1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI THU HOẠCH LỊCH sử ĐẢNG chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của đảng cộng sản việt nam từ đại hội VI đến đại hội XIII (1986 2021) ý nghĩa đối với việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

26 16 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 470 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện một sự ham muốn tột bậc là “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; người nghèo thì đủ ăn, người đủ ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm. Hồ Chí Minh nêu mục đích của xây dựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn, của xây dựng đời sống mới là “làm thế nào cho đời sống dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn nhằm “xây dựng một nước Việt Nam mới phú cường” Vận dụng và phát triển đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề này, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đã lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng cũng được khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn. Tiếp đó, nhiều Nghị quyết của Đảng đã bàn tới vấn đề này, góp phần hoàn thiện hơn quan điểm của Đảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở mỗi giai đoạn phát triển của đất nước. Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trang 1

BÀI THU HOẠCH LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ

TÊN MÔN HỌC: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

TÊN BÀI THU HOẠCH:

CHIẾN LƯỢC ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỪ ĐẠI HỘI VI ĐẾN ĐẠI HỘI XIII (1986-2021) Ý NGHĨA ĐỐI VỚI VIỆC THỰC HIỆN MỤC TIÊU “DÂN GIÀU, NƯỚC

MẠNH, DÂN CHỦ, CÔNG BẰNG, VĂN MINH”

ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021

Trang 2

PHẦN II: NỘI DUNG 2

I ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC – ĐƯỜNG LỐI CHIẾN LƯỢC XUYÊN SUỐT CỦA CÁCH

1 Cơ sở hoạch định chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng 2

2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàndân tộc 3

II QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC VÀ XÂY

Trang 3

PHẦN I: MỞ ĐẦU

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thể hiện một sự ham muốn tột bậc là “làmsao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta aicũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”; người nghèo thì đủ ăn, người đủ

ăn thì khá giàu, người khá giàu thì giàu thêm Hồ Chí Minh nêu mục đích của xâydựng và phát triển nông nghiệp, nông thôn, của xây dựng đời sống mới là “làm thếnào cho đời sống dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơnnhằm “xây dựng một nước Việt Nam mới phú cường”

Vận dụng và phát triển đúng đắn, sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đềnày, trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết về nông nghiệp, nôngdân, nông thôn, đã lãnh đạo đẩy mạnh thực hiện chiến lược công nghiệp hóa, hiệnđại hóa nông nghiệp, nông thôn Sự đột phá đầu tiên về chính sách của Đảng cũngđược khởi đầu từ lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn Tiếp đó, nhiều Nghịquyết của Đảng đã bàn tới vấn đề này, góp phần hoàn thiện hơn quan điểm củaĐảng đối với vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở mỗi giai đoạn phát triểncủa đất nước Vì vậy, xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quantrọng hàng đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Vì vậy, em quyết định chọn chủ đề “chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam từ đại hội VI đến đại hội XIII (1986-2021) Ý nghĩa đối với việc thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” làm bài thu hoạch kết thúc môn lịch sử đảng cộng sản Việt Nam,

lớp Cao cấp lý luận chính trị (hệ tập trung) năm học 2021-2022 Đây là cơ hội đểbản thân vận dụng những kiến thức đã học, liên hệ với thực tế, trên cơ sở đó tìm tòi,suy nghĩ đưa ra những giải pháp thiết thực phù hợp, giúp cho quá trình công tác củabản thân ngày càng tốt hơn

Trang 4

PHẦN II: NỘI DUNG

I Đại đoàn kết dân tộc – đường lối chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam

1 Cơ sở hoạch định chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng

Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân

Chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, do

đó, giai cấp vô sản không thể đơn độc trong việc thực hiện sứ mệnh lịch sử củamình mà cần phải liên minh được với các giai cấp khác mới có thể đánh đổ sự thốngtrị của giai cấp tư sản, cải biến xã hội

VILênin cho rằng: Sức mạnh của Đảng bắt nguồn từ mối liên hệ mật thiết vớinhân dân, từ sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân: Chỉ những ai tắm mình trongnguồn nước tươi mát của nhân dân thì mới chiến thắng và giữ được chính quyền

“Quần chúng lao động ủng hộ chúng ta Sức mạnh của chúng ta là ở đó

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết toàn dân tộc

Trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chăm loxây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là vấn đề có ý nghĩa chiến lược,quyết định sự thành công của cách mạng Việt Nam Ngay từ năm 1927, trong tácphẩm Đường cách mệnh, Người viết: “cách mệnh là việc chung cả dân chúng chứkhông phải việc một hai người”, muốn cách mạng thành công thì phải “đồng tâmhiệp lực mà làm”

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Đại đoàn kết dân tộc là nguồn Anh vô địch, làđộng lực chủ yếu của cách mạng Việt Nam người khẳng định: “Trong thế giớikhông gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Nhờ đại đoàn kết mà trongbao nhiêu thế kỷ, nhân dân Việt Nam đã bảo vệ được độc lập tự do của mình

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xâydựng trên lập trường của giai cấp công nhân, phải được tạo dựng, bao gồm lựclượng của toàn dân tộc, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, nam nữ, giàu, nghèo trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, nông dân, trí thức dưới sự lãnh đạo của

Trang 5

giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là đảng cộng sản Người chỉ rõ: “Vậnđộng tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, gópthành lực lượng toàn dân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Để tập hợp lực lượng cách mạng, xâydựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc thì vấn đề rất cơ bản là phải xây dựng và củng

cố Mặt trận Dân tộc thống nhất, thu hút rộng rãi mọi lực lượng, mọi giai cấp, mọitầng lớp nhân dân Việt Nam yêu nước

Truyền thống đoàn kết của dân tộc

Đại đoàn kết toàn dân tộc là một truyền thống cực kỳ quý báu và là bài họclịch sử vô giá của dân tộc Việt Nam trong suốt quá trình đựng nước và giữ nước Từthắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mông Nguyên, người anh hùng dântộc Trần Hưng Đạo đã chỉ ra nguyên nhân thành công, cũng là đúc kết chân lý tạosức mạnh của quốc gia phong kiến Việt Nam: “Vua tôi đồng lòng - Anh em hòathuận - Cả nước dốc sức”

Từ giữa thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược và thống trị, biến nước ta thànhthuộc địa Đối đầu với họa xâm lăng, với truyền thống yêu nước, đoàn kết, các thế

hệ người Việt Nam đã liên tục nổi dậy đấu tranh chống xâm lược nhưng đều khônggiành được thắng lợi

2 Quan điểm, chủ trương của Đảng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy động lực cáchmạng từ quảng đại quần chúng và xác định nhiệm vụ tổ chức, tập hợp, đoàn kết, coiđây là chiến lược xuyên suốt, nhất quản, là cội nguồn của sức mạnh trong mọi thời

kỳ cách mạng

Hội nghị thành lập Đảng đầu năm 1930 đã thông qua Cương lĩnh chính trị đầutiên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh đã hàm chứa những luậnđiểm về xây dựng khối đại đoàn kết, bao gồm lực lượng của nhiều giai cấp, tầng lớptrong xã hội Việt Nam

Trang 6

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất (3-1935), Đảng khẳng định, nguồngốc sức mạnh của Đảng chính là mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng.Trong những năm 1936-1939, trước nguy cơ chiến tranh thế giới đe dọa toàn nhânloại, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương: đoàn kết, tập hợp các tầng lớpnhân dân trong một mặt trận rộng rãi, hoạt động công khai trên báo chí, đấu tranhnghị trường, đòi dân sinh, dân chủ, cải thiện đời sống cho người lao động.

Trước tình hình Chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, nhân dân Việt Nam vàĐông Dương đứng trước nguy cơ tồn vong dưới sự cai trị của thực dân Pháp vàquân phiệt Nhật, Đảng khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giaicấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc Trên cơ sở đó,Đảng chủ trương tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi “thống nhất lựclượng dân tộc là điều kiện cốt yếu để đánh đổ đế quốc Pháp” Đảng chủ trương xâydựng Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), nhằm huy độngsức mạnh toàn dân tộc, phát huy tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”,chớp thời cơ tiến hành Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, thành lập nướcViệt Nam Dân chủ Cộng hòa (2-9-1945)

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954), với tưtưởng chỉ đạo “Dân tộc trên hết Tổ quốc trên hết”, Đảng chủ trương bảo đảm, tăngcường và phát huy vai trò của khối đại đoàn kết toàn dân nhằm thực hiện thắng lợinhiệm vụ kháng chiến và kiên quốc” Trong các văn kiện quan trọng của Đảng, từChỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương về Kháng chiến tiến quốc (11-1945), Chỉ thịToàn dân kháng chiến (12-1946), Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch

Hồ Chí Minh (12-1946) và tác phẩm kháng chiến nhất định thắng lợi của Tổng Bíthư Trường Chinh (1947) đã đề ra đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, thểhiện nhất quán quan điểm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân trong Mặt trậnDân tộc thống nhất là yếu tố quan trong đưa kháng chiến đến thắng lợi

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), đi thực hiện đồngthời hai chiến lược cách mạng, Đảng chủ trương phát huy mạnh mẽ sức mạnh khốiđại đoàn kết toàn dân tộc Báo cáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hội nghị chính trị

Trang 7

đặc biệt (3/1964) nêu rõ: Để thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòabình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần giữ gìn hòa bình ở ĐôngNam Á và thế giới, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã đoàn kết cần đoàn kếthơn nữa Mọi người chúng ta, bất kỳ ai, làm việc gì, ở cương vị nào, đều phải lànhững chiến sĩ dũng cảm của sự nghiệp về vang ấy.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đảng chủ trương đưa cảnước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổquốc xã hội chủ nghĩa Trên chặng đường mới, Đảng chủ trương thống nhất các tổchức Mặt trận ở hai miền Bắc - Nam thành một Mặt trận chung, lấy tên là Mặt trận

Tổ quốc Việt Nam, làm cơ sở để tăng cường và phát huy khối đại đoàn kết toàn dântộc

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6-1991), lần đầu tiên trong Cươnglĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng nếu kháiniệm mới về khối liên minh công - nông - trí thức và khẳng định: liên minh công -nông - trí làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc Cương lĩnh rút ra 5 bàihọc lớn, trong đó có bài học: “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và

vì nhân dân” và “không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết, đoàn kết toàn Đảng,đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế” Nhận thức rõ vị trí, tầmquan trọng của chiến lược đại đoàn kết dân tộc và công tác xây dựng Mặt trận, ngày17-11-1993, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 07-NQ/TW “Về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất”

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6-1996) nhấn mạnh phươngchâm: “mở rộng hơn nữa khối đại đoàn kết dân tộc lấy liên minh giai cấp công nhânvới giai cấp nông dân và tăng tri thức làm nền tảng, đoàn kết mọi người trong đạigia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay đang định cư ở nước Có cơ chế

và cách làm cụ thể để thực hiện phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểmtra

Bước sang thế kỷ thứ XXI, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (4-2001) chủ

Trang 8

trương: “Thực hiện đại đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phầnkinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trong Đảng và ngườingoài Đảng, người đang công tác và người đã nghỉ hưu, mọi thành viên trong đạigia đình Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài ( ) lấy mục tiêu giữ vữngđộc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minhlàm điểm tương đồng ( ) trên cơ sở liên minh vững chắc giai cấp công nhân vớigiai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” Nhằm cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đạihội IX, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX đã ra Nghị quyết

về “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hộicông bằng, dân chủ, văn minh”

Trên cơ sở tổng kết thực tiễn 20 năm đổi mới, Đại hội X của Đảng khẳngđịnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giaicấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lượcnhất quán của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và lànhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc”

Sau 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới và 20 năm thực hiện Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ XI (1-2011) tiếp tục nhấn mạnh: “Đại đoàn kết toàn dân tộc làđường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủyếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng

và bảo vệ Tổ quốc” Đại hội chỉ rõ, trong thời kỳ hiện nay, đại đoàn kết toàn dântộc: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất,toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểmtương đồng; xóa bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhậnnhững điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của lân tộc; đề cao tinh thần dântộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặttrận chung, tăng cường đồng thuận xã hội

Trang 9

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII (1-2016), một lần sữa Đảng khẳngđịnh: “Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, làđộng lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tăng cường khốiđại đoàn kết hàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo”

Đại hội đại đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh: “Khơi dậymạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàndân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xãhội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, conngười Việt Nam”

II Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc và xây dựng mặt trận của Đảng

1 Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng dân tộc dân chủ

Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền (1930-1945)

Thành lập Hội Phản đế đồng minh, hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam (1930)

Ngày 18-11-1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng quyết định thành lập HộiPhản đế đồng minh Hội Phản đế đồng minh đã tập hợp đông đảo quần chúng, trướchết là công nông, góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cao trào cách mạng 1930-1931

Tổ chức “Phản đế liên minh”, bước phát triển mới về Mặt trận Dân tộc thống nhất (1935)

Đại hội lần thứ nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương (3-1935) đã ra nghịquyết thành lập tổ chức Phản để liên minh và thông qua Liều lệ của tổ chức này

Vận động thành lập Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936-1940)

Trong những năm 1936-1939, nhằm thực hiện mục tiêu đầu tranh chống chế

độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh; đòi tự do, dân chủ, cơm áo

và hòa bình, Đảng Cộng sản Đông Dương đề ra chủ trương lập Mặt trận rộng rãi.Tuy mang nhiều tên gọi khác nhau, như: Mặt trận Nhân dân, Mặt trận Dân chúng

Trang 10

thông nhất phản đế, Mặt trận Dân tộc phản đế, Mặt trận Nhân dân phản để, Mặt trậnThống nhất Đông Dương nhưng tính chất, nội dung vẫn là Mặt trận Dân chủ.

Thành lập Mặt trận Việt Minh - ngọn cờ tập hợp toàn dân đấu tranh giành chính quyền (1941)

Thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, tháng10-1941, Việt Minh công bố Tuyên ngôn, Chương trình, Điều lệ Đây là lần đầutiên, một mặt trận dân tộc thống nhất được thành lập trình bày rõ ràng đường lối,chính sách, cách thức tiến hành và tổ chức lực lượng đấu tranh để thực hiện mụcđích cứu quốc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thắng lợi, Mặt trận Việt Minhhoàn thành sứ mệnh là ngọn cờ tập hợp toàn dân đấu tranh giành độc lập dân tộc,xây dựng nhà nước dân chủ đầu tiên của nhân dân trong lịch sử Việt Nam

Thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, Đảng chủ trương xây dựng Mặttrận Dân tộc thống nhất Việt Nam dưới hai hình thức Việt Minh, Liên Việt để đoànkết toàn dân kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Củng cố và mở rộng Mặt trận Việt Minh (1945)

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Việt Minh được củng cố và mở rộngthành phần, bao gồm mọi tầng lớp nhân dân, những thành phần yêu nước trong xãhội, phát huy vai trò nòng cốt trong tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân

Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam ra đời góp phần xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân (1946)

Tháng 5-1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt rađời Hội Liên Việt dần được xây dựng ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở và ngàycàng nêu cao vai trò trong việc vận động nhân dân đoàn kết kháng chiến, nhất làtrong việc tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân phá tan âm mưu thâm độccủa thực dân Pháp thi hành chính sách “dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiếntranh nuôi chiến tranh”, lập mặt trận phản dân tộc, phản kháng chiến, dựng nênnhững cái gọi là “xứ Nùng tự trị”, “xứ Thái tự trị”, “xứ Mường tự trị”

Trang 11

Thống nhất Việt Minh - Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt (1951) Do yêu cầu của việc tăng cường đoàn kết và củng cố Mặt trận

Dân tộc thống nhất Việt Nam, từ năm 1948, Đảng đã có chủ trương và chỉ đạothống nhất hai tổ chức Mặt trận Việt Minh và Liên Việt Tháng 3-1951, Mặt trậnViệt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất lấy tên là Mặt trận Liên Việt

Thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời, đoàn kết toàn dân xây dựng miền Bắc vững mạnh (1955)

Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền,nhân dân phải tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược Trước tình hình đó, Đạihội Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam họp từ ngày 5 đến ngày 10-9-1955 tại HàNội, quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Tuyên ngôn của Mặt trận Tổquốc Việt Nam tại Đại hội thành lập Mặt trận (9-1955), Nghị quyết Đại hội Mặttrận lần thứ II (4-1961), Nghị quyết Đại hội Mặt trận lần thứ III (12-1971) đều quántriệt quan điểm, chủ trương của Đảng, kêu gọi các tầng lớp nhân dân, kêu gọi mọingười Việt Nam siết chặt hàng ngũ trong Mặt trận

Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời đóng vai trò quan trọng trong công cuộc giải phóng miền Nam (1960)

Ngày 20-12-1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, thuộc vùng giải phóngTây Ninh, đại biểu các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo và các đảng phải đã họpĐại hội và quyết định thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình miền Nam Việt Nam ra đời tăng cường khối đại đoàn kết chống Mỹ, cứu nước (1968)

Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh vớichủ trương hòa bình, trung lập đã thu hút nhiều nhân sĩ, trí thức, tư sản tham giachống Mỹ - Thiệu Ngày 20-4-1968, nhóm trí thức Sài Gòn ra vùng giải phóng cùngmột số nhân sĩ yêu nước mở Đại hội thành lập Liên minh các lực lượng dân tộc dânchủ và hòa bình miền Nam Việt Nam, một tổ chức mặt trận mới gồm nhiều nhân sĩ,trí thức, nhà công thương, nổi tiếng ở miền Nam

Trang 12

Nhận xét về việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng dân tộc dân chủ:

1) Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và thành lập Mặt trận Dân tộcthống nhất là một yêu cầu tất yếu khách quan của cách mạng Việt Nam Chiến lượcđại đoàn kết toàn dân tộc và Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam của Đảng dựatrên những cơ sở lý luận và thực tiễn khách quan

2) Từ thực tế đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã hình thành hệthống quan điểm, chủ trương và mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Mặttrận Dân tộc thống nhất Việt Nam Mặt trận không chỉ tập hợp các tầng lớp cơ bản,

mà còn tập hợp cả các tầng lớp khác có tinh thần dân tộc và yêu nước tiến bộ, kếthợp hài hòa mối quan hệ dân tộc và giai cấp

3) Trong quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựngMặt trận Dân tộc thống nhất, Đảng luôn bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo củaĐảng Cộng sản; Đảng vừa là thành viên, vừa là lãnh đạo Mặt trận

4) Liên minh công - nông - trí thức là nền tảng để xây dựng Mặt trận Dân tộcthống nhất, đồng thời mở rộng liên minh với các giai tầng xã hội khác tạo nên khốiđoàn kết rộng rãi và vững chắc của Mặt trận

5) Mặt trận Dân tộc thống nhất là tổ chức đóng vai trò quan trọng trong vậnđộng, đoàn kết toàn dân tộc, tạo cơ sở để đoàn kết quốc tế, gắn cách mạng ViệtNam với cách mạng Lào, Campuchia, cách mạng thế giới, tạo nên sức mạnh tổnghợp thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam

2 Quá trình thực hiện chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng Mặt trận Dân tộc thống nhất trong cách mạng xã hội chủ nghĩa

Thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975)

Sau khi Hiệp định Giơnevơ được ký kết, miền Bắc được gia, phóng, Đảng chủtrương thành lập một mặt trận dân tộc thống nhất thích hợp Đáp ứng yêu cầu đó,tháng 9-1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đãthực sự phát huy được sức mạnh mới của cả dân tộc, phát huy vai trò quyết định củamiền Bắc đối với công cuộc giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc

Trang 13

Trong những năm vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa chiến đấu chống chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã quy tụ và phát huysức mạnh của mọi tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo, với tinh thần “Không có gìquý hơn độc lập tự do”, “Một người làm việc bằng hai”, “Thóc không thiếu mộtcân, quân không thiếu một người” và với quyết tâm “Tất cả vì chủ nghĩa xã hội”,

“Tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “Tất cả cho tiền tuyến lớn”, “Tất cả để đánh thắnggiặc Mỹ xâm lược” tạo nên sức mạnh to lớn, góp phần làm nên Đại thắng mùaXuân 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước

Thời kỳ đầu cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1986)

Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc ViệtNam - kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội.Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục phát huy vaitrò, sứ mệnh quy tụ khối đại đoàn kết toàn dân tộc để thực hiện hai nhiệm vụ chiếnlược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Đạihội Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ II, nhiệm kỳ 1983-1988 đề ra Chương trìnhhành động là: Hướng mọi hoạt động của Mặt trận đi vào thiết thực, hướng về cơ sở,tới địa bàn dân cư Tuy nhiên, đây là thời kỳ Mặt trận hoạt động trong cơ chế quản

lý tập trung, quan liêu, bao cấp, thực hiện bằng mệnh lệnh, hành chính, do đó, vấn

đề đoàn kết dân tộc, công tác xây dựng Mặt trận chưa có chiều sâu, các giải phápkhông đồng bộ nên chưa khơi dậy và phát huy được sức mạnh của dân tộc trong xâydựng và phát triển đất nước

Thời kỳ đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế (từ năm

1986 đến nay)

Bước vào thời kỳ đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Mặt trận Tổ quốc ViệtNam và các đoàn thể tăng cường động viên, tập hợp các tổ chức xã hội, nghềnghiệp, các tầng lớp nhân dân tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, tăngcường quốc phòng - an ninh, góp phần tích cực vào thực hiện có hiệu quả công cuộcxây dựng và bảo vệ Tổ quốc Phát huy sức mạnh của cộng đồng dân tộc truyềnthống yêu nước, ý chí tự lực tự cường và lòng tự hào dân tộc, lấy mục tiêu giữ vững

Ngày đăng: 11/01/2022, 20:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w