiệu quả kinh do
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG NỢ VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN CỦA DOANH NGHIỆP
Khái quát về tình hình công nợ của doanh nghiệp
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của công nợ đối với doanh nghiệp a Khái niệm công nợ
Trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên phát sinh các mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người mua, người bán; giữa doanh nghiệp với cán bộ, công nhân viên,… Các quan hệ thanh toán này là cơ sở phát sinh các khoản phải thu, khoản phải trả Các khoản phải thu, các khoản phải trả giữa các đối tượng trên được hiểu chung là công nợ
“Công nợ là một thuật ngữ kinh tế đề cập đến quyền lợi cũng như nghĩa vụ mà mỗi doanh nghiệp đối với các khoản vốn do doanh nghiệp chiếm dụng hoặc bị chiếm dụng bởi các đối tượng bên ngoài.”
Hay nói một cách khác, công nợ xuất hiện khi doanh nghiệp phát sinh thanh toán tiền trong kỳ hoặc phát sinh các nghiệp vụ mua, bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ… với một cá nhân/ tổ chức hoặc doanh nghiệp khác, số tiền còn lại nợ sang kỳ sau được gọi tắt là công nợ b Đặc điểm công nợ
* Phạm vi và quy mô công nợ
- Phạm vi : công nợ có thể phát sinh ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực trên toàn thế giới Ở bất cứ khu vực nào khi có các giao dịch mua và bán, khi có các nghiệp kinh tế phát sinh, khối lượng hàng hóa được trao đổi mua bán thì ở đó đều có thể phát sinh công nợ Do vậy phạm vi của công nợ rất lớn nó hiện hữu trong toàn bộ nền kinh tế Đôi khi chính công nợ hay chính sách mua bán chịu lại kích thích hàng hoá lưu thông và duy trì được hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và các thành phần kinh tế, các tổ chức, các cá nhân Hiện nay với xu thế hội nhập quốc tế, chính sách buôn bán giữa các quốc gia thông thoáng hơn, vì vậy công nợ phát sinh không chỉ trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mà đã
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 5 vượt ra ngoài phạm vi quốc gia Chính vì vậy các doanh nghiệp cần chú ý để có thể thu hồi được tất cả các khoản công nợ phát sinh của doanh nghiệp, đảm bảo các khoản thu được thu hồi đầy đủ, đúng thời gian, hạn chế thấp nhất các rủi ro có thể gặp phải khi giao dịch mua bán Để làm được điều này thì các nhà quản trị tài chính phải được trau dồi những kiến thức nhất định về công nợ, về thương mại quốc tế Đối với các khoản phải trả doanh nghiệp cũng cần phải chú ý là thanh toán đúng thời hạn, tránh để nợ tồn đọng, dây dưa kéo dài ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp trên thương trường
- Quy mô: Trong quan hệ giao dịch mua bán hiện nay hình thức thanh toán trả chậm chiếm tới 80% trong các giao dịch Giá trị của từng hóa đơn bán chịu hay của từng tín dụng thương mại thể hiện lượng tiền hay tài sản mà các đơn vị đối tác nợ doanh nghiệp Quy mô của công nợ phát sinh lớn hay nhỏ tùy thuộc vào tính chất của hàng hoá trên thị trường Quy mô của công nợ nói lên số lượng tiền nợ nhiều hay ít Trên diện rộng, đối với từng chủ nợ, khách nợ thì quy mô của công nợ được thể hiện là tổng tài sản mà doanh nghiệp nợ các đối tác và các đối tác và các đơn vị kinh tế khác nợ doanh nghiệp Bên cạnh đó thì tiềm lực tài chính cũng quyết định quy mô công nợ và chính sách tín dụng mà doanh nghiệp áp dụng Nếu doanh nghiệp cho phép các hoá đơn thanh toán được thanh toán chậm trả nhiều thì quy mô công nợ sẽ lớn và ngược lại Tiềm lực tài chính của doanh nghiệp mạnh, doanh nghiệp muốn tăng doanh số bán ra và các hóa đơn được thanh toán chậm trả thì quy mô công nợ sẽ ngày càng tăng Doanh nghiệp nên áp dụng chính sách tín dụng thương mại phù hợp và nghiên cứu kỹ lưỡng về khách hàng để chính sách bán chịu không phải chịu rủi ro và đảm bảo các khoản thu được thu hồi nhanh chóng, chi phí thu hồi công nợ thấp Tuy nhiên các doanh nghiệp không nên để các đơn vị và các đối tác kinh doanh chiếm dụng vốn nhiều ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp
Thời hạn công nợ là khoảng thời gian kể từ khi một doanh nghiệp ký hóa đơn mua/ bán chịu đến khi hoá đơn đó được thanh toán Đây chính là giới hạn thời gian để doanh nghiệp có các biện pháp thu hồi các khoản nợ phải thu và thanh toán các khoản nợ phải trả Đối với các doanh nghiệp có tiềm lực tài chính mạnh thì trong chính sách tín dụng thương mại, để tăng tính hấp dẫn với khách hàng doanh nghiệp có thể gia tăng thời hạn trả nợ Nhưng khi đó doanh nghiệp phải đầu tư lớn vào các khoản phải thu, nợ kéo dài sẽ tăng, bù lại sẽ thu hút thêm được nhiều khách hàng mới, doanh thu tiêu thụ sẽ tăng lên Như vậy một quyết định tăng hay giảm thời hạn bán chịu cần xem xét cân nhắc kỹ giữa chi phí phải bỏ ra và lợi nhuận đem lại
Doanh nghiệp nên xác định cho mình một thời hạn công nợ mà có lợi cho mình nhất nhưng đồng thời cũng phải có lợi cho bên thanh toán để công nợ được thu hồi nhanh chóng, đầy đủ hạn chế được rủi ro và chi phí để thu hồi công nợ Đồng thời phải đẩy mạnh được bán ra
Khi xem xét thời hạn công nợ chúng ta cần chú ý đến các tiêu thức sau:
- Thời hạn nợ trung bình
- Kỳ hạn trả nợ: tính đến thời gian mà trong thời hạn thanh toán giữa doanh nghiệp và các đối tác đã được thỏa thuận, đến thời hạn đó thì các khoản nợ phải được thanh toán
- Thời hạn cho vay và trả nợ: là thời gian mà các khoản nợ chưa phải thanh toán Tính từ lúc khách hàng ký nhận nợ đến khi các khoản nợ được thanh toán Thời hạn trả nợ: là lúc mà các khoản nợ đến hạn thanh toán Thông thường các doanh nghiệp thường để cho thời hạn trả nợ được dao động trong một khoảng thời gian ngắn nhất định Trong khoảng thời gian đó thì các khoản nợ sẽ được thanh toán
Lãi suất là một trong những biến số được theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh tế Nó không những ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định của các nhà doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các cá nhân mà còn ảnh hưởng đến các tổ chức kinh tế, các cá nhân mà còn ảnh hưởng đến biến động của nền kinh tế Để hiểu thực chất về lãi suất, ta cần hiểu kỳ hạn trả nợ, điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, lãi suất quá hạn, khái niệm về lãi suất hoàn vốn là một khái niệm quan trọng để xem xét mức lãi suất nào là mức lãi suất có thể chấp nhận được, do đó sự khác nhau giữa một đồng nhận được hôm nay và một đồng nhận được trong tương lai
Lãi suất của công nợ không tính riêng và trả riêng lãi suất của ngân hàng mà được tính vào giá bán của sản phẩm hàng hóa và được thanh toán cùng khi thanh toán hết thời hạn tín dụng
Khi doanh nghiệp bán hàng theo chính sách cấp tín dụng thương mại cho khách hàng thì giá bán hàng thanh toán trả chậm sẽ bằng giá bán hàng thanh toán ngày cộng thêm phần lãi suất Phần lãi suất này sẽ được tính trên phần giá trị của lô hàng bán với thời hạn thanh toán chậm trả Nếu khách hàng thanh toán tiền lô hàng trong thời hạn tín dụng thì khách hàng sẽ được hưởng chiết khấu thanh toán Thực chất đó không phải là do doanh nghiệp giảm giá cho khách hàng mà đó chính là phần lãi suất mà khách hàng phải trả nếu khách hàng thanh toán sau
Trường hợp mà sau khi gia hạn nợ mà khách hàng vẫn chưa thanh toán được doanh nghiệp thì doanh nghiệp sẽ xử lý nợ phải trả theo từng cấp độ, bình thường sẽ chuyển sang nợ quá hạn và ép bên nợ phải trả lãi nợ quá hạn Lãi nợ quá hạn thường gấp 1,5 lần lãi suất cho vay cao nhất của tổ chức tín dụng tại thời điểm chuyển sang nợ quá hạn
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 8 c Vai trò công nợ
Công nợ có vài trò quan trọng trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty Một số vai trò như:
Giúp doanh nghiệp giảm áp lực về vốn: Vốn là yếu tố đầu vào cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là điều kiện vật chất không thể thiếu trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Để đảm bảo quá trình sản xuất tiến hành một cách liên tục, doanh nghiệp cần đảm bảo đẩy đủ, kịp thời về vốn kinh doanh Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có thể đi chiếm dụng vốn của khách hàng như mua chịu nguyên vật liệu, để gia tăng lượng vốn, mở rộng sản xuất kinh doanh Khi doanh nghiệp thiếu vốn kinh doanh, doanh nghiệp cần xem xét đi vay các tổ chức ngoài để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp
Khái quát về khả năng thanh toán của doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm khả năng thanh toán của doanh nghiệp
“Khả năng thanh toán của doanh nghiệp là khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để ứng phó đối với các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp theo thời hạn phù hợp.”
Khả năng thanh toán là một thuật ngữ dùng đề chỉ khả năng thực hiện các khoản phải thu, các khoản phải trả của một số tổ chức kinh tế, của ngân hàng, của ngân sách nhà nước trong một thời kỳ nhất định Với mỗi đối tượng cụ thể nó lại có một cách định nghĩa khác nhau: Đối với doanh nghiệp: Khả năng thanh toán là khả năng của một doanh nghiệp có thể hoàn trả các khoản nợ đến hạn Khi một doanh nghiệp, một công ty mất khả năng thanh toán, tòa án tuyên bố phá sản, vỡ nợ Khả năng thanh toán của doanh nghiệp thể hiện trên nhiều mặt khác nhau như: khả năng thanh toán chung ( khả năng thanh toán tổng quát), khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, khả năng thanh toán nhanh, tức thời… Một doanh nghiệp có khả năng thanh toán cao là doanh nghiệp luôn có đủ năng lực tài chính (tiền, tương đương tiền, các loại tài sản ) để bảo đảm thanh toán các khoản nợ cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ với doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh Trên thực tế, có khá nhiều doanh nghiệp mặc dù khả năng thanh toán chung rất cao nhưng khả năng thanh toán nợ ngắn hạn hay khả năng thanh toán nhánh, tức thời không đảm bảo Tương tự cũng khá nhiều doanh nghiệp có thừa khả năng thanh toán tức thời hay khả năng thanh toán nhanh nhưng lại không đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn và khả năng thanh toán tổng quát… Chính vì vậy, việc đánh giá khái quát khả năng thanh toán của doanh nghiệp phải được xem xét đầy đủ, toàn diện về khả năng thanh toán tổng quát, khả năng thanh toán nợ ngắn hạn, nợ dài hạn, khả năng thanh toán nhanh và khả năng thanh toán tức thời
Mặc dù có khá nhiều quan điểm cũng như chỉ tiêu sử dụng khi đánh giá về khả năng thanh toán nhưng hầu hết đều thống nhất: Khả năng thanh toán tổng quát của một doanh nghiệp thể hiện ở khả năng chung trong việc trang trải các khoản nợ nói chung về mặt tổng thể, trong thời gian dài; còn khả năng thanh toán ngắn hạn dùng để đo lường khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp như nợ và các khoản phải trả bằng các tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp như tiền mặt, các khoản phải thu, hàng tồn kho Phân tích khả năng thanh toán ngắn hạn là việc đánh giá khả năng đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ có thời hạn trong vòng một năm Và khả năng thanh toán dài hạn là chỉ tiêu đánh giá đáp ứng nghĩa vị trả nợ có thời hạn trên một năm bao gồm việc phân tích khả năng thanh toán nợ dài hạn và khả năng thanh toán lãi vay
Trong nền kinh tế thị trường, khả năng thanh toán là chỉ khả năng của người tiêu thụ có đủ sức mua bằng tiền để mua hàng hóa trên thị trường
1.2.2 Phân loại khả năng thanh toán
➢ Dựa vào đặc điểm của hoạt động thanh toán, khả năng thanh toán chia thành: o Thanh toán các khoản phải thu o Thanh toán các khoản phải trả
➢ Dựa vào đối tượng thanh toán, khả năng thanh toán chia thành: o Thanh toán với nhà cung cấp o Thanh toán với cấp trên và ngân sách nhà nước o Thanh toán với khách hàng o Thanh toán với công nhân viên chức trong doanh nghiệp o Thanh toán nội bộ doanh nghiệp o Thanh toán với ngân hàng và tổ chức tín dụng o Thanh toán với đối tượng khác
➢ Dựa vào thời hạn thanh toán, khả năng thanh toán chia thành: o Thanh toán các khoản nợ ngắn hạn
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 20 o Thanh toán các khoản nợ dài hạn
1.2.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp 1.2.2.1 Ảnh hưởng của các nhân tố khách quan
• Sự biến động của tỷ giá hối đoái : trong doanh nghiệp, đôi khi phát sinh những hợp đồng với các đối tác nước ngoài do đó nhu cầu thanh toán phụ thuộc rất nhiều vào sự biến động của tỷ giá, do đó khả năng thanh toán cũng bị ảnh hưởng
• Sự phát triển của thị trường tài chính : Kinh tế hàng hoá và thị trường luôn là những khái niệm gắn bó với nhau Những hàng hoá thông thường được mua bán trên thị trường hàng hoá thông thường, còn những hàng hoá đặc biệt, tài sản tài chính, lại được mua bán trên thị trường đặc biệt - thị trường tài chính
Do chu kỳ về thu nhập, chi tiêu và đầu tư khác nhau nên ở mỗi thời điểm nhất định trong nền kinh tế, về phương diện tài chính, luôn tồn tại hai nhóm người nhóm người đi vay và nhóm người cho vay Thị trường tài chính là thị trường trong đó vốn được chuyển từ người hiện có Vốn dư thừa (người cho vay) sang những người thiếu vốn (người đi vay) Thị trường này thực hiện chức năng kinh tế Cơ bản bằng cách truyền dẫn vốn từ người tiết kiêm sang những nhà đầu tư Đối với doanh nghiệp, thị trường tài chính không chỉ là nơi để họ huy động vốn với các kỳ hạn khác nhau mà còn là nơi giúp họ nâng cao khả năng thanh toán, đáp ứng được các nhu cầu thanh toán ngắn hạn Giả sử một doanh nghiệp có nhu cầu tiền cấp bách, thông qua thị trường tài chính, họ có thể bán các chứng khoán mà mình nắm giữ để đáp ứng nhu cầu tiền trước mắt
• Nhân tố thị trường cạnh tranh : Là một chủ thể kinh tế, khả năng thanh toán của doanh nghiệp gắn bó chặt chẽ với nhân tố thị trường Thị trường chính là môi trường hoạt động của doanh nghiệp Trong môi trường này, các doanh nghiệp phải tự đổi mới, nâng cao chất lượng sản phẩm, đồng thời phải cạnh | tranh với nhiều doanh nghiệp khác để chiếm lĩnh thị trường Một doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường sẽ dễ dàng trì hoãn được các khoản nợ đến hạn,
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 21 đồng thời có khả năng dễ dàng trì hoãn được các khoản nợ đến hạn, đồng thời có khả năng chuyển hàng tồn kho thành tiền một cách nhanh chóng, do đó đáp ứng được nhu cầu thanh toán một cách nhanh nhất
1.2.2.2 Ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan
• Cơ cấu tài sản và cơ cấu tài sản lưu động : Cơ cấu tài chính là tỷ trọng giữa các nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn của doanh nghiệp Một doanh nghiệp có tổng các khoản nợ ngắn hạn lớn hơn tài sản lưu động của mình thì tình hình tài chính của doanh nghiệp đó là thiếu lành mạnh, khả năng thanh toán quá yếu kém Trong các nguồn tài trợ của doanh nghiệp, nợ ngắn hạn là nguồn tài trợ có chi phí tương đối nhỏ song nó lại yêu cầu doanh nghiệp phải theo dõi một cách chặt chẽ, sát sao bởi vì nó gây áp lực nên hoạt động thanh toán của doanh nghiệp Khả năng doanh nghiệp có thể trì hoãn các khoản là rất thấp hoặc nếu có trì hoãn được thì chi phí cũng sẽ rất cao Thông thường các doanh nghiệp cố gắng duy trì mức nợ ngắn hạn bằng 50% tổng tài sản lưu động Tuy nhiên, việc duy trì tỷ trọng nợ ngắn hạn trong cơ cấu tài chính của doanh nghiệp còn phụ thuộc vào nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, khả năng huy động các nguồn vốn dài hạn, khả năng linh hoạt về tài chính của doanh nghiệp
• Hiệu quả sử dụng vốn lưu động : Doanh nghiệp sử dụng vốn hợp lý sẽ tạo điều kiện bảo toàn và phát triển vốn, tránh được lãng phí vốn, đồng thời tạo được uy tín với bạn hàng Việc doanh nghiệp tiết kiệm được nhiều vốn lưu động sẽ giúp doanh nghiệp một cách gián tiếp nâng cao khả năng thanh toán Vì vậy, trong quản lý vốn lưu động, doanh nghiệp cần xác định được lượng vốn lưu động cần thiết trong kỳ kinh doanh, nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu nhằm ngăn chặn hiện tượng chiếm dụng vốn, tránh ứ đọng vốn, thúc đẩy tốc độ luân chuyển vốn và thường xuyên tiến hành phân tích tình hình sử dụng vốn lưu động nhằm có các biện pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp
• Quan hệ với khách hàng và các nhà cung cấp : Một doanh nghiệp có quan hệ tốt với khách hàng và nhà cung cấp thì có rất nhiều điều kiện thuận lợi trong hoạt động kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp có thể tận dụng nguồn vốn bằng cách mua bán hàng hoá chịu lẫn nhau Đây là hình thức tín dụng nhà cung cấp hay tín dụng thương mại Hình thức tín dụng này xuất hiện do sự cách biệt giữa sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, gây ra hiện tượng có một số nhà doanh nghiệp có hàng hoá muốn bán nhưng không có nhu cầu ngay về tiền mặt trong khi đó có một số doanh nghiệp khác muốn mua nhưng không có tiền Trong điều kiện như vậy, doanh nghiệp với tư cách là người bán có thể bán chịu hàng hoá của mình cho người mua, mà thực chất là cho vay dưới dạng hàng hoá, dịch vụ và sẽ thu lại giá trị cho vay cùng với lợi tức bằng tiền Ngược lại, với tư cách là người mua, doanh nghiệp có thể mua chịu hàng hoá Nguồn này trong bảng cân đối của doanh nghiệp dưới dạng khoản phải trả người bán và phải thu người mua Một doanh nghiệp có mối quan hệ tốt với nhà cung cấp không chỉ tận dụng được các khoản tín dụng thương mại với các điều kiện ưu đãi mà còn có khả năng trì hoãn các khoản nợ phải trả với chi phí thấp hơn, giúp giảm bớt áp lực lên hoạt động thanh toán Thêm vào đó, một doanh nghiệp có uy tín với người mua sẽ khiến cho khách hàng tín nhiệm tin tưởng, do đó sẽ có ý thức thanh toán cho doanh nghiệp một cách đúng hạn nghiêm chỉnh hơn Doanh nghiệp giảm được ít nhiều nguy cơ bị chiếm dụng vốn, hàng hoá tiêu thụ được dễ dàng hơn, nâng cao được khả năng thanh toán Trong hoạt động thanh toán của mình, doanh nghiệp phải nắm rõ được các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng thanh toán của mình để có thể hạn chế được các tác động tiêu cực, cũng như tận dụng được những ưu thế mà chúng tạo ra
Nội dung phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của DN
Phân tích tình hình công nợ sẽ đánh giá được vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng như thế nào? Và doanh nghiệp đã đi chiếm dụng vốn ra sao? Trong kinh doanh, việc chiếm dụng và đi chiếm dụng vốn là điều bình thường do luôn phát sinh các quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các đối tượng như nhà nước, khách hàng, nhà cung cấp v.v Điều làm các nhà quản trị doanh nghiệp lo ngại là các khoản nợ dây dưa, lòng vòng khó đòi, các khoản phải thu không có khả năng thu hồi và các khoản phải trả không có khả năng thanh toán Để nhận biết điều đó cần phân tích tình hình công nợ để thấy được tính chất hợp lý của các khoản công nợ Xét về tổng thể, trong mối quan hệ giữa các khoản công nợ phải thu và các khoản công nợ phải trả thì nếu các khoản công nợ phải thu lớn hơn các khoản công nợ phải trả khi đó doanh nghiệp bị chiếm dụng vốn Ngược lại, nếu các khoản công nợ phải thu nhỏ hơn các khoản công nợ phải trả thì doanh nghiệp đang chiếm dụng vốn của người khác Chiếm dụng và bị chiếm dụng vốn là điều bình thường, song nhất thiết phải xét tính chất hợp lý của từng khoản công nợ để có giải pháp quản lý phù hợp tránh hiện tượng dây dưa, lòng vòng khó đòi b) Chỉ tiêu phân tích
Có 2 nhóm chỉ tiêu phản ánh tình hình công nợ:
➢ Nhóm chỉ tiêu phản ánh quy mô công nợ:
• Chỉ tiêu các khoản phải thu và các khoản phải trả trên bảng cân đối kế toán
• Tổng các khoản phải thu và tổng các khoản phải trả
➢ Nhóm chỉ tiêu phản ánh cơ cấu, trình độ quản trị nợ gồm: Hệ số các khoản phải thu, phải trả; Hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả;
Hệ số thu hồi nợ, kỳ thu hồi nợ; Hệ số hoàn trả nợ, kỳ trả nợ Các chỉ tiêu này được xác định bằng công thức sau:
• Hệ số các khoản phải thu = Các khoản phải thu
Chỉ tiêu này thể hiện mức độ bị chiếm dụng vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần vốn bị chiếm dụng
• Hệ số các khoản phải trả = Các khoản phải trả
Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đi chiếm dụng vốn của doanh nghiệp Chỉ tiêu này cho biết trong tổng tài sản của doanh nghiệp có bao nhiêu phần được tài trợ bằng nguồn vốn đi chiếm dụng
• Hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả được xác định
Các khoản phải trả Chỉ tiêu này phản ánh các khoản doanh nghiệp bị chiếm dụng so với các khoản đi chiếm dụng Nếu hệ số này trả lớn hơn 1 chứng tỏ số vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn hơn số vốn mà doanh nghiệp đi chiếm dụng Ngược lại, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 chứng tỏ số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng nhỏ hơn số vốn đi chiếm dụng
• Hệ số thu hồi nợ = Doanh thu thuần từ BH&CCDV
Các khoản phải thu ngắn hạn bình quân
Hệ số này cho biết trong kì các khoản phải thu ngắn hạn của doanh nghiệp quay được bao nhiêu vòng
• Kỳ thu hồi nợ bình quân = Thời gian trong kỳ báo cáo
Hệ số thu hồi nợ
Trong đó thời gian trong kỳ báo cáo có thể là 30 ngày ( kỳ báo cáo theo tháng), 90 ngày ( kỳ báo cáo theo quý), 360 ngày (kỳ báo cáo theo năm)
Kì thu nợ cho biết trung bình sau bao nhiêu ngày thì doanh nghiệp thu được nợ
Hệ số thu hồi nợ, kì thu hồi nợ phản ánh tốc độ luân chuyển các khoản phải thu, khả năng thu hồi nợ của doanh nghiệp trong kì Hệ số thu hồi nợ càng cao, thời hạn thu nợ càng ngắn và tốc độ luân chuyển các khoản phải thu, khả năng thu được nợ của doanh nghiệp càng cao
• Hệ số hoàn trả nợ = Doanh thu thuần từ BH&CCDV
Các khoản phải trả ngắn hạn bình quân Chỉ tiêu này cho biết bình quân trong kỳ doanh nghiệp hoàn trả được bao nhiêu lần vốn đi chiếm dụng trong khâu thanh toán cho các bên có liên quan
• Kỳ thu hồi nợ bình quân = Thời gian trong kỳ báo cáo
Hệ số hoàn trả nợ Chỉ tiêu này phản ánh bình quân kỳ trả nợ chiếm dụng trong thanh toán của doanh nghiệp là bao nhiêu ngày
Các chỉ tiêu phản ánh cơ cấu và trình độ quản trị nợ có thể chi tiết theo yêu cầu quản trị: chẳng hạn có thể chi tiết theo thời gian, theo đối tượng nợ c) Phương pháp phân tích
Khi phân tích tình hình công nợ, sử dụng phương pháp so sánh để tiến hành so sánh các chỉ tiêu quy mô, hệ số các khoản phải thu, hệ số các khoản phải trả, hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả giữa cuối kỳ với đầu kỳ; so sánh các chỉ tiêu hệ số thu hồi (hoàn trả) nợ, thời hạn thu hồi (hoàn trả) nợ bình quân giữa kỳ này với kỳ trước (năm nay với năm trước) Đồng thời căn cứ vào trị số của từng chỉ tiêu, kết quả so sánh, tình hình thực tế của doanh nghiệp, của ngành để đánh giá tình hình công nợ của doanh nghiệp trong kỳ
1.3.2 Phân tích khả năng thanh toán a) Mục đích phân tích
Khả năng thanh toán là khả năng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để ứng phó đối với các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp theo thời hạn phù hợp Thông qua phân tích khả năng thanh toán có thể đánh giá thực trạng khả năng thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp, từ đó có thể đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, thấy được các tiềm năng cũng như nguy cơ trong hoạt động huy động và hoàn trả nợ của doanh nghiệp để có biện pháp quản lý kịp thời b) Chỉ tiêu phân tích
Khi phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp, sử dụng các chỉ tiêu sau:
• Hệ số khả năng thanh toán tổng quát = Tổng tài sản
Nợ phải trả Chỉ tiêu này đo lường khả năng thanh toán một cách tổng quát các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp Hệ số này cho biết mối quan hệ giữa tổng tài sản mà doanh nghiệp đang quản lý, sử dụng với tổng số nợ phải trả (gồm cả nợ ngắn hạn và dài hạn), phản ánh một đồng vay nợ có mấy đồng tài sản đảm bảo Khi giá trị của hệ số này nhỏ hơn 1 có nghĩa là tổng tài sản < tổng nợ, tức là toàn bộ số tài sản hiện có của công ty không đủ để thanh toán các khoản nợ, chứng tỏ công ty mất khả năng thanh toán, gặp khó khăn trong tài chính và có nguy cơ phá sản Ngược lại, nếu hệ số này quá cao thì cần phải xem lại vì khi đó việc sử dụng đòn bẩy tài chính của công ty sẽ kém hiệu quả Thông thường, các chủ nợ yên tâm hơn với các công ty có hệ số này cao
• Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn = Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có thể thanh toán được bao nhiêu lần nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn hiện có Nếu hệ số này nhỏ hơn 1 thể hiện
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 27 khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là yếu và cũng là dấu hiệu cho thấy những dấu hiệu mạo hiểm về tài chính vì mất cân bằng tài chính, công ty đã dùng 1 phần nguồn vốn nợ ngắn hạn để đầu tư dài hạn
• Hệ số khả năng thanh toán nhanh Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng các khoản tiền và tương đương tiền Đây là chỉ tiêu mà chủ nợ quan tâm để đánh giá tại thời điểm phân tích doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay các khoản nợ ngắn hạn hay không, chủ nợ thấy yên tâm hơn nếu chỉ tiêu này cho thấy doanh nghiệp luôn có khả năng phản ứng nhanh và đảm bảo được hầu hết các khoản nợ ngắn hạn Tuy nhiên không phải khoản nợ nào cũng cần phải thanh toán ngay tại thời điểm phân tích Khi có những khoản nợ quá hạn, đến hạn thì chủ nợ quan tâm đến khả năng thanh toán ngay tức thì những khoản nợ đến hạn
• Hệ số khả năng thanh toán tức thời Tiền và các khoản tương đương tiền
Nợ quá hạn Chỉ tiêu này cho biết doanh nghiệp có khả năng thanh toán ngay bao nhiêu lần nợ quá hạn, đến hạn bằng các khoản tiền và tương đương tiền hiện có, đồng thời chỉ tiêu này thể hiện việc chấp hành kỉ luật thanh toán của doanh nghiệp với chủ nợ
• Hệ số thanh toán lãi vay = EBIT
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH CÔNG NỢ VÀ KHẢ NĂNG THANH TOÁN TẠI CÔNG TY TNHH MTV KCN LAI VU
Tổng quan về Công Ty TNHH MTV KCN Lai Vu
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH MTV KCN Lai Vu tiền thân là đơn vị thuộc Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 819/QĐ- CNT-TCCB-LĐ ngày 30 tháng 5 năm 2006 của Vinashin Công ty hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng ký DN số 0102005007 ngày 14 tháng 6 năm 2006, đăng ký thay đổi lần thứ 7 ngày 31 tháng 7 năm 2018 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Hải Dương cấp Công ty thuộc hình thức công ty Trách nhiệm hữu hạn, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và các quy định hiện hành khác của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
• Tên đầy đủ: CÔNG TY TNHH MTV KCN LAI VU
• Tên giao dịch: LAI VU INDUSTRY PARK CO., LTD
• Địa chỉ: KCN Lai Vu, Xã Lai Vu, Huyện Kim Thành, Tỉnh Hải Dương
• Vốn điều lệ đã đăng ký theo Giấy chứng nhận đăng ký DN là 168.000.000.000 đồng (Một trăm sáu mươi tám tỷ đồng)
Ban Quản lý dự án cụm Công nghiệp Tàu thủy Hải Dương được thành lập theo Quyết định số 600/QĐ-TCCB-LĐ ngày 18 tháng 6 năm 2003 của Hội đồng Quản trị Vinashin Theo Quyết định số 40/QĐ-CNT-TCCB-LĐ ngày 09 tháng 01 năm 2007 của Hội đồng Quản trị Vinashin, Ban Quản lý dự án cụm Công nghiệp Tàu thủy Hải Dương được sáp nhập vào Công ty TNHH MTV KCN Lai Vu kể từ ngày 09 tháng 01 năm 2007 Theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về tái cơ cấu Vinashin, Công ty chính thức được bàn giao nguyên trạng cho Tập đoàn Dầu khí Việt Nam Thời điểm bàn giao là ngày 01 tháng 7 năm 2010 Theo Công văn số 2301/VPCP-KTTH ngày 07 tháng 4 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ về việc chuyển giao KCN Lai Vu về tỉnh Hải Dương
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 32 quản lý và theo Nghị quyết số 1227/NQDKVN ngày 21 tháng 5 năm 2014 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về việc chuyển giao nguyên trạng toàn bộ KCN Lai Vu (bao gồm cả Công ty TNHH MTV KCN Lai Vu) về tỉnh Hải Dương quản lý thời điểm bàn giao là ngày 15 tháng 5 năm 2014
Tiếp nhận KCN về trong tình trạng nhiều DN làm ăn thua lỗ, hoạt động cầm chừng hoặc không hoạt động, đang chờ làm các thủ tục phá sản, giải thể
DN Việc thanh lý các hợp đồng thuê đất đối với các DN này rất nan giải, phức tạp Có thể khẳng định, những tồn tại mà Tập đoàn Vinashin (nay là Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam) để lại không hề nhỏ Dù vậy, thời gian qua, Công ty Lai Vu đã từng bước tháo gỡ những khó khăn trên Công ty cũng phối hợp với Ban Quản lý các KCN và các cơ quan liên quan của tỉnh làm việc với Tập đoàn Vinashin (nay là Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam) để tìm phương án xử lý tồn tại của các đơn vị thuộc Tập đoàn Vinashin đang hoạt động tại KCN về hợp đồng thuê đất, sử dụng cơ sở hạ tầng và công nợ Việc thu hồi và xử lý công nợ được tiến hành nghiêm túc Cùng với đó, công ty đã tập trung ổn định công tác tổ chức điều hành hoạt động, triển khai quyết liệt các biện pháp nhằm tiết giảm chi phí Tổ chức đoàn thể được phát huy, đời sống, việc làm người lao động được cải thiện rõ rệt
Hiện nay, Công ty TNHH MTV KCN Lai Vu đã và đang tập trung đầu tư hoàn thiện hạ tầng KCN Lai Vu để thu hút các nhà đầu tư mới Hệ thống giao thông đồng bộ, hiện đại và tình hình an ninh trật tự được bảo đảm Tập thể công ty luôn đoàn kết, phát huy năng lực, góp phần giúp đơn vị ngày càng ổn định và phát triển hơn
2.1.2 Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của công ty
Công ty TNHH MTV KCN Lai Vu có tổ chức bộ máy quản lý linh hoạt, phù hợp với đặc điểm hoạt động của công ty trong từng giai đoạn cụ thể Lãnh đạo của công ty là những người có năng lực, dày dặn kinh nghiệm, có tầm nhìn Các phòng ban trong công ty có mối quan hệ chặt chẽ, đều là một mắt xích giúp cho quá trình hoạt động của công ty được ổn định và phát triển Để đáp ứng yêu cầu quản lý, những người đứng đầu cùng với các phòng ban trong công ty có mối liên hệ với nhau để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của mình cụ thể qua sơ đồ sau:
SƠ ĐỒ 1.1 CƠ CẤU BỘ MÁY QUẢN LÝ CỦA CÔNG TY
Chức năng, nhiệm vụ trong bộ máy quản lý
Chủ tịch : Nhân danh chủ sở hữu thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty; Nhân danh công ty thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty, trừ quyền và nghĩa vụ của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; Chịu trách nhiệm
Phòng Tổ Chức Hành Chính
Phòng Kỹ Thuật Hạ Tầng
Phòng Kế Hoạch Thị Trường
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 34 trước pháp luật và chủ sở hữu công ty về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao theo quy định của pháp luật và Điều lệ công ty
Giám đốc : Xây dựng phương hướng, kế hoạch, phương án kinh doanh và các chủ trương lớn của công ty; Xây dựng các quy định, quy chế của công ty; Tổ chức, bố trí bộ máy điều hành, sử dụng lao động hợp lý cho từng phòng ban; Xem xét các hình thức khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ công nhân viên; chịu trách nhiệm lãnh đạo công việc chung của Công ty, về mọi mặt hoạt động và kết quả sản xuất kinh doanh, trực tiếp chỉ đạo cáo phòng ban
Phòng Tài Chính – Kế Toán
Thu thập, ghi chép, xử lý, phân tích một cách có hệ thống các nghiệp vụ kinh tế phát sinh hàng ngày Tổng hợp, phân tích các thông tin tài chính – kế toán, lập báo cáo kế toán để phục vụ cho việc ra quyết định của cấp trên, và thực hiện các nghĩa vụ với nhà nước
Phòng Tổ Chức Hành Chính
Quản lý nhân sự thực hiện công tác quản lý và sử dụng lao động, quản trị hành chính, làm hậu cần về phương diện kinh doanh, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động của Công ty Thực hiện chính sách, chế độ đối với CBCNV và công tác tiền lương, nâng lương, nâng bậc, khen thưởng, kỷ luật
Quản lý các thiết bị văn phòng, công tác văn thư lưu trữ, bảo quản tài liệu, văn bản, công văn; soạn thảo các loại hợp đồng kinh tế và lưu các hợp đồng đã thực hiện
Thực hiện công tác hành chính trong quan hệ của Công ty với bên ngoài
Quản lý hồ sơ cán bộ công nhân viên, thực hiện các nghiệp vụ về công tác quản lý nhân sự Hàng năm xây dựng đơn giá tiền lương và các hình thức trả lương cho công ty
Xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ quản lý, nhân viên trong công ty, tuyển dụng nhân lực khi có nhu cầu
Phòng Kỹ Thuật Hạ Tầng :
Phòng chuyên môn thuộc Bộ máy điều hành Công ty, có chức năng giúp Giám đốc Công ty quản lý, điều hành toàn bộ các hoạt động nghiên cứu khoa học, công nghệ, định mức kinh tế kỹ thuật và sửa chữa bảo dưỡng lớn của Công ty; Chủ trì áp dụng công nghệ khoa học, kỹ thuật mới Thực hiện tư vấn cung cấp các giải pháp tổng thể về Hệ thống thiết bị hội nghị - hội thảo, an ninh, hiển thị ; tham mưu giúp giám đốc, chủ tịch trong việc thực hiện quản lý hạ tầng KCN; hướng dẫn công tác lập và quản trị CP các dịch vụ hạ tầng kĩ thuật
Phòng Kế Hoạch Thị Trường:
Phân tích thực trạng tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Công Ty
2.2.1 Phân tích thực trạng tình hình công nợ
Bảng 2.2.1.1: Bảng phân tích quy mô công nợ đơn vị tính: triệu đồng
Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
I Các khoản phải thu ngắn hạn 140.853 132.651 131.152 8.202 6,18% 1.499 1,14%
1 Phải thu ngắn hạn của khách hàng 1.093 215 168 878 407,72% 48 28,39%
2 Trả trước cho người bán ngắn hạn 24.638 22.060 25.775 2.578 11,69% (3.715) -14,41%
3 Phải thu ngắn hạn khác 119.884 115.137 109.972 4.747 4,12% 5.166 4,70%
4 Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi (4.972) (4.972) (4.972) - 0,00% - 0,00%
5 Tài sản thiếu chờ xử lý 210 210 210 - 0,00% - 0,00%
II Các khoản phải thu dài hạn
Tổng các khoản phải thu 140.853 132.651 131.152 8.202 6,18% 1.499 1,14%
III Các khoản phải trả ngắn hạn 79.051 81.499 86.686 (2.448) -3.00% (5.187) -5.98%
1 Phải trả người bán ngắn hạn 49.402 53.524 60.950 (4.122) -7,70% (7.427) -12,18%
2 Người mua trả tiền trước ngắn hạn 23 21 21 2 10,23% - 0,00%
3 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 1.898 1.496 1.012 402 26,84% 485 47,92%
4 Phải trả người lao động 226 226 226 - 0,00% - 0,00%
5 Doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn 22.471 22.258 20.475 213 0,96% 1.783 8,71%
6 Phải trả ngắn hạn khác 4.973 3.975 4.003 998 25,11% (28) -0,71%
7 Quỹ khen thưởng, phúc lợi 59 59 -
IV Các khoản phải trả dài hạn 706.534 686.269 683.321 20.264 2,95% 2.948 0,43%
Doanh thu chưa thực hiện dài hạn 706.534 686.269 682.741 20.264 2,95% 3.528 0,52%
Phải trả dài hạn khác 580 - (580) -100,00%
Tổng các khoản phải trả 785.585 767.768 770.007 17.817 2,32% (2.239) -0,29%
Chỉ tiêu Đơn vị tính 31/12/20 31/12/19 31/12/18
Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
1.393.930 1.356.685 1.342.871 37.245 2,75% 13.813 1,03% Tổng các khoản phải thu 140.853 132.651 131.152 8.202 6,18% 1.499 1,14% Tổng các khoản phải trả 785.585 767.768 770.007 17.817 2,32% (2.239) -0,29%
1 Hệ số các khoản phải thu
2 Hệ số các khoản phải trả 0,5636 0,5659 0,5734 -0,0023 -0,41% -0,0075 -1,31%
3 Hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả 0,1793 0,1728 0,1703 0,0065 3,78% 0,0024 1,44%
Chỉ tiêu Đơn vị tính 2020 2019 2018 Chênh lệch 2020-2019 Chênh lệch 2019-2018
Số tiền Tỷ lệ Số tiền Tỷ lệ
Các khoản phải thu ngắn hạn bình quân 136.752 131.901 4.850 3.68% 131.901
Các khoản phải trả ngắn hạn bình quân 80.275 84.093 (3.817) -4.54% 84.093
4 Hệ số thu hồi nợ Vòng 0,2401 0,2308 0,0092 4,00%
5 Kỳ thu hồi nợ bình quân Ngày 1500 1560 -60 -3,85%
6 Hệ số hoàn trả nợ Vòng 0,3161 0,2834 0,0328 11,57%
7 Kỳ trả nợ bình quân Ngày 1139 1270 -132 -10,37%
Bảng 2.2.1.4: Bảng phải thu khách hàng ngắn hạn Đơn vị tính: triệu đồng
CTCP Container Quốc tế Gas 19
Công ty TNHH May Tinh Lợi 15
Công ty Misawa Engineering Việt Nam 20
Bảng 2.2.1.5: Bảng phải trả khách hàng ngắn hạn Đơn vị tính: triệu đồng
Công ty TNHH XNK Minh Hải 427
Công ty xây dựng số 11 168
CTCP TVTK XD&TM Hưng Thịnh 1303
Công ty TNHH tư vấn xây dựng Thành Đạt HD 59
CTCP tư vấn và đầu tư xây dựng Hải Dương 647
CTCP quản lý công trình đô thị Hải Dương 3012
CTCP thiết phị PCCC Việt Nam 411
Công ty cổ phần cơ khí thủy lợi Thành Công 184
Căn cứ vào các bảng phân tích trên, tình hình công nợ của công ty được đánh giá như sau:
Trong giai đoạn 2018-2020, quy mô các khoản phải thu và các khoản phải trả của công ty đều tăng lên, hệ số các khoản phải thu và hệ số các khoản phải thu so với các khoản phải trả đều tăng nhưng hệ số các khoản phải trả giảm Điều đó cho thấy quy mô vốn bị chiếm dụng và đi chiếm dụng đều tăng, nhưng mức độ bị chiếm dụng vốn đã tăng trong khi đó mức độ đi chiếm dụng vốn lại giảm đi Bên cạnh đó, tình hình thu hồi nợ và hoàn trả nợ đều biến chuyển xu hướng nhanh hơn so với các năm trước tuy nhiên mức độ thay đổi là rất thấp
Về các khoản nợ phải thu:
Tổng các khoản phải thu cuối năm 2020 là 140.853 triệu đồng, tăng 8.202 triệu đồng, tương ứng 7,83% so với đầu năm, cuối năm 2019 tăng 1.499 triệu đồng, tương ứng 1,14% so với đầu năm Tổng các khoản phải thu có xu hướng tăng đều nhờ vào sự tăng lên của các khoản phải thu ngắn hạn vì công ty không có khoản phải thu dài hạn nào Có thể quy mô vốn bị chiếm dụng của công ty có xu hướng gia tăng tuy nhiên mức tăng không đáng kể
Các khoản phải thu ngắn hạn cuối năm 2020 đạt 140.853 triệu đồng , cuối năm 2019 đạt 132.651 triệu đồng và cuối năm 2018 đạt 131.152 triệu đồng Tổng các khoản phải thu ngắn hạn cuối năm 2020 tăng 8.202 với tỷ lệ tăng 6,18% so với cuối năm 2019; cuối năm 2019 tăng 1.499 với mức tăng 1,14% so với cuối năm 2018 Trong đó các khoản phải thu của khách hàng ảnh hưởng nhiều nhất trong năm 2020, khi tăng 878 triệu đồng với tỷ lệ tăng 407,02% so cuối năm 2020 với đầu năm Cụ thể đó là các khoản tiền nước thải, phí dịch vụ kiểm tra và xử lý nước thải trong khu công nghiệp, phí sử dụng cơ sở hạ tầng mà các doanh nghiệp trong khu công nghiệp nợ công ty Công ty cần có biện pháp để thu kịp thời các khoản công nợ này, tránh để lâu dài, khó đòi Chi tiết một số khách hàng phải thu như: Công ty TNHH May Tinh Lợi (SDCK phải thu tại 31/12/2020 là 15 triệu đồng); Công ty Dệt Pacific số dự phải thu là 91
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 58 triệu đồng; khoản phải thu khách hàng lớn nhất mà công ty phải thu là Công ty Dệt 10/10, số tiền 500 triệu đồng
Chỉ tiêu trả trước cho người bán ngắn hạn cuối năm 2020 là 24.638 triệu đồng tăng 2.578 triệu đồng tương ứng 11,69% so với đầu năm 2020 Các khoản trả trước người bán ngắn hạn và các khoản phải thu khác đều là các khoản công nợ phải thu quá hạn với tổng số tiền 25.907 triệu đồng Công ty chưa thực hiện đánh giá và trích lập dự phòng đối với khoản phải thu khó đòi này do các khoản công nợ này chủ yếu là các khoản công nợ tồn đọng trước thời điểm bàn giao chủ sở hữu từ Tập đoàn dầu khí Việt Nam và chưa được quyết toán Chi tiết khoản trả trước người bán tại 31/12/2020 như sau:
Bảng 2.2.1.6: Bảng trả trước cho người bán ngắn hạn Đơn vị tính: triệu đồng
CTCP Đầu tư và Kinh doanh Cơ sở Hạ tầng Lai Vu 7.056
Công ty TNHH Thương mại và Xây dựng Vũ Bách 4.656
CTCP Đầu tư và Xây dựng Sông Đà 2.047
Công ty Xây dựng Công nghệ Thông tin Miền Trung 1.000
Trong các khoản phải thu ngắn hạn thì khoản phải thu khác chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm trên 80% Chỉ tiêu này cuối năm 2020 là 119.884 triệu đồng , tăng 4.747 triệu đồng tương ứng 2,32% so với đầu năm; cuối năm 2019 là 115.137 triệu đồng, tăng 5.166 triệu đồng với tỷ lệ tăng 4,7% so với đầu năm Chi tiết trong các khoản phải thu khác, có khoản ứng tiền đền bù giải phóng mặt bằng cho hội đồng bồi thường thiệt hại và giải phóng mặt bằng huyện Kim Thành với tổng số tiền là 94.933 triệu đồng tại thời điểm cuối năm 2020, tuy nhiên khoản công nợ này chưa được xác nhận bởi các cấp có thẩm quyền Tiếp đến là khoản lãi dự thu tiền gửi ngân hàng có ký hạn của công ty tại thời điểm
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 59 cuối năm 2020 là 18.170 triệu đồng Ngoài ra khoản Thuế GTGT đầu vào đã trả nhưng nhà cung cấp chưa phát hành hóa đơn thể hiện phần thuế GTGT đầu vào của các hạng mục đầu tư đã được Công ty nghiệm thu, quyết toán và thanh toán cho nhà cung cấp phát sinh trước ngày 30 tháng 6 năm 2010 nhưng nhà cung cấp chưa phát hành hóa đơn cho Công ty Công ty đã trích lập dự phòng phải thu khó đòi tương ứng 100% giá trị khoản phải thu này là 4.762 triệu đồng
Về cơ cấu, hệ số các khoản phải thu năm 2020 đạt 0,101 lần tăng 0,0033 lần tương ứng 3,35% so với năm 2019, năm 2019 là 0,0978 lần, tăng 0,0001 tương ứng 0,11% so với năm 2018 Hệ số này có xu hướng gia tăng trong 3 năm, mức tăng không đáng kể khi tăng 0,11% năm 2019 và tăng 3,35% trong năm 2020
Hệ số này tăng lên do mức tăng của các khoản phải thu cao hơn so với mức tăng của tổng tài sản, cụ thể là 6,18% so với 2,75% của tổng tài sản năm
2020, năm 2019 là 1,14% và 1,03% Đánh giá hệ số các khoản phải thu của doanh nghiệp tương đối thấp, ít bị chiếm dụng vốn, trung bình 1 đồng tài sản chỉ bị chiếm dụng 0,101 đồng vốn
Về trình độ quản trị, hệ số thu hồi nợ của công ty năm 2020 là 0,2401 vòng, tăng 0,0092 vòng tương ứng 4% so với năm 2019 Kỳ thu tiền trung bình của công ty năm 2020 là 1500 ngày giảm 60 ngày so với năm 2019 Hệ số thu hồi nợ tăng và kỳ thu tiền trung bình giảm là do doanh thu thuần năm 2020 tăng và các khoản phải thu ngắn hạn bình quân cũng tăng tuy nhiên mức tăng của doanh thu thuần cao hơn mức tăng của các khoản phải thu cụ thể là 7,83% so với 3,68% Nhìn chung, với hệ số thu hồi nợ chỉ có 0,2401 vòng, cho thấy trung bình khoảng 5 năm công ty mới thu hồi nợ được 1 lần Mặc dù kỳ thu tiền bình quân của công ty khá lâu, nhưng vì trong các khoản phải thu ngắn hạn có nhiều khoản phải thu phát sinh trước thời điểm bàn giao chủ sở hữu công ty và chưa được xác nhận nên tác giả không đánh giá trình độ quản trị nợ của công ty qua chỉ tiêu này Trong quá trình hoạt động, đối với các khoản nợ đến hạn thanh
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 60 toán, nhân viên kế toán sẽ gửi công văn đến khách hàng và đồng thời gọi điện cho khách hàng để nhắc nhở về các khoản nợ cần thanh toán Khi quá hạn mà khách hàng chưa thanh toán, nhân viên kế toán tại công ty sẽ tính lãi chậm trả theo hợp đồng, cụ thể theo hợp đồng thuê đất, lãi chậm trả về tiền thuê đất và phí cơ sở hạ tầng là 1%/tháng Đến cuối kỳ, nhân viên kế toán sẽ tập hợp các khoản nợ cần phải thu của từng khách hàng, lập các văn bản đối chiếu công nợ để xác định số tiền khách hàng còn nợ công ty đến thời điểm tính là bao nhiêu và sẽ gửi đến khách hàng để xác nhận bản đối chiếu công nợ (mẫu bản đối chiếu công nợ ở phụ lục bên dưới)
Về các khoản phải trả
Về quy mô, tổng các khoản phải trả cuối năm 2020 đạt 785.585 triệu đồng, tăng 17.817 triệu đồng tương ứng 2,32% so với đầu năm; cuối năm 2019 giảm 2.239 triệu đồng tương ứng giảm 0,29% so với đầu năm 2019 Tổng các khoản phải trả tăng lên trong năm 2020 là do các khoản phải trả dài hạn tăng 20.264 tương ứng 2,95% và các khoản phải trả ngắn hạn giảm 2.448 tương ứng 3% so với năm 2019 Cho thấy công ty đi chiếm dụng vốn nhiều hơn và chủ yếu chiếm dụng vốn trong dài hạn trong khi đó các khoản nợ ngắn hạn chiếm khá ít và còn có xu hướng giảm
Chi tiết hơn trong các khoản nợ ngắn hạn, khoản phải trả người bán ngắn hạn và các khoản phải trả ngắn hạn khác ảnh hưởng nhiều nhất, cụ thể chỉ tiêu phải trả người bán ngắn hạn năm 2020 giảm 4.122 triệu đồng, tỷ lệ giảm 7,7% và các khoản phải trả ngắn hạn khác tăng 998 triệu đồng với tỷ lệ tăng 25,11% Đối với các khoản phải trả người bán ngắn hạn, chủ yếu là các khoản công nợ tồn đọng từ trước thời điểm bàn giao chủ sở hữu Công ty từ Vinashin sang Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và bàn giao từ Tập đoàn Dầu khí Việt Nam sang Ủy ban Nhân dân tỉnh Hải Dương, đang trong thời gian chờ quyết toán và xử lý
Vì vậy, Công ty chưa đánh giá khả năng thanh toán đối với các khoản công nợ
NGUYỄN ĐÌNH NAM – CQ55/09.02 61 phải trả nêu trên và chưa được xác nhận bởi người bán Do đó tác giả sẽ không đánh giá về khoản này vì không đủ các thông tin
Khoản doanh thu chưa thực hiện là khoản chiếm chủ yếu trong các khoản phải trả Cụ thể doanh thu chưa thực hiện đạt 729.005 triệu đồng trong tổng 785.585 triệu đồng của nợ phải trả tại cuối năm 2020 Doanh thu chưa thực hiện ngắn hạn cuối năm 2020 đạt 22.471 triệu đồng, tăng 213 triệu đồng với tỷ lệ tăng 0,96% so với đầu năm; cuối năm 2019 đạt 22.258 triệu đồng, tăng 1.783 triệu đồng với mức tăng 7,83% so với đầu năm Doanh thu chưa thực hiện dài hạn cuối năm 2020 đạt 706.534 triệu đồng tăng 20.264 triệu đồng với tỷ lệ tăng 2,95% so với đầu năm; cuối năm 2019 đạt 686.269 triệu đồng, tăng 3.528 triệu đồng với tỷ lệ tăng 0,52% so với đầu năm Khoản này thể hiện số tiền đã nhận trước từ hoạt động cho thuê đất tại khu công nghiệp Lai Vu và sẽ được phân bổ vào doanh thu hàng năm Việc chiếm dụng được khoản tiền khá lớn từ khách hàng giúp cho công ty có thêm vốn để đầu tư vào dự án khác Chi tiết trong thuyết minh như sau:
Bảng 2.2.1.7: Bảng doanh thu chưa thực hiện dài hạn Đơn vị tính: triệu đồng
Công ty TNHH May Tinh Lợi 434.472
Công ty TNHH Dệt Pacific Crystal 194.592
Tổng Công ty Công nghiệp Tàu thủy 26.949
Công ty Cổ phần Dệt 10/10 13.229
Công ty TNHH MTV Misawa Engineering Việt Nam 9.696
Công ty TNHH Nhôm Tân Á 6.400
Công ty TNHH Cơ khí và Thương mại Bình Dương 6.102
Về cơ cấu, hệ số các khoản phải trả của công ty năm 2020 là 0,5636 lần, năm 2019 là 0,5659 lần, năm 2018 là 0,5734 lần So sánh năm 2020 với năm
2019, hệ số này giảm 0,0023 lần với mức giảm 0,41% Năm 2019 với năm
Đánh giá tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Công Ty TNHH
2.3.1 Những kết quả đạt được
Nhìn chung, qua phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán của Công ty TNHH MTV KCN Lai Vu trong vòng 3 năm từ 2018-2020 Có thể thấy rằng công ty đã đạt được những thành công nhất định
- Khi xét về quy mô, có thể thấy, từ năm 2018-2020, công ty không có khoản phải thu dài hạn nào Điều này giúp cho công ty tránh rủi ro để bị chiếm dụng vốn quá lâu và dẫn đến có khả năng mất vốn
- Khi xét về cơ cấu và trình độ quản trị Trong giai đoạn 2018-2020, hệ số các khoản phải thu của công ty có sự gia tăng, tuy nhiên vẫn ở mức thấp, đạt khoảng 0,1 lần năm 2020 Hệ số thu hồi nợ tăng, kỳ thu tiền bình quân giảm trong năm 2020, lần lượt đạt 0,2401 vòng và 1500 ngày có thể thấy hai chỉ tiêu này vẫn còn khá thấp Công ty ít bị chiếm dụng vốn nhưng công tác quản trị thu hồi nợ vẫn còn kém
- Khi xét trên quy mô, công ty đã đạt được những thành tựu nhất định Nợ phải trả trong năm 2020 tăng lên thể hiện việc uy tín của công ty cũng đang tốt bởi vì khi công ty có độ tin cậy cao, có hình ảnh tốt trên thị trường thì các đối tượng người bán có thể sẵn sàng bán chịu cho công ty Trong 3 năm từ năm 2018-2020, công ty không phát sinh khoản “Dự phòng các khoản phải trả” cả ngắn hạn và dài hạn nào Điều này cho thấy công ty có tình hình tài chính tốt, khả năng thanh toán ổn định, không có bất cứ khoản nợ nào có khả năng chậm trả hoặc có nguy cơ không trả được
- Khi xét về cơ cấu và trình độ quản trị nợ của công ty trong giai đoạn 2018-2020, công ty đã cải thiện được trình độ quản trị nợ phải trả Hệ số các khoản phải trả ở mức 0,5 lần cho thấy công ty chiếm dụng được nhiều vốn Hệ số hoàn trả nợ tăng và kỳ thu tiền trung bình giảm cho thấy công ty đã trả nợ được nhiều hơn, cải thiện uy tín công ty trên thị trường cũng như duy trì mối quan hệ tốt với các chủ nợ
Dựa vào phân tích ở trên, tác giả thấy khả năng thanh toán của công ty trong giai đoạn 2018-2020 khá là tốt Các hệ số khả năng thanh toán của công ty đều ở mức cao, đảm bảo được khả năng thanh toán tốt
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát trong 3 năm đều lớn hơn 1 và có xu hướng gia tăng, cho thấy công ty luôn đảm bảo khả năng thanh toán của mình
Hệ số khả năng thanh toán tổng quát của công ty năm 2020 đạt 1,7744 lần Đây là dấu hiệu tốt, hấp dẫn các tổ chức tín dụng cho vay tiền giúp cho hoạt động tài chính của công ty hoạt động hiệu quả hơn
Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn của công ty rất tốt Cụ thể hệ số này của công ty từ năm 2018-2020 đều lớn hơn 7 lần và năm 2020 đã đạt 8,7 lần Cho thấy công ty có thể đảm bảo khả năng thanh toán nợ ngắn hạn rất tốt Tổng lưu chuyển tiền thuần cuối kỳ có nhiều biến động Tuy nhiên cả 3 năm đều dương chứng tỏ khả năng thanh toán của doanh nghiệp vẫn đảm bảo
2.3.2 Những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đạt được, công ty cũng có những hạn chế trong công tác quản trị công nợ và khả năng thanh toán
Xuất hiện các khoản phải thu khó đòi: Công ty có những khoản công nợ quá hạn phát sinh trước thời điểm bàn giao chủ sở hữu Công ty Tập đoàn Dầu khí Việt Nam về UBND tỉnh Hải Dương Đối với các khoản nợ xấu đó, công ty đang chờ hướng dẫn của các cấp có thẩm quyền để xử lý nên không thực hiện trích lập các khoản dự phòng theo tuổi nợ
Trình độ quản trị công nợ chưa hiệu quả: Hệ số thu hồi nợ và hệ số hoàn trả nợ của công ty đều rất thấp, năm 2020 hai chỉ tiêu này chỉ đạt lần lượt 0,2401 và 0,3161 vòng
Tỷ trọng các khoản phải trả dài hạn cao: Các khoản phải trả dài hạn chiếm
90% (năm 2020) trong các khoản phải trả Điều này làm gia tăng chi phí sử dụng vốn của công ty
Khả năng thanh toán nhanh bằng tiền mặt chưa cao: Hệ số khả năng thanh toán nhanh năm 2020 của công ty đạt 0,7339 lần, hệ số khả năng chi trả bằng tiền năm 2020 đạt 0,3687 lần Cả 2 chỉ tiêu đều nhỏ hơn 1, cho thấy công ty chưa đáp ứng khả năng thanh toán nhanh trong ngắn hạn
Ngoài ra công ty còn tồn tại hạn chế về tình hình tài chính như sau:
Tình hình huy động vốn: hệ số tài trợ thường xuyên của công ty từ năm 2018-
2020 đều lớn hơn 1, cho thấy công ty dùng nguồn vốn dài hạn tài trợ cho các tài sản ngắn hạn Điều này giúp cho công ty an toàn về tài chính tuy nhiên làm tăng chi phí sử dụng vốn
- Công ty chưa có bộ phận quản trị công nợ Thực tế ở công ty chưa có một bộ phận chuyên về kiểm soát và giám sát công nợ Đây là lí do khiến các khoản nợ xấu tồn đọng từ Tập đoàn Vinashin khó thu hồi và gần như là không thể
- Công ty chưa có phương pháp quản trị công nợ cụ thể Công ty chưa có biện pháp cụ thể nào để cho việc thu hồi nợ quá hạn trên cũng như những biện pháp đảm bảo cho khoản nợ của mình có thể thu hồi được