Gia đình là một thiết chế văn hóa xã hội đặc biệt, nơi sản sinh, nuôi dưỡng và hình thành nhân cách con người. Trải qua những biến động, thăng trầm lịch sử, những giá trị tốt đẹp của gia đình không bị mất đi mà ngày càng được bồi đắp thêm những giá trị mới, tạo điểm tựa, sức mạnh tinh thần, hướng con người đến những giá trị tốt đẹp của chân, thiện, mỹ. Gìn giữ, vun đắp hệ giá trị gia đình Việt Nam có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hình thành những con người mới để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: Nhiều gia đình cộng lại mới thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Hạt nhân của xã hội là gia đình. Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước quán triệt trong Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng và trong các bộ luật liên quan, với các nội dung hướng tới việc củng cố vị trí, vai trò và chức năng của gia đình. Mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đang tạo ra những khoảng cách với những rạn nứt trong quan hệ gia đình. Nhịp sống công nghiệp, con người chạy đua với công việc cùng những áp lực về thời gian, tiền bạc và cuộc sống mưu sinh khiến họ không có nhiều thời gian bên gia đình, con cái, nhất là với những gia đình có bố mẹ làm công nhân xa nhà.
Trang 1BÀI THU HOẠCH
LỚP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
HỆ TẬP TRUNG
TÊN MÔN HỌC:
CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
TÊN BÀI THU HOẠCH:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CỦA VẤN ĐỀ XÂY DỰNG GIA ĐÌNH Ở TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU HIỆN NAY
ĐIỂM TRUNG BÌNH CHUNG
Trang 2PHẦN II NỘI DUNG 2
2.1 Lý luận chung về gia đình và xây dựng gia đình việt nam hiện nay 2
2.1.1 Quan niệm về gia đình 2
2.1.2 Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay 2
2.2 Xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay 4
2.2.1 Các tiêu chí xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay 4
2.2.2 Những yếu tố tác động và vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay 4
2.3 Quan điểm và giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay 5
2.3.1 Quan điểm xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay 5
2.3.2 Một số giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay 6
2.4 Thực trạng và giải pháp xây dựng gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu 8
2.4.1 Thực trạng xây dựng gia đình trên địa bàn tỉnh 8
2.4.2 Những tồn tại, hạn chế 12
2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 13
2.5 Một số giải pháp về xây dựng gia đình của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay (giai đoạn 2020 – 2025) 14
PHẦN III KẾT LUẬN 17
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 18
Trang 3PHẦN I MỞ ĐẦU
Gia đình là một thiết chế văn hóa - xã hội đặc biệt, nơi sản sinh, nuôi dưỡng
và hình thành nhân cách con người Trải qua những biến động, thăng trầm lịch sử,những giá trị tốt đẹp của gia đình không bị mất đi mà ngày càng được bồi đắp thêmnhững giá trị mới, tạo điểm tựa, sức mạnh tinh thần, hướng con người đến những giátrị tốt đẹp của chân, thiện, mỹ Gìn giữ, vun đắp hệ giá trị gia đình Việt Nam có ýnghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần hình thành những con người mới để xây dựngthành công chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhiều gia đình cộng lại mới thành xãhội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt Hạt nhân của xãhội là gia đình" Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được Đảng và Nhà nước quán triệt trongNghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng và trong các bộ luật liên quan, với các nội dunghướng tới việc củng cố vị trí, vai trò và chức năng của gia đình
Mặt trái của nền kinh tế thị trường, quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóađang tạo ra những khoảng cách với những rạn nứt trong quan hệ gia đình Nhịpsống công nghiệp, con người chạy đua với công việc cùng những áp lực về thờigian, tiền bạc và cuộc sống mưu sinh khiến họ không có nhiều thời gian bên giađình, con cái, nhất là với những gia đình có bố mẹ làm công nhân xa nhà
Một hiện tượng gây nhức nhối dư luận và xuất hiện ngày càng nhiều trongnhững năm gần đây là những vụ việc liên quan đến cha mẹ, anh em, vợ chồng chỉ
vì mâu thuẫn cá nhân, tranh giành lợi ích đất đai, tài sản, dẫn đến bất đồng, xô xát,đẩy nhiều gia đình vào cảnh tang thương, đổ máu vì những toán tính nhỏ nhen, ích
kỷ Vì lợi ích vật chất nhiều người sẵn sàng đánh đổi, thậm chí chà đạp lên giá trị,danh dự của gia đình, dòng họ, bất chấp chuẩn mực đạo đức cộng đồng Những vụviệc về tham nhũng, buôn bán ma túy; buôn bán phụ nữ và trẻ em, cá cược, đánhbạc trên mạng; tình trạng bạo lực gia đình, bạo lực học đường vẫn xuất hiện, đặt ranhiều vấn đề về tình trạng suy thoái đạo đức xã hội, sự tha hóa nhân cách conngười
Qua nội dung bài học và những kiến thức thầy cô giảng dạy trong môn “Chủnghĩa xã hội khoa học”, trên cơ sở những vai trò quan trọng của gia đình đối với xãhội, học viên muốn trình bày quan điểm cá nhân về vấn đề này, đặc biệt là gắn với
địa phương nơi đang sinh sống Đó là lý do học viên chọn đề tài “Thực trạng và giải pháp của vấn đề xây dựng gia đình ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay”
làm bài thu hoạch
Trang 4PHẦN II NỘI DUNG 2.1 Lý luận chung về gia đình và xây dựng gia đình việt nam hiện nay
2.1.1 Quan niệm về gia đình
Khi nghiên cứu về gia đình, C.Mác quan niệm: “Hằng ngày tái tạo ra đời sốngcủa bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở - đó
là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình
Theo Tổ chức UNESCO của Liên hợp quốc: Gia đình là yếu tố tự nhiên và cơbản, một đơn vị kinh tế - xã hội và là một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại cầnđược giữ gìn và phát huy Trên tinh thần đó, UNESCO quan niệm: gia đình là mộtnhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung; cácthành
viên trong gia đình gắn bó với nhau về trách nhiệm và quyền lợi về mọi mặt, đượcpháp luật thừa nhận
Luật Hôn nhân và Gia đình (số 52/2014/QH13 ngày 19-6-2014) của Việt
Nam đưa ra khái niệm: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn
nhân,
quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền vànghĩa
vụ giữa họ với nhau”
Từ những cách tiếp cận trên, chủ nghĩa xã hội khoa học quan niệm: Gia đình
là một hình thức cộng đồng xã hội đặc biệt, hình thành và phát triển trên cơ sở cácmối quan hệ hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng, đồng thời, có sự gắn kết nhấtđịnh về kinh tế - vật chất, qua đó nảy sinh những quyền lợi và nghĩa vụ cho cácthành viên của mình
2.1.2 Thực trạng gia đình Việt Nam hiện nay
Hôn nhân là sự kết hợp giữa người đàn ông và đàn bà nhằm xác lập quan hệ
vợ chồng, xây dựng gia đình, từ khi trong xã hội có Nhà nước, quan hệ hôn nhânkhông chỉ phản ánh ý chí của các cá nhân tham gia vào quan hệ đó mà còn là ý chícủa Nhà nước Trong những giai đoạn khác nhau, phụ thuộc vào cơ sở kinh tế xãhội, Nhà nước đặt ra những nguyên tắc của Hôn nhân gia đình để định hướng chonhững quan hệ xã hội đó phát triển theo mục tiêu đã định Việc xây dựng gia đìnhhòa thuận, bình đẳng, hạnh phúc đã trở thành một đòi hỏi tất yếu của xã hội Tuynhiên, qua số liệu thống kê cho thấy gia đình Việt Nam còn tồn tại nhiều nhữngvấn đề xã hội cần quan tâm hơn nữa
a) Quy mô gia đình có xu hướng ngày càng nhỏ lại
Theo kết quả Tổng điều tra năm 2019, tính đến thời điểm 0 giờ ngày
01/4/2019
cả nước có 26.870.079 hộ gia đình, tăng 4,4 triệu hộ so với năm 2009 Tỷ lệ tăng
số hộ gia đình giai đoạn 2009 - 2019 là 18,0%, bình quân mỗi năm tăng 1,8%/năm,thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với giai đoạn 1999 - 2009 Đây là giai đoạn có tỷ
lệ tăng số hộ thấp nhất trong vòng 40 năm qua Như vậy số người bình quân trong
hộ liên tục giản, tổng điều tra dân số 1979 là 5,22 người/hộ; 1989 là 4,84 người/hộ;
1999 là 4,6 người hộ; 2009 là 3,8 người/hộ; TĐTDS năm 2019 có tổng số 26,870triệu hộ, bình quân mỗi hộ có 3,5 người/hộ, thấp hơn 0,3 người/hộ so với năm
2009 Điều này cho thấy xu thế quy mô hộ gia đình nhỏ đã hình thành và ổn định ởnước ta và tuy quy mô hộ gia đình nhỏ đã hình thành và ổn định nhưng vẫn tiếp tụcgiảm
Trang 6thân
b) Tình trạng hôn nhân không đăng ký
Hôn nhân không đăng ký là hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồngnhưng chưa đăng ký kết hôn, do đó, không được pháp luật công nhận là vợ chồng.Trên thực tế, hiện tượng chung sống không kết hôn khá phức tạp, có thể tạm phânchia thành hai nhóm, nhóm thứ nhất: sự chung sống của đôi nam nữ được gia đình,
họ hàng, cộng đồng thừa nhận được gọi là hôn nhân thực tế; nhóm thứ hai: chưađược gia đình, họ hàng, cộng đồng thừa nhận gọi là hiện tượng chung sống trướchôn nhân
Hiện tượng chung sống trước hôn nhân: Chưa có những số liệu thống kêchính thức về hiện tượng chung sống trước hôn nhân, nhưng hiện tượng nàythường xuất
hiện tập trung ở giới trẻ sống xa gia đình, không chịu sự kiểm soát của gia đìnhnhư
học sinh, sinh viên, những người lao động nhập cư vào thành phố lớn
c) Số lượng các vụ ly hôn tăng nhanh qua các năm
Nhìn chung, tỷ lệ ly hôn ở nước ta thấp, tuy nhiên tỷ lệ này đang có xu hướngtăng trong 10 năm qua (năm 2009: 1,0%, năm 2019: 1,8%) Tỷ lệ ly hôn có sựkhác biệt theo giới tính và khu vực thành thị, nông thôn: Tỷ lệ ly hôn của nữ giớicao hơn nam giới (2,1% so với 1,4%), khu vực thành thị cao hơn khu vực nôngthôn (2,1% so với 1,6%)
d) Bạo lực giới trong gia đình
Nguyên nhân ly hôn do mâu thuẫn gia đình, bị đánh đập ngược đãi chiếm tỷ
lệ lớn cho thấy bạo lực giới là vấn đề rất nghiêm trọng trong đời sống gia đình hiệnnay Nó là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự tan vỡ của gia đình và nó cũng lý giải
vì sao phụ nữ là người chủ yếu đứng đơn xin tòa án cho ly hôn
Nguyên nhân trực tiếp của bạo lực trong gia đình là những mâu thuẫn vợchồng nảy sinh trong làm ăn kinh tế, nuôi dạy con cái, áp lực sinh con trai, vợ hoặcchồng ngoại tình người đàn ông hòng kiểm soát toàn bộ cuộc sống của người vợ,ham muốn có cội nguồn từ truyền thống gia trưởng Nhiều người đàn ông sau khikết hôn đã nghĩ rằng vợ là vật sở hữu của họ và họ có quyền trừng phạt vợ khi cầnthiết
Để ngăn chặn bạo lực gia đình thì chỉ riêng giáo dục để thay đổi hành vi làchưa đủ mà cần phải có chế tài điều chỉnh, khiến cho những người đàn ông có tưtưởng gia trưởng phải kiểm soát hành vi của họ
e) Tâm lý chuộng con trai còn phổ biến
Kết quả các cuộc điều tra thăm dò về nguyện vọng sinh con trai của các cặp vợ
chồng cho thấy có khoảng 50% các cặp vợ chồng bày tỏ nguyện vọng “nhất thiếtphải có con trai” Số liệu điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và người phụ nữtrong gia đình của Trung tâm nghiên cứu khoa học về Gia đình và Phụ nữ cho thấygần 50% cặp vợ chồng nói nhất thiết phải có con trai
Nguồn gốc của tâm lý này xuất phát từ truyền thống coi trọng con trai tronggia đình Việt Nam như con trai là người thờ cúng tổ tiên, nối dõi tông đường, là trụcột kinh tế của gia đình, là nơi nương tựa của cha mẹ lúc tuổi già Ngày nay, mặc
dù cuộc sống của các gia đình ở nước ta đã có nhiều thay đổi nhưng cuộc sống củangười già vẫn chủ yếu dựa vào con cái, do đó tâm lý muốn có con trai để nương tựalúc tuổi già vẫn còn rất phổ biến
Trang 7Một số nét về thực trạng gia đình Việt Nam được đề cập trên đây cho thấy giađình Việt Nam đang đứng trước nhiều thuận lợi cũng như khó khăn thách thức do sựbiến đổi của đơn vị gia đình đặt ra Nhận thức được điều này có ý nghĩa vô cùngquan trọng trong việc điều chỉnh của Nhà nước đối với sự biến đổi của gia đình,thông qua chiến lược phát triển gia đình và phát huy được những di sản, giá trị tốtđẹp của gia đình truyền thống, giữ vững sự ổn định, tạo nền tảng cho sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
2.2 Xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay
2.2.1 Các tiêu chí xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay
Xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay thực chất là xây dựng gia đình mới trên
cơ sở “kế thừa, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam gắn liền với xây dựng những giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển” [7, tr.1] Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam tiếp tục đề ra: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh”
- No ấm: Gia đình no ấm là gia đình được đảm bảo an toàn về lương thực và
có điều kiện kinh tế tối thiểu bằng điều kiện kinh tế trung bình tại địa bàn cư trú;đáp ứng nhu cầu vật chất và tinh thần cho mọi thành viên trong gia đình
- Tiến bộ: Gia đình tiến bộ là gia đình mà mọi thành viên đều yêu thương, tôn
trọng lẫn nhau Mỗi gia đình tiến bộ sẽ góp phần tạo nên xã hội tiến bộ
- Hạnh phúc: Gia đình hạnh phúc được xây dựng trên cơ sở gia đình no ấm,
bình
đẳng, tiến bộ Gia đình hạnh phúc là mọi thành viên trong gia đình phải được đảmbảo các nhu cầu thiết yếu về đời sống vật chất và tinh thần; các thành viên trong giađình cùng đồng cam cộng khổ, tự giác cùng nhau xây dựng tổ ấm gia đình
- Văn minh: Gia đình văn minh là gia đình tiếp thu được đầy đủ các yếu tố
tiên tiến của thời đại (bình đẳng, dân chủ, tôn trọng lợi ích chính đáng của cánhân ) để duy trì, xây dựng và phát triển gia đình
Như vậy, xây dựng gia đình với đầy đủ những tiêu chí trên sẽ làm cho gia
đình thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, thúc đẩy xã
hội và đất nước phát triển nhanh, bền vững
2.2.2 Những yếu tố tác động và vấn đề đặt ra đối với việc xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay
* Những yếu tố tác động đến việc xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay
Vấn đề đặt ra là mỗi gia đình cần nhận thức đúng mặt tốt của nó để tìm cáchgiữ gìn và phát huy, nhất là thông qua việc thực hiện chức năng giáo dục của giađình; đồng thời, phải khắc phục mặt tiêu cực của các yếu tố truyền thống đối vớixây dựng gia đình cũng như đối với sự phát triển của mỗi cá nhân Trong bối cảnhhiện nay, có nhiều yếu tố tác động đến việc xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay
đó là:
- Tác động của các yếu tố truyền thống;
- Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, kinh tế thị trường và hội nhập quốctế;
- Tác động của khoa học và công nghệ;
Như vậy, gia đình là một vấn đề lớn và xây dựng gia đình là một chiến lược
mà Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm, coi đó là mục tiêu quan trọng của công tácxây dựng đời sống văn hóa mới trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
* Những vấn đề đặt ra đối với xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay
Trang 8- Một là, nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò của gia đình, xây dựng gia đình
còn hạn chế làm cho việc thực hiện các chức năng của gia đình đang gặp nhiềukhó khăn
- Hai là, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, gia đình Việt Nam đã có nhiều
biến đổi cần phải nhận diện để xây dựng chiến lược phát triển gia đình phù hợp
- Ba là, nhiều thách thức đặt ra đối với vấn đề dân số và gia đình Việt Nam hiện
nay
- Bốn là, công tác truyền thông và công tác quản lý gia đình triển khai thực hiện
chưa thật hiệu quả
- Năm là, mâu thuẫn giữa nhu cầu cần bảo lưu, giữ gìn, phát huy những giá trị
truyền thống của gia đình với việc tiếp thu những giá trị mới tiến bộ để xây dựnggia đình
- Sáu là, bạo lực gia đình, tình trạng buôn bán phụ nữ và trẻ em vẫn diễn ra phổ
biến
Những vấn đề nêu trên đòi hỏi phải có giải pháp khắc phục hiệu quả nhằmxây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh
2.3 Quan điểm và giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay
2.3.1 Quan điểm xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay
Thứ nhất, xây dựng gia đình trên cơ sở kế thừa, gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình, đồng thời tiếp thu những giá trị của nhân loại.
+ Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng gia đình không mâuthuẫn với việc gìn giữ và phát huy các giá trị truyền thống vốn có tốt đẹp của giađình Gia đình Việt Nam hiện nay, là sản phẩm của hai quá trình song song, đồngthời, đó là hiện đại hoá các truyền thống tốt đẹp của gia đình
+ Song song với quá trình đó là quá trình truyền thống hóa những giá trị hiệnđại Nhiều giá trị mới, tiến bộ của xã hội hiện đại như bình đẳng, dân chủ, hônnhân một vợ - một chồng, bình đẳng giới đang trở thành những giá trị mang tínhphổ biến, trở thành lối sống thường nhật, thành thói quen của nhiều gia đình trong
xã hội hiện đại
+ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: “Tiếp tụcxây dựng gia đình kiểu mẫu “ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu thảo hiền, vợchồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau” Kính trọng, bảo vệ vàchăm sóc người cao tuổi Bảo trợ, giúp đỡ người cao tuổi gặp khó khăn, cô đơnkhông nơi nương tựa”
Thứ hai, xây dựng gia đình theo các chuẩn mực của gia đình, thực hiện tốt
“Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” và Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 25-10-2017 về công tác dân số trong tình hình mới.
+ Ngày 29-5-2012, “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020,
và tầm nhìn 2030” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược đã xác định
các quan điểm và những chỉ tiêu cụ thể mang tính định hướng cho công tác xâydựng gia đình Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,theo đó, hướng tới mục tiêu xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc,văn minh; là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cáchcon người; thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội, qua đó,bảo tồn và phát
Trang 9huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lựcphục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
+ Ngày 25-10-2017, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 21-NQ/TW về công tác dân số trong
tình
hình mới, trong đó có nêu quan điểm cần quán triệt: “Tiếp tục chuyển trọng tâm
chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang dân số và phát triển Công tác dân
số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượngdân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng,
an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững” [5, tr 2-3]
Thứ ba, xây dựng gia đình trên cơ sở đảm bảo hôn nhân tiến bộ, tự nguyện, bình đẳng giới và phòng chống bạo lực gia đình
+ Gia đình là một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển bềnvững của xã hội và thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước, xây dựng chủ nghĩa xã hội
+ Xây dựng gia đình mới thực hiện hôn nhân tiến bộ một vợ, một chồng trên
cơ sở tình yêu chân chính giữa nam và nữ, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ Hôn
nhân tự nguyện, tiến bộ bao giờ cũng gồm hai mặt: tự do kết hôn và tự do ly hôn
Vì vậy, ly hôn là chính đáng, song cần có sự bảo đảm của pháp lý, có sự hỗ trợ,hòa giải của các đoàn thể xã hội, của cộng đồng
+ Gia đình được xây dựng trên cơ sở gia đình hòa thuận, xây dựng tốt các mối quan hệ với các cộng đồng, tổ chức ngoài gia đình
+ Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồngtrong việc thực hiện chính sách, pháp luật hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới
Thứ tư, xây dựng gia đình phải gắn liền với hình thành và xác lập củng cố mối quan hệ gắn bó với các cộng đồng, các thiết chế tổ chức ngoài gia đình
+ Hiện nay, công tác xây dựng gia đình chỉ đạt hiệu quả cao nếu một mặt, biếtkhơi dậy những giá trị truyền thống tốt đẹp, mặt khác, chỉ ra những tiêu cực và táchại của nó để định hướng cho các gia đình trong việc xây dựng gia đình mới tiếnbộ; đồng thời, phải biết dựa vào cộng đồng dân cư để thực hiện các biện pháp giáodục, tuyên truyền phù hợp nhằm triển khai những chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước về xây dựng gia đình, từ đó, tạo ra phong trào thi đua rộngkhắp và hiệu quả
+ Hiện tại, Việt Nam đang dấy lên các phong trào, như: xóa đói, giảm nghèo,xây dựng các chuẩn mực gia đình, xây dựng nông thôn mới Nhờ có các phongtrào này mà nhiều gia đình đã nhận được sự hỗ trợ, giúp đỡ của cộng đồng và xãhội Họ
đã chủ động, sáng tạo vươn lên thoát nghèo, thậm chí trở nên giàu có, xây dựng giađình theo các chuẩn mực văn hóa gia đình, qua đó, góp phần vào sự tiến bộ chungcủa xã hội
2.3.2 Một số giải pháp xây dựng gia đình Việt Nam hiện nay
Một là, nâng cao nhận thức và đẩy mạnh công tác truyền thông về xây dựng gia
đình Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay.
+ Cần đổi mới nội dung, đa dạng hóa hình thức truyền thông về xây dựng giađình, phòng, chống bạo lực gia đình Chú trọng hình thức truyền thông bằng cácthông điệp trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 10+ Lồng ghép kiến thức xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, vănminh và phòng, chống bạo lực gia đình vào các chương trình giáo dục, đào tạo phùhợp với yêu cầu của từng ngành học, cấp học.
Hai là, phát huy vai trò của hệ thống chính trị và của các tổ chức hội đối với công tác gia đình.
+ Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng và sự chỉ đạo của chính quyềncác cấp đối với công tác gia đình Nhà nước có vai trò rất lớn đối với gia đình Thểchế chính trị và thiết chế xã hội là những yếu tố cơ bản đảm bảo cho gia đình ổnđịnh và phát triển
+ Thường xuyên chủ động rà soát, đánh giá tình hình gia đình tại địa phương;xây dựng chương trình, kế hoạch giải quyết những khó khăn, thách thức về giađình và công tác gia đình Xóa bỏ các hủ tục, tập quán lạc hậu trong hôn nhân vàgia đình, nhất là trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa Tăngcường phòng, chống các tệ nạn xã hội, bạo lực gia đình; đấu tranh chống lối sốngsuy đồi, thực dụng, vị kỷ; bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
+ Kiện toàn, bồi dưỡng đào tạo nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làmcông tác gia đình các cấp vững mạnh Tiếp tục kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy,cán bộ làm công tác dân số, gia đình và trẻ em các cấp Chính quyền các cấp cầnquy hoạch đủ cán bộ, đào tạo, hỗ trợ cán bộ có năng lực phụ trách công tác giađình Mỗi cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong việc tổ chức xây dựng gia đình.+ Gia đình có nghĩa vụ và trách nhiệm trong việc thực hiện nghiêm túc cácchủ trương, chính sách, luật pháp, quy định của Đảng và Nhà nước; phát huynghĩa vụ và trách nhiệm đối với cộng đồng, xây dựng tình làng nghĩa xóm, đoànkết gắn bó
cộng đồng
+ Cán bộ, đảng viên đề cao tính tiên phong, gương mẫu trong việc thực hiệnchủ trương, chính sách về công tác dân số và phát triển, nhất là sinh đủ hai con;chú trọng nuôi dạy con tốt, gia đình hạnh phúc, tạo sức lan tỏa sâu rộng trong toàn
xã hội
Ba là, đẩy mạnh phát triển kinh tế, thực hiện tốt an sinh xã hội nhằm nâng cao
đời sống vật chất và tinh thần cho các gia đình.
+ Sự tác động của kinh tế trong thời kỳ hội nhập tới gia đình là rất lớn Trongđiều kiện Việt Nam còn nhiều khó khăn, khi các thành viên trong gia đình còndành nhiều thời gian cho hoạt động kinh tế thì sự chăm lo dành cho các thành viêntrong gia đình và ngay chính bản thân chưa kịp thời, cơ hội tham gia các hoạt động
xã hội không nhiều
+ Việc nâng cao năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai và khủng hoảng kinh tế; cần đa dạng hóa các nguồn lực và phương thứcthực hiện xóa đói, giảm nghèo đa chiều theo hướng phát huy cao độ nội lực và kếthợp sử dụng có hiệu quả sự trợ giúp của quốc tế
+ Tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để người nghèo, hộ nghèo, vùng đặc biệt khó khăn
tự vươn lên thoát nghèo bền vững; kết hợp các chính sách của Nhà nước với sự trợgiúp có hiệu quả của toàn xã hội
+ Tăng cường trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể trong
Trang 11thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và Chương trìnhmục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, tạo điều kiện hỗ trợ các gia đình, đặcbiệt là các gia đình đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi pháttriển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân.
Bốn là, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và phổ biến hệ thống giá trị của văn hoá gia đình Việt Nam
+ Nghiên cứu khoa học về các giá trị truyền thống của gia đình là hoạt độngrất quan trọng đối với việc củng cố, điều chỉnh và xây dựng chuẩn mực văn hóa giađình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
+ Nghiên cứu đầy đủ về truyền thống văn hóa gia đình Việt Nam là cơ sở choviệc xây dựng chuẩn mực văn hóa định hướng cho gia đình Việt Nam trong cácgiai đoạn, làm cơ sở cho quá trình nghiên cứu các nội dung, biện pháp giáo dục giađình phù hợp với các đối tượng, các nhóm dân cư và vùng địa lý Nghiên cứu sựphối hợp giữa quản lý nhà nước, các tổ chức xã hội với vai trò tự quản của gia đìnhtrong việc củng cố các quan hệ gia đình, thực hiện vai trò và chức năng của giađình
+ Nghiên cứu phương pháp làm cân bằng giữa công việc và gia đình trong xãhội hiện đại, giúp các thành viên gia đình vừa có điều kiện cống hiến cho xã hội,vừa có điều kiện chăm sóc gia đình
Năm là, phát triển hệ thống dịch vụ hỗ trợ gia đình.
+ Hệ thống dịch vụ hỗ trợ gia đình là nhóm hoạt động vừa mang tính kinh tế,vừa mang ý nghĩa xã hội rộng khắp; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có thờigian, kiến thức để phát triển gia đình và các thành viên gia đình có nhiều thời gianquan tâm đến nhau hơn
+ Bảo đảm cho các hộ gia đình tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản ở mức tối thiểu
về giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin Ưu tiên cho gia đình đồng bào dântộc
thiểu số, gia đình ở huyện nghèo, xã nghèo vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa
+ Kiện toàn mạng lưới cung cấp dịch vụ gia đình; chú trọng xây dựng cácdịch vụ gia đình phù hợp với thực tế từng vùng, địa phương và nhu cầu thực tế củacác nhóm đối tượng; kết họp với việc rà soát thực trạng và tăng cường kiểm tranhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các dịch vụ đó
+ “Phát triển và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụdân số toàn diện về quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số Phát triểnmạng
lưới cung cấp các dịch vụ tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh, sơ sinh, hỗtrợ
sinh sản, tư vấn kiểm tra sức khỏe sinh sản trước hôn nhân Tăng cường kết nối,họp tác với các cơ sở cung cấp dịch vụ ngoài công lập Đổi mới phương thức cungcấp, đưa dịch vụ tới tận người sử dụng; thúc đẩy cung cấp dịch vụ qua mạng”
2.4 Thực trạng và giải pháp xây dựng gia đình tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
2.4.1 Thực trạng xây dựng gia đình trên địa bàn tỉnh
Trong những năm gần đây, công tác gia đình, phòng chống bạo lực gia đìnhtrên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có nhiều chuyển biến tích cực
Trong công tác gia đình, phòng chống bạo lực gia đình ở các địa phương nổibật là công tác tuyên truyền sâu rộng đến nhân dân nhất là đối với các đoàn viênthanh niên, tổ chức tọa đàm, hội thi, diễn đàn, công tác phối hợp liên ngành, duy trìđịa chỉ tin cậy… số vụ bạo lực gia đình không phát sinh Tại Phường 11, thànhphố Vũng
Trang 12Tàu ngoài các hoạt động Phong trào toàn dân xây dựng đời sống văn hóa mới đượctriển khai tốt, các mô hình về gia đình được duy trì và củng cố như Câu lạc bộ giađình phát triển bền vững, Nhóm phòng, chống bạo lực gia đình tại 4 khu phố, 6 địachỉ tin cậy tại cộng đồng Nhận thức về vai trò, vị trí của gia đình trong tình hìnhhiện nay của mỗi thành viên trong gia đình ngày càng được nâng cao Việc giáo dụctruyền thống gia đình, bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, chăm sóc phụng dưỡngông bà, cha mẹ được tăng cường; việc thực hiện nếp sống mới, giữ gìn vệ sinh môitrường, phát huy tình làng nghĩa xóm được đông đảo người dân chú trọng và đồngtình hưởng ứng Tỷ lệ gia đình văn hóa đều duy trì trên 90% và nâng cao chấtlượng, năm 2019 đạt 92,09%, năm 2020 là 92,40% Số vụ bạo lực gia đình trên địabàn tỉnh qua hơn
15 năm nhìn chung có xu hướng giảm Theo báo cáo kết quả thống kê số liệu hàngnăm về bạo lực gia đình của các địa phương, năm 2005 là 271 vụ và năm 2019 là 37
vụ [8, tr 4] Nhiều vụ bạo lực gia đình đã được chính quyền các cấp quan tâm vàquản lý chặt chẽ, hòa giải, can thiệp làm hạn chế những vụ bạo lực nghiêm trọngxảy
ra, góp phần ổn định an ninh trật tự trên địa bàn
Nhiều nội dung về mục tiêu, chỉ tiêu trong Chiến lược phát triển gia đình ViệtNam trong quá trình thực hiện đã thực sự có tác động và làm thay đổi cuộc sống tinhthần, vật chất của đa số gia đình Nhiều gia đình có điều kiện tốt hơn để phát triểnkinh tế, cải thiện đời sống, xây dựng gia đình khá giả, hạnh phúc Nhiều hộ đã thoátđược nghèo, mức sống được nâng lên
Công tác triển khai Chương trình hành động quốc gia về phòng, chống bạolực gia đình đến năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ được cấp tỉnh, huyện, xã tốchức thực hiện đồng bộ; đến nay 100% cấp huyện, cấp xã đã thành lập an chỉ đạocông tác gia đình, kế hoạch triển khai thực hiện chương trình được các cơ quan cấptỉnh, địa phương xây dựng và triển khai hàng năm; nhiều chỉ tiêu về công tác phòngchống bạo lực gia đình đã được các địa phương chỉ đạo thực hiện lồng ghép vớiphong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá" tại cơ sở; công tác tuyêntruyền, giáo dục, phổ biến pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình được phổ biếnbằng nhiều hình thức đa dạng, phong phú; các mô hình can thiệp phòng chống bạolực gia đình duy trì, nhân rộng đã có tác dụng tích cực làm cho người dân nâng caonhận thức về pháp luật, đặc biệt là nắm rõ được các hành vi vi phạm về bạo lực giađình, nâng cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân trong việc phòng chống bạo lực giađình, xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc Tình trạng xảy ra bạo lực gia đình đãđược chính quyền các cấp quan tâm, quản lý chặt chẽ, giúp hạn chế những vụ bạolực nghiêm trọng, góp phần ổn định an ninh trật tự trên địa bàn
Công tác phối hợp giải quyết, tư vấn các trường hợp mâu thuẫn trong giađình và các vấn đề có liên quan đến đời sống gia đình được chú trọng Nhiều môhình hoạt
động về xây dựng gia đình no ấm bình đẳng tiến bộ, hạnh phúc được duy trì và pháthuy có hiệu quả như mô hình “CLB gia đình hạnh phúc” của Hội phụ nữ; mô hình
“CLB Nông dân trợ giúp pháp lý và thực hiện 4 giảm” của Hội Nông dân; cuộc vậnđộng “Ông bà mẫu mực, con cháu thảo hiền”của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc ViệtNam tỉnh, kết hợp với Hội người cao tuổi phát động; phong trào xây dựng “ giađình văn hóa” trong phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”thực hiện có hiệu quả