Sự kiện có người đàn bà lạ trong căn nhà vốn chỉ có bà với con trai đã làm nảy sinh bao sắc thái, bao cung bậc tình cảm khó diễn tả trong cõi lòng của người mẹ nghèo khổ này.. Sự ngạc nh
Trang 1A.KHÁI QUÁT:
Hình ảnh người mẹ trong văn học ta cũng đã từng bắt gặp rất nhiều
Đó là người mẹ với gánh hàng rong còm cõi trong “Bên kia sông Đuống” của Hoàng Cầm, người mẹ “không phải hòn máu cắt” trong thơ Chế Lan Viên, người mẹ đầy khổ đau với “ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ” trong thơ của Tạ Hữu Yên, Nhưng người mẹ trong “Vợ nhặt” của Kim Lân vẫn làm ta rưng rưng xúc động nhất
Bà cụ Tứ - người mẹ nghèo khổ, cuộc đời trải qua nhiều gian truân: chồng và con gái đều đã mất, gia tài chỉ còn lại túp lều tranh rách nát và thằng con trai xấu xí, ngẩn ngơ Là nhân vật xuất hiện
ở khoảng nửa sau truyện, bà cụ Tứ vẫn đóng một vai trò đặc biệt, quan
trọng giúp Kim Lân thể hiện được những tư tưởng nhân đạo sâu sắc cho truyện ngắn của mình
Bà cụ Tứ xuất hiện trong tiếng ho “húng hắng”, trong dáng người “lọng khọng”, “vừa đi vừa lẩm bẩm tính toán” Đó là những nét
khắc họa đầu tiên đầy ấn tượng về ngoại hình, dáng vẻ của một người
mẹ nghèo khổ, già nua, còm cõi, luôn trĩu nặng những lo toan về cuộc sống Sự kiện có người đàn bà lạ trong căn nhà vốn chỉ có bà với con trai đã làm nảy sinh bao sắc thái, bao cung bậc tình cảm khó diễn tả trong cõi lòng của người mẹ nghèo khổ này
B.DIỄN BIẾN TÂM TRẠNG:
Trang 21.Ngạc nhiên, lo lắng
Khi thấy Tràng ra tận ngỏ đón mẹ lại thấy anh ta “reo lên như một đứa trẻ”, thái độ vồn vã, trang trọng khác thường của con trai đã khiến bà
cụ Tứ “phấp phỏng”
Có lẽ bà cụ Tứ đã linh cảm thấy một cái gì đó quan trọng và bất thường
đang chờ đợi mình Khi nhìn thấy có một người đàn bà lạ “đứng ngay đầu giường thằng con mình lại chào mình bằng là u?”, vẽ khép nép
lạ lùng của thị khiến bạn ngạc nhiên tột cùng Sự ngạc nhiên được thể hiện qua những câu hỏi dồn dập trong dòng độc thoại nội tâm, qua
bước chân “lập cập”, run rẩy, qua việc bà “đứng sững lại”, rồi thậm chí như không tin nổi vào mắt mình, bà “thấy mắt mình nhoèn ra thì phải”, Chính sự ngạc nhiên tột cùng của bà cụ Tứ càng cho thấy cái
nhìn tinh tường và trái tim nhạy cảm của người mẹ ngay lập tức đã
nhận ra có một điều gì đó thiêng liêng, lớn lao đang đến với cuộc đời con trai mình Thái độ ngạc nhiên của bà cụ Tứ cũng đem đến nỗi xót
xa cho thân phận con người khi chỉ vì nạn đói và cảnh ngộ gia đình mình mà người mẹ tội nghiệp không thể tin được những điều bà đang phỏng đoán
Sau khi thị chào bà đến hai lần, Tràng giới thiệu đến hai lần: “ Kìa nhà tôi nó chào u nhà tôi nó mới về làm bạn với tôi đấy u ạ Bà lão cúi đầu nín lặng… hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự” Có bao nhiêu thấu hiểu, bao nhiêu nỗi niềm trong cái “cúi đầu nín lặng”, trong sự chấp nhận
ngậm ngùi của bà Người mẹ từng trải đã hiểu tất cả những uẩn khúc, những éo le trong việc nhặt vợ của con, hình dung được cảnh ngộ của
người vợ nhặt Đó là những “cơ sự” bà đã đoán ra ra mà không nỡ nói,
Trang 3những điều đang làm người đàn bà xa lạ, đói rách kia sợ hãi, tủi hổ, bẽ bàng Trong hai chữ “cơ sự” ấy là tất cả những oái oăm, bi hài của cảnh
ngộ, những cay đắng, trớ trêu của “duyên kiếp” Sự nín lặng của bà
bà cụ Tứ không chỉ cho thấy sự từng trải mà còn là biểu hiện rõ nhất của trái tim nhân hậu
2.Tủi phận, xót thương:
- Sự kiện tràn nhặt vợ khiến bà cụ Tứ chìm đắm trong những nỗi niềm,
“vừa ai oán vừa xót thương”, vừa tủi phận Bà hờn trách chính bản thân mình: “ Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái nở mặt sau này Còn mình thì…”
Từ cảm thán “Chao ôi” đứng đầu câu tạo nên một giọng điệu than
oán, nó bắt trọn cảm xúc chua xót của một người làm mẹ
Đời người làm mẹ, còn gì chua xót hơn, đau đớn hơn khi nghe
chuyện “trăm năm” của con mà lại “cúi đầu”? Phận làm cha, làm
mẹ ai mà chẳng vui mừng khi “trai lớn dựng vợ, gái lớn gả chồng” Đằng này, bà cụ Tứ nghe chuyện của con lại không khỏi
chạnh lòng Bà nghĩ đến người ta, rồi ngầm so sánh với chính mình mà khóc Bà tủi hờn, trách phận lắm! Bao nhiêu nghẹn ngào
chua xót, đắng cay nén sau chữ “thì” vô vọng ấy
Bà xót xa vì không thể làm tròn bổn phận của một người mẹ, không lo nổi chuyện đại sự cho con Giờ đây giữa lúc người chết
đói “như ngả rạ” lại có người theo con trai mình làm vợ
Trang 4 Dấu chấm lửng “ ” thể hiện sự nghẹn ngào, bất lực như một tiếng thở dài đầy tâm trạng của người mẹ già có tâm nhưng không đủ sức
Nhà văn Nam Cao quan niệm: “Nước mắt là giọt châu của loài người” Ở đây, nhà văn của nông thôn Bắc Bộ đã cho thấy giọt
châu, hạt ngọc trong tâm hồn người mẹ qua những giọt nước mắt
hiếm hoi: “Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt”, lý trí đã không thể ngăn nổi con tim, bà đã cố nén giọt
nước mắt vào trong, để chỉ riêng mình bà đau Nhưng tình thương con quá lớn tràn ra khỏi vách ngăn của một trái tim nóng hổi Bà khóc vì thương con và bà tủi nhục cho chính mình vì chưa làm tròn bổn phận của người mẹ.Và trong cái kẻ mắt nức nẻ theo thời
gian ấy đã “rỉ xuống hai dòng nước mắt” khô héo Nước mắt của
người già mà như Nguyễn Khuyến xưa đã từng viết trong “Khóc Dương Khuê”:
o “ Tuổi già giọt lệ như sương
o Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan”
- Từ tủi phận cho mình, bà cụ Tứ chuyển sang xót thương cho các con Trước hết, bà xót thương cho con trai bà vì bà hiểu rằng:
“Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình Mà con mình mới có vợ được”
Nếu như những người trong xóm ngụ cư lo cho Tràng: “Giời đất này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không?” thì bà cụ Tứ lại lo “ Biết rằng
Trang 5chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.” , bà làm sao không lo cho được khi: “Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng đồng không bắt gặp
ba bốn cái thây nằm cùng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.”
Trong lòng bà ngổn ngang với dòng hồi tưởng về những năm tháng dài dằng dặc của quá khứ, với những cay đắng chồng chất trong cuộc đời của bà, của người chồng và đứa con gái đã mất, những buồn tủi về tình cảnh của mẹ con bà trong hiện tại, những
lo lắng về tương lai
Nhưng dù mừng hay tủi, buồn bã hay lo lắng, mọi ý nghĩ và nỗi niềm của bà đều chỉ xuất phát từ tấm lòng yêu thương con
vô bờ bến
- Từ chỗ xót xa cho cho trai, bà cũng đồng thời thông cảm, xót thương cho cảnh ngộ của người đàn bà xa lạ nay đã trở thành con dâu của mình
Không một lời phản đối hay tra xét, cũng không hề rẻ rúng hay coi thường người đàn bà đói rách tả tơi theo không con trai mình,
bà chỉ “đăm đăm” nhìn đứa con dâu đang bối rối “cuối mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt.”
Bà đã thấu hiểu, đã cảm thông Hành động nhận người đàn bà xa
lạ kia làm con dâu nó không chỉ dừng lại ở tình cảm của một người
mẹ thương con mà ở đó còn thể hiện một nghĩa cử cao đẹp của
truyền thống đạo lý con người Việt Nam “ Lá lành đùm lá
rách”, “Thương người như thể thương thân”
Trang 64.Mừng lòng
Vất vả nuôi con khôn lớn, trưởng thành, bà cụ Tứ không khỏi cảm thấy
“mừng lòng” trước cuộc hôn nhân của con Bà vui vì từ đây con
trai bà đã yên bề gia thất, có vợ, rồi có con như bao người đàn ông
khác Bà “khẽ dặng hắng một tiếng” như nén bao nỗi niềm, rồi “nhẹ nhàng” nói với “nàng dâu mới” : “Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng”
Lời nói của bà như đã trút đi bao gánh nặng đang đè lên tâm trạng của Tràng và cả thị, xóa đi nỗi bẽ bàng, lo sợ cho người con dâu, trả lại
danh dự cho người con gái mang tội “theo trai”
Và chính câu nói ấy đã mở ra một trang mới cho cuộc đời người vợ nhặt và cũng chính là mở ra một trang mới cho cuộc sống gia đình bà Tấm lòng bao dung ấy của người mẹ thật vĩ đại nhân từ biết bao nhiêu!
Nhà văn thật khéo léo khi sử dụng từ “mừng lòng” mà không phải là
“bằng lòng” Bởi “mừng lòng” là đồng ý trong sự mãn nguyện, vui
mừng Cuộc hôn nhân ấy là do ông Tơ, bà Nguyệt đã se duyên Còn
“bằng lòng” là sự miễn cưỡng, gượng gạo
5.Nhân hậu
Những chi tiết miêu tả thái độ, cách nói năng, cư xử của bà cụ Tứ cũng
làm đậm thêm vẻ đẹp trong tấm lòng nhân hậu của bà
Từ cách bà “khẽ dặng hắng một tiếng”, “nhẹ nhàng nói”, rồi lại “hạ thấp giọng xuống thân mật”, nhất là cách dùng hai chữ “các con” để
Trang 7gọi con và dâu như một biểu hiện chắc chắn của sự chấp nhận với nàng dâu mới
Từ câu nói xót xa: “Chúng mày thấy nhau lúc này, u thương quá ” cho đến lời giục nàng dâu: “Con ngồi xuống đây Ngồi xuống đây cho
đỡ mỏi chân.” - đó là cách cư xử cho thấy sự tinh tế và nhân hậu
trong lòng người mẹ nghèo, bà muốn bằng thái độ, giọng nói và cả cách xưng hô để làm vơi đi những căng thẳng, lo âu của con cái, nhất là những tủi hổ bẽ bàng của người đàn bà gặp cảnh éo le đói khát mà phải theo không con trai mình
Lần thứ hai, người mẹ nhiều khổ ấy phải quay đi, lén giấu những giọt
nước mắt lo lắng, buồn tủi của mình “Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng”
Nếu ở đoạn trên, Kim Lân miêu tả hai dòng nước mắt “rỉ xuống” để
chỉ đường chảy của nó là thấm sâu, chảy ngược vào trong lòng, thì ở đây nó đã tuôn trào thay cho bao cảm xúc suy tư của người mẹ già
Những dòng nước mắt tuôn trào “ròng ròng” như sự giải thoát của tâm
trạng và cảm xúc
Bà khóc vì thương mình, cũng vì thương cho đứa con trai và nàng dâu mới Đó chính là lòng yêu thương con vô bờ bến của người mẹ Việt Nam Thật đáng tự hào và quý trọng biết bao
6.Lạc quan, niềm tin vào tương lai
Trong ba nhân vật chính của truyện ngắn, bà cụ Tứ cũng là người thể
hiện rõ nhất niềm tin, niềm hy vọng vào tương lai
Trang 8 Khốn khổ vì gánh nặng cuộc sống, không thể nén được tiếng “thở dài” chua xót trước việc nhặt vợ của con Thậm chí, hơn một lần bà
đã khóc vì tủi phận, lo lắng vậy mà bà vẫn đồng tình với việc làm có
vẻ hoang phí, bốc đồng của con trai khi thấy Tràng mua dầu thắp đèn
Với câu nói “thắp lên một tí cho sáng sủa”, bà đã không chỉ thể hiện
sự trân trọng với hạnh phúc của con cái mà có lẽ còn bộc lộ một niềm
tin dẫu là vu vơ, mơ hồ về sự “sáng sủa” hơn trong cuộc đời
Nét mặt “nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo
u ám của bà rạng rỡ hẳn lên.” và dáng vẻ “xăm xắn” của bà trong
sáng ngày hôm sau khi cùng con dâu mới thu dọn, quét tước sân vườn, nhà cửa đã cho thấy ý thức vun đắp cho một cuộc sống gia đình cùng niềm hy vọng mong manh mà mãnh liệt của bà về một sự thay đổi có
cơ “khấm khá hơn” cho cuộc đời của mấy mẹ con
Bà cũng là người chủ động, nhiệt tình mang lại nhiều niềm vui nhất cho bữa ăn ngày đói Mâm cơm lúc đầu dù trong thật thảm hại khi
“Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo” nhưng dù sao vẫn là mâm cơm của con người, và bữa ăn của mấy mẹ con vẫn thật vui vẻ, đầm ấm Bà cụ Tứ chỉ “nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau”, từ cách nói dân
dã quen thuộc về việc “ngoảnh đi ngoảnh lại chẳng mấy chốc có gà
mà ăn”, đến cách bà dựa vào một thành ngữ tưởng chừng thuận
miệng nói ra nhưng lại đầy sức thuyết phục để gieo vào lòng các con
niềm tin về sự đổi đời “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” Bà đã động
viên tên các con bằng những dự tính mà ai cũng biết là viển vông, xa vời trong lúc đó, nhưng nghe cách nói của bà, ta vẫn thấy náo nức
Trang 9một hi vọng khi nghĩ rằng, nếu may mắn và cố gắng thì biết đâu, họ vẫn có thể sống, có thể hạnh phúc! Không bao giờ sự khó khăn đeo bám con người đến đời thứ ba mà khi ấy bà và Tràng đã là hai đời Vậy đến đời con của Tràng sẽ không còn khốn khó nữa Thành ngữ
là những gì rút ra từ kinh nghiệm của cuộc sống ông cha ta nhưng không phải lúc nào cũng đúng Trong hoàn cảnh này thì nó là một hi vọng, một niềm tin, là một ánh sáng le lói được bà cụ Tứ thắp lên để soi sáng cho các con mình vượt qua con đường tăm tối
Và bà đã gắng gượng một cách thật dũng cảm khi cái đói hiện ra thê thảm đau đớn ở nồi cháo cám Kim Lân miêu tả hình ảnh bà cụ Tứ
trong đoạn văn chua chát này bằng rất nhiều động từ: “Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ bưng ra một cái nồi bốc hơi nghi ngút đặt cái nồi xuống…,cầm cái môi vừa khuấy vừa cười” , rồi “mút” và đưa
cho các con những bát cháo cám! Tất cả những việc này, bà đã làm
bằng một thái độ ân cần, “đon đả” với một nét mặt “tươi cười” với những lời nói cố tỏ ra vui vẻ: “chè khoán đây, ngon đáo để” Rồi
đến khi không thể kéo dài cảnh đầm ấm ở nửa đầu bữa ăn, không thể tiếp tục giữ cho các con cảm giác vui vẻ hạnh phúc trong ngày đầu tiên của cuộc sống vợ chồng, không thể che giấu sự thật phũ phàng
đã hiện lên trong bát cháo cám đắng chát, bà lại gắng gượng an ủi
những đứa con đang “cắm đầu ăn cho xong lần”: “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”
Bên trong cái vẻ tươi tỉnh ấy, ta biết lòng người mẹ đang thổn thức
“bà không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc”, còn người đọc thì
thấy rõ những giọt nước mắt trong lòng bà Bằng tất cả sự nâng niu,
Trang 10trân trọng, Kim Lân đã để trái tim đập cùng nhịp với trái tim người
mẹ nông dân nghèo
→Chính sự dũng cảm và tình yêu thương mênh mông của bà cụ
Tứ đã khiến thứ thức ăn của những loài vật thấm đẫm tình nghĩa con người, ngời sáng nhân cách con người Sự gắng gượng đầy bản lĩnh của
người mẹ đã giúp họ có sức mạnh đối mặt với khốn khổ, “vượt lên trên cái đói, cái thảm đạm để mà vui, để mà hi vọng” Viết về điều này, Kim Ngân khẳng định: “Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống” Tinh thần nhân bản của tác
phẩm sáng ngời ở đây
Nghệ thuật:
1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, đối thoại sinh động, hấp dẫn
2 Ngôn ngữ mộc mạc giản dị, gắn với khẩu ngữ nhưng được chắt lọc kỹ lưỡng, tạo sức gợi đáng kể
3 Miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo
4 Giọng điệu nhẹ nhàng gần gũi
Kết: Nhà văn Kim Lân đã diễn tả được sâu sắc diễn biến tâm
lý của bà cụ Tứ, một bà cụ nông thôn nghèo khổ mà hiểu biết, yêu thương con và yêu thương cả những cảnh đời oái oăm, tội nghiệp bằng một tấm lòng nhân ái, cảm động Bà được nhà văn xây dựng như biểu tượng cho người mẹ Việt Nam xưa và nay