1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN CAO cấp CHÍNH TRỊ môn CNXHKH những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở việt nam và thực tiễn thực hiện dân chủ cơ sở ở huyện tân hồng, tỉnh đồng tháp

23 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 578 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc vận dụng đúng đắn những giá trị dân chủ vào đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội là một trong những điều kiện bảo đảm thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên đất nước ta. Chỉ có trong môi trường dân chủ, chỉ khi nào quyền tự do dân chủ của người dân được giải phóng, thì sức mạnh và năng lực sáng tạo của họ mới được phát huy. Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Thực hành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn”. Cùng với tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, phát triển kinh tế xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng và thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”. Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội “do nhân dân làm chủ”. Đảng ta cũng đã xác định các hình thức tổ chức và cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngày 18021998, Bộ Chính trị khóa VIII đã ra Chỉ thị số 30CTTW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII về phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đây là một khâu quan trọng và cấp bách để phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở. Đảng ta đã chỉ rõ: muốn phát huy sức mạnh và sự sáng tạo vô địch của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải tạo ra được những thể chế, chủ trương, chính sách thích hợp để phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Trang 1

BÀI THU HOẠCH

LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TÊN MÔN HỌC:

CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC

TÊN BÀI THU HOẠCH:

NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN DÂN CHỦ

CƠ SỞ Ở HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

PHẦN II NỘI DUNG……… 02

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA……… 02

1.1 Quan niệm về dân chủ……… 02

1.2 Quan niệm về dân chủ xã hội chủ nghĩa……… 02

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ……… 03

1.4 Quá trình hình thành, phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam……… 03

2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM…… 07

2.1 Những thành tựu đạt được……… 07

2.1.1 Dân chủ trong Đảng……… 07

2.1.2 Dân chủ trong Nhà nước……… 08

2.1.3 Dân chủ trong xã hội……… 10

2.2 Những hạn chế……… ………… 10

2.2.1 Dân chủ trong Đảng……… 10

2.2.2 Dân chủ trong Nhà nước……… 11

2.2.3 Dân chủ trong xã hội……… 12

2.3 Nguyên nhân của mặt hạn chế về dân chủ ở nước ta……… 12

3 THỰC TIỄN THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP HIỆN NAY……… 13

3.1 Kết quả đạt được……… 13

3.2 Những hạn chế……… 17

3.3 Nguyên nhân những hạn chế……… 17

4 ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP TRONG THỜI GIAN TỚI……… 18

PHẦN III KẾT LUẬN……… 20

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 21

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Việc vận dụng đúng đắn những giá trị dân chủ vào đời sống kinh tế, chính trị,văn hoá, xã hội là một trong những điều kiện bảo đảm thắng lợi của công cuộc côngnghiệp hoá, hiện đại hoá trên đất nước ta Chỉ có trong môi trường dân chủ, chỉ khi nàoquyền tự do dân chủ của người dân được giải phóng, thì sức mạnh và năng lực sáng tạocủa họ mới được phát huy Điều này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: "Thựchành dân chủ là cái chìa khoá vạn năng có thể giải quyết được mọi khó khăn” Cùngvới tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng caođời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, Đảng ta thường xuyên chăm lo xây dựng

và thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa Đảng ta khẳng định: “Dân chủ xã hộichủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triểnđất nước Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảmdân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực Dânchủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế bằng pháp luật, được pháp luậtbảo đảm” Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là xã hội “do nhân dânlàm chủ” Đảng ta cũng đã xác định các hình thức tổ chức và cơ chế để nhân dân thựchiện quyền làm chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, ngày 18/02/1998, Bộ Chínhtrị khóa VIII đã ra Chỉ thị số 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở

cơ sở để cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 3, khóa VIII về phát huy quyền làm chủcủa nhân dân, coi đây là một khâu quan trọng và cấp bách để phát huy quyền làm chủcủa nhân dân ở cơ sở Đảng ta đã chỉ rõ: muốn phát huy sức mạnh và sự sáng tạo vôđịch của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phải tạo rađược những thể chế, chủ trương, chính sách thích hợp để phát huy quyền làm chủ củanhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Khi quyền làm chủ của người dânđược tôn trọng và bảo đảm, sẽ tạo nên nền tảng, cơ sở vững chắc để các chủ trương,đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện có hiệu quảtrong thực tế Muốn thực hiện được điều đó, việc dân chủ hóa mọi hoạt động của Đảng

Trang 4

và của cả hệ thống chính trị nhằm tập hợp được đông đảo mọi tầng lớp nhân dân thamgia quản lý các công việc của Nhà nước và xã hội, đóng góp trí tuệ và vật chất để xâydựng, bảo vệ đất nước sẽ là một quan điểm hết sức đúng đắn, sáng suốt.

Xuất phát từ yêu cầu trên, Tôi chọn đề tài: “Những thành tựu và hạn chế trong quá trình thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện dân chủ cơ sở ở huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp” để làm bài thu hoạch kết thúc chuyên

đề Chủ nghĩa xã hội khoa học

PHẦN II: NỘI DUNG

1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA

1.1 Quan niệm về dân chủ

Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bảncủa con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độchính trị-xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôntrọng sự thống nhất trong đa dạng ) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời,những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân,mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tưtưởng, ý chí, hành động, bầu cử tự do và công bằng ) để quy định quyền lợi, tráchnhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại

1.2 Quan niệm về dân chủ xã hội chủ nghĩa

Dân chủ xã hội chủ nghĩa là dân chủ của đại đa số nhân dân, gắn với quyền dânchủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, được pháp luật bảo đảmdưới sự lãnh đạo của Đảng; là hình thức thể hiện quyền tự do, bình đẳng của công dân,xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất củachế độ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước Nhà nước tôn trọng

và bảo đảm toàn bộ các quyền của con người, quyền của công dân như quyền tự do cánhân, tự do báo chí, hội họp, đi lại, tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn

Trang 5

giáo, quyền bất khả xâm phạm thân thể và quyền nhà ở, nghỉ ngơi, học hành… Dânchủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương, quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và phápluật quy định Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản

lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ Cốt lõi của dân chủ

xã hội chủ nghĩa là khẳng định quyền lực của nhân dân, là giải quyết mối quan hệ giữaquyền và lợi ích, quyền và nghĩa vụ, lợi ích và trách nhiệm

1.3 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai tròcủa nhân dân trong lịch sử: “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”,

“Trong bầu trời không có gì quý bằng nhân dân Trong thế giới không có gì mạnh bằnglực lượng đoàn kết của nhân dân”1; “Dân là gốc của nước, của cách mạng”, “Cách mạng

là sự nghiệp của quần chúng nhân dân”, “Dân chúng đồng lòng, việc gì cũng làmđược Dân chúng không ủng hộ, việc gì làm cũng không nên”2; “Nước lấy dân làmgốc Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”3 Người đã huyđộng sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, góp phần to lớnđưa dân tộc Việt Nam tới độc lập, tự do, đưa nhân dân ta từ kiếp nô lệ lên địa vị làmchủ

đất nước, làm chủ xã hội; vì vậy, “đối với dân, ta đừng có làm gì trái ý dân” Chủ tịch

Hồ Chí Minh nhận thức rất rõ vai trò của dân chủ, coi dân chủ là nhân tố động lực của

sự phát triển; thực hành dân chủ là chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn

1.4 Quá trình hình thành, phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Chế độ dân chủ nhân dân được xác lập sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945.Đến năm 1976, tên nước được đổi thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưngtrong các Văn kiện Đảng hầu như chưa sử dụng cụm từ “dân chủ xã hội chủ nghĩa” TừĐại hội IV, Đảng ta thường nêu quan điểm “xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hộichủ nghĩa” gắn với “nắm vững chuyên chính vô sản”; trên thực tế, chưa coi dân chủ xã

Trang 6

hội chủ nghĩa là mục tiêu của công cuộc phát triển đất nước Bản chất của dân chủ xãhội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xãhội chủ nghĩa, cũng chưa được xác định rõ ràng.

Đại hội VI của Đảng (1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, nhấn mạnhphát huy dân chủ để tạo ra một động lực mạnh mẽ cho phát triển đất nước Đại hộikhẳng định “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dânlàm gốc, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”4; “Bài học “cáchmạng là sự nghiệp của quần chúng” bao giờ cũng quan trọng Thực tiễn cách mạngchứng minh rằng: ở đâu, nhân dân lao động có ý thức làm chủ và được làm chủ thật sự,thì ở đấy xuất hiện phong trào cách mạng”5 Đại hội VI tiếp tục kế thừa khái niệm “làmchủ tập thể” của các Đại hội IV, V và khẳng định: “Đảng ta coi làm chủ tập thể xã hộichủ nghĩa là bản chất của chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa cần được thể hiện trong mọi

lĩnh vực của đời sống Chúng ta xác định mối quan hệ Đảng lãnh đạo, nhân dân làm

Đại hội VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trongthời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991), trong đó đã rút ra bài học

lớn “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” 7 Cương lĩnh

năm 1991 đã phác họa 6 đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xâydựng, trong đó đặc trưng đầu tiên là: Do nhân dân lao động làm chủ Đặc biệt Cươnglĩnh năm 1991 đã khẳng định: “Toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trịnước ta trong giai đoạn mới là nhằm xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xãhội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân Dân chủ gắn liền với công bằng

xã hội phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống trên tất cả các lĩnh vực chính trị,kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua hoạt động của nhà nước do nhân dân cử ra và bằngcác hình thức dân chủ trực tiếp Dân chủ đi đôi với kỷ luật, kỷ cương, phải được thể

Trang 7

chế hóa bằng pháp luật và được pháp luật bảo đảm”8 Có thể khẳng định, Đại hội VII

đã có bước tiến lớn trong nhận thức về dân chủ Đảng ta không sử dụng khái niệm

“làm chủ tập thể”, “chế độ làm chủ tập thể” từ Đại hội này

Đại hội VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai trò làm chủ của nhândân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: làm chủ thôngqua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hìnhthức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật phápcủa Nhà nước Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là “dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, văn minh”

Đại hội IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn bài học chủyếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phùhợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”9 Đặc biệt, Đại hội IX đã bổ sung nội dung “dânchủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta: “Lợi ích giai cấp công nhân thốngnhất với lợi ích toàn dân tộc trong mục tiêu chung là: độc lập dân tộc gắn liền với chủnghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Một trongnhững điểm mới của Đại hội IX là đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chungcủa cách mạng nước ta Đây là một bước tiến về nhận thức “dân chủ”

Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức về dân chủ: 1)

bổ sung “dân chủ” vào đặc trưng thứ nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa Việt Nam - đólà: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2) Điều chỉnh trong diễn đạt

về đặc trưng thứ hai - đó là “do nhân dân làm chủ” Đây là bước tiến về mặt nhận thứckhi khẳng định: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân

làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ “Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội

chủ nghĩa vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ

Trang 8

Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân Nhà nước đạidiện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chínhtrị của Đảng Mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợiích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”11.

Đại hội XI của Đảng (2011) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong

thời

kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) Cương lĩnh (Bổ sung,

phát triển năm 2011) đã xác định “xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng làmột xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làmchủ; ”12 Đổi mới của Đại hội XI so với Đại hội X là chuyển cụm từ “dân chủ” lêntrước cụm từ “công bằng” Cương lĩnh (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định rõ:

“Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lựccủa sự phát triển đất nước Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủnghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cảcác lĩnh vực Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằngpháp luật, được pháp luật bảo đảm Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạtđộng của Nhà nước của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dânchủ đại diện”13

Tại Đại hội XII (2016), vấn đề dân chủ đã được Đảng ta đưa vào chủ đề của Đạihội, đồng thời, trở thành một mục độc lập trong phần XIII của Báo cáo chính trị vớitiêu đề: “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ củanhân dân”, đồng thời bổ sung thành tố “hoàn thiện, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

và quyền làm chủ của nhân dân” trong mục tiêu, nhiệm vụ của Đại hội14

Với phương châm: Đoàn kết - dân chủ - kỷ cương - sáng tạo - phát triển, Đại hộiXIII của Đảng đã nhấn mạnh: “Tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện thể chế thực hành dân

chủ theo tinh thần Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã

11

Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb.Chính trị quốc gia Sự thật, H.2006, tr.125.

Trang 9

hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013, bảo đảm tất cả các quyền

lực nhà nước thuộc về nhân dân Thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dânchủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở Thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm:

“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”15

2 NHỮNG THÀNH TỰU VÀ HẠN CHẾ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN DÂNCHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

2.1 Những thành tựu đạt được

2.1.1 Dân chủ trong Đảng

Việc thực hiện dân chủ trong các mặt hoạt động của Đảng, như công tác lý luận,công tác tư tưởng, công tác tổ chức và cán bộ, công tác kiểm tra, v.v đã có nhiềuchuyển biến tích cực Cụ thể là:

Thứ nhất, những thành tựu có ý nghĩa lịch sử của đổi mới trong 35 năm qua là

kết quả của việc thực hiện các chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng Sở dĩ có cácchủ trương, đường lối đúng đắn là do có dân chủ thảo luận và Đảng biết lắng nghe ýkiến đóng góp của hàng triệu cán bộ, đảng viên, của các nhà khoa học và của nhân dân

Thứ hai, về công tác tư tưởng, Đảng ta đã thường xuyên đổi mới, nâng cao chất

lượng các hoạt động tuyên truyền, thuyết phục và vận động quần chúng Trong thực tế,kết quả của công tác tư tưởng thể hiện ở chỗ: Tiếp tục giữ vững ổn định chính trị,người dân ngày càng được biết nhiều hơn về các chủ trương, chính sách của Đảng vàNhà nước Cùng với việc dân biết, dân cũng được bàn bạc và tham gia ý kiến về nhiềuviệc quan trọng Nhờ vậy, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước nhậnđược sự đồng tình, ủng hộ của quảng đại quần chúng nhân dân

Thứ ba, công tác tổ chức, cán bộ đã có nhiều chuyển biến tích cực: Các cơ quan

Đảng, Nhà nước và các đoàn thể được sắp xếp lại, kiện toàn theo hướng tinh gọn, nângcao hiệu quả Nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp về công tác cán bộ được thể chếhóa, cụ thể hóa thành các quy chế, quy định Đảng đã triển khai tương đối đồng bộ các

Trang 10

khâu đánh giá, tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng

và thực hiện chính sách cán bộ Công tác tổ chức, cán bộ chuyển hướng theo hướngdân chủ hóa

Thứ tư, công tác kiểm tra, giám sát phải thực hiện trong cả hệ thống chính trị,

kiểm tra, giám sát từng người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, Mặttrận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp trong việc thực hiện chứctrách, nhiệm vụ được giao; kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, đườnglối, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và Nhà nước Trong thời gian qua, công táckiểm tra, giám sát được cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, có nhiều đổimới và đạt được những kết quả quan trọng

Thứ năm, thực hành dân chủ thông qua các quan hệ trong nội bộ Đảng Đảng

phải gương mẫu thực hành dân chủ không chỉ trong các hoạt động của Đảng, mà cảtrong quan hệ nội bộ đảng mà chủ yếu là quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới Mặt ưuđiểm của thực hành dân chủ trong quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới trong nội bộ đảngthể hiện: (1) Sau khi có nghị quyết Đại hội và các hội nghị Trung ương, các cấp dướithực hiện việc cụ thể hóa nhanh, gọn hơn trước; (2) Nhìn chung các cấp ủy đảng đã thểhiện sự chủ động, năng động cao hơn trong việc tổ chức chỉ đạo thực hiện nghị quyết

và đưa nghị quyết vào cuộc sống; (3) Các cấp ủy đảng đã coi trọng công tác tổng kếtthực tiễn và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết để báo cáo lên cấp trên; (4) Cấp trên đãchịu khó lắng nghe các ý kiến đóng góp của cấp dưới; cấp dưới đã mạnh dạn đóng góp

ý kiến phê bình, xây dựng với cấp trên; (5) Cùng với việc kiểm tra từ trên xuống, đãbắt đầu có sự kiểm tra từ dưới lên; (6) Khắc phục được một bước tình trạng cấp trênquan liêu, độc đoán, chuyên quyền, dọa nạt cấp dưới, đồng thời khắc phục được phầnnào tình trạng cấp dưới hối lộ, nịnh bợ cấp trên

2.1.2 Dân chủ trong Nhà nước

Dân chủ trong Đảng gắn liền với dân chủ trong Nhà nước Nói về những thànhtựu và hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Đảng cũng tức là nói về thành tựu và

Trang 11

hạn chế của việc thực hành dân chủ trong Nhà nước Tuy nhiên, dân chủ trong Nhànước cũng có những nét đặc thù.

Nhà nước đã tạo những điều kiện thuận lợi để nhân dân nắm bắt các chủ trương,chính sách của Đảng và Nhà nước, nắm được các thủ tục hành chính giải quyết cáccông việc liên quan với nhân dân, biết được quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước về sửdụng đất đai, về dự toán, quyết toán ngân sách, v.v Đồng thời, cùng với việc dân biết,dân còn được bàn bạc nhiều việc quan trọng, như những dự án, mức đóng góp xâydựng cơ sở hạ tầng ở địa phương, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạchdân cư, điều chỉnh địa giới hành chính, phương án đền bù giải phóng mặt bằng,v.v Nhà nước đều hỏi ý kiến nhân dân

Quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân có nhiều tiến bộ trên một số mặt, dần dầnthể hiện đúng Nhà nước ta là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Các

cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động, thích ứng và tổ chức tốthơn yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế, mở cửa, hội nhập và phát huy quyền làm chủcủa nhân dân Trong những năm qua, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủnghĩa đã có những tiến bộ nhất định trên cả ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tưpháp Quốc hội có những đổi mới quan trọng trong công tác lập pháp, đã thông quamột số lượng lớn luật, bộ luật, pháp lệnh mới với chất lượng ngày càng được nâng cao,tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước và thực hành dân chủ Tăng cườngmột bước tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước, tránh được tình trạng ôm đồm, cồngkềnh và quan liêu trước đây, thực hiên sự phân cấp, giảm bớt phiền hà trong bộ máyhành chính Dần dần thực hiện được tư tưởng quan trọng là tất cả quyền lực nhà nướcthuộc về nhân dân, Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thựchiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân Chúng tađang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để bảo đảm dân chủ gắn với kỷluật, kỷ cương; đồng thời, chỉ có thực hành dân chủ mới xây dựng được Nhà nướcpháp quyền thực sự của dân, do dân và vì dân

Ngày đăng: 11/01/2022, 20:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w