Câu 1. Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ, sản xuất ra nhiều loại máy móc không những có khả năng thay thế lao động cơ bắp, mà còn có thể thay thế một phần lao động trí óc của con người. Chẳng hạn máy tính điện tử, “người máy thông minh”, “trí tuệ nhân tạo…” (Nguồn: Giáo trình Triết học MácLênin, Nxb. Chính trị quốc gia, 2021, tr.169). Anh (chị) hãy: a.Phân tích lý luận triết học Mác Lênin về bản chất của ý thức để làm rõ nội dung trên? b. Với sự phát triển của khoa học hiện đại ngày nay, theo anh (chị) “trí tuệ nhân tạo” có thể thay thế con người được không? Vì sao? Câu 2. Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” (Nguồn: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, tr. 110) Anh (chị) hãy:
Trang 1Câu 1 Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ, sản xuất ra nhiều loại máy móc không những có khả năng thay thế lao động cơ bắp, mà còn có thể thay thế một phần lao động trí óc của con người Chẳng hạn máy tính điện tử, “người máy thông minh”, “trí tuệ nhân tạo…” (Nguồn: Giáo trình Triết học Mác-Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, 2021, tr.169).
Anh (chị) hãy:
a.Phân tích lý luận triết học Mác - Lênin về bản chất của ý thức để làm rõ nội dung trên?
b Với sự phát triển của khoa học hiện đại ngày nay, theo anh (chị) “trí tuệ nhân tạo” có thể thay thế con người được không? Vì sao?
Câu 2 Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” (Nguồn: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, tr 110)
Anh (chị) hãy:
a Phân tích cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin về quan điểm toàn diện
và quan điểm lịch sử cụ thể để làm rõ quan điểm trên?
b Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, sinh viên cần làm gì để phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực… trong nhận thức và học tập của bản thân?
Trả lời.
CÂU 1; a) bản chất của ý thức theo quan điểm triết học Mác – Lê nin
Trong lịch sử triết học, chủ nghĩa duy tâm xem ý thức là một thực thể độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó mà cường điệu tính năng động của nó, coi
ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của ý thức Các nhà triết học duy vật trước C.Mác đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và
Trang 2coi ý thức là sự phản ánh của vật chất Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm siêu hình - máy móc nên họ coi ý thức phản ánh sự vật một cách thụ động, giản đơn, máy móc không thấy được tính năng động, sáng tạo của ý thức
Dựa trên lý luận phản ánh chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định: ý
thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động sáng tạo Là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Như vậy, để hiểu bản chất của ý thức thì:
Thứ nhất, thừa nhận cả vật chất và ý thức đều hiện thực cả nghĩa là đều
tồn tại Nhưng giữa chúng có sự khác nhau mang tính đối lập Vật chất là cái được phản ánh, là hiện thực khách quan, là cái tồn tại độc lập với ý thức con người Còn ý thức là cái phản ánh, sự phản ánh, là hiện thực chủ quan, là hình ảnh tinh thần của hiện thực khách quan Vì vậy, không thể đồng nhất hoặc tách rời vật chất và ý thức Nếu coi ý thức là hiện tượng vật chất thì đã lẫn lộn vật chất và ý thức và làm mất đi sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm
Thứ hai, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tức
không phải là hình ảnh vật lý hay tâm lý động vật về sự vật mà ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo hiện thực khách quan theo nhu cầu của thực tiễn xã hội Theo C.Mác thì: “ý thức chẳng qua chỉ là vật chất được đem chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó, nói cách khác là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan”
Thứ ba, tính năng, động sáng tạo của ý thức (đây là đặc điểm căn bản
phân biệt trình độ phản ánh ý thức và tâm lý động vật)
Sự vật khác thì có sự phản ánh khác, song phụ thuộc vào năng lực chủ quan của chủ thể với những tâm lý, tri thức, kinh nghiệm thể chất (trong điều kiện khác nhau)
Trên cơ sở những cái đã có, ý thức có thể tạo ra tri thức mới về sự vật,
có thể tưởng tượng ra cái không có trong thực tế Đồng thời có thể tiên đoán,
Trang 3dự báo tương lai, từ đó mà có những khả năng đặc biệt như tiên tri, thôi miên, ngoại cảm… Quá trình phản ánh con người chế tạo ra công cụ để nối dài các giác quan hỗ trợ tư duy, giúp tư duy hiểu sâu sắc hơn bản chất của thế giới
Tuy nhiên, tính sáng tạo của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật của sự phản ánh, kết quả bao giờ cũng là khách thể tinh thần Ý thức không thể đẻ ra vật chất như một số nhà triết học trước Mác đã nghĩ
Như vậy, ý thức không phải là hiện tượng tự nhiên thuần tuý mà là một hiện tượng xã hội, bắt nguồn từ thực tiễn lịch sử xã hội, phản ánh quan hệ xã hội khách quan do đó ý thức mang bản chất xã hội C.Mác và Ph.Ăgghen đã khẳng định: “Ngay từ đầu ý thức đã là một sản phẩm xã hội, và vẫn là như vậy chừng nào con người còn tồn tại”
b) “trí tuệ nhân tạo”, khoa học công nghệ không thể thay thế con người
Ngày nay, khoa học và công nghệ hiện đại đã có những bước phát triển mạnh mẽ, sản xuất ra nhiều loại máy móc không những có khả năng thay thế lao động cơ bắp, mà còn có thể thay thế một phần lao động trí óc của con
người Chẳng hạn máy tính điện tử, “người máy thông minh”, “trí tuệ nhân tạo…” Tuy nhiên, Theo lý luận triết học Mác – Leenin về bản chất của ý
thức ta có thể thấy rằng thành thành tựu của khoa học công nghệ cũng từ ý thức con người mà sinh ra Nhân loại qua các cuộc Công nghiệp 1.0 đến 4.0 ngày càng tạo ra những thành tựu khoa học công nghệ nổi bật Tuy nhiên, tất
cả những thành tựu đó đều do con người tạo nên Ý muốn chủ quan của con người đã tạo nên lượng của cải vất chất và các thành tựu cho toàn xã hội Mặt khác, những thành tựu khoa học công nghệ dù có tân tiến hiện đại đến đâu, suy cho cùng nó đều nhằm mục đích phục vụ cho con người, chính vì vậy nó phụ thuộc vào ý thức của con người đối với sản phẩm mình tạo ra Nếu như những thành quả khoa học công nghệ đó phục vụ và đem lợi ích của con người một cách chính đáng, nó sẽ có tác động thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nếu như phục vụ mục đích xấu xa của con người (như vũ khí hủy diệt lớn, bom nguyên tử) nó sẽ kìm hãm và gây thảm họa đối với loài người Do
Trang 4đó từ lí luận về bản chất ý thức triết học Mác – Lê nin, ta nhìn nhận rằng những bước phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ ngày nay xuất phát hoàn toàn từ ý thức của con người
Với sự phát triển của khoa học hiện đại ngày nay, theo em, “trí tuệ nhân tạo” không thể thay thế được con người Bởi trí tuệ nhân tạo là loại trí tuệ không có tư duy trừu tượng Chính vì không có tư duy trừu tường nên nó không có mục đích của riêng chúng và nó chỉ có một mục đích duy nhất do người tạo ra nó ban cho nó mà thôi Chừng nào con người còn hơn máy móc
ở khả năng nhận thức thì chừng ấy, trí tuệ nhân tạo AI vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn con người trong mọi lĩnh vực, mà trái lại nó phục vụ mục đích và theo sự điều chỉnh của tư duy con người
Câu 2 Báo cáo chính trị tại Đại hội XIII của Đảng xác định: “Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” (Nguồn: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.1, tr 110)
Anh (chị) hãy:
a Phân tích cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin về quan điểm toàn diện
và quan điểm lịch sử cụ thể để làm rõ quan điểm trên?
b Trong giai đoạn hội nhập quốc tế hiện nay, sinh viên cần làm gì để phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực… trong nhận thức và học tập của bản thân?
Trả lời:
a) Lý luận triết học Mác – Lê nin về quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể
* Quan điểm toàn diện:
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác - Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức Với
Trang 5tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật hiện tượng, quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật hiện tượng Một mặt, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nó với với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp) đề cập đến hai nội dung này, V.I Lênin viết "muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó"
Quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ không trọn vẹn Có ý thức được điều này chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hoá những tri thức đã có về sự vật và tránh xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển Để nhận thức được
sự vật , cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, "cần thiết phải xem xét tất
cả mọi mặt để đè phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc."
Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ
nó chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhaunhững thuộc tính, những quy định khác nhau của của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của
sự vật hay hiện tượng đó
Trang 6Như vậy, quan điểm toàn diện cũng không đồng nhất với cách xem xét dàn trải, liệt kê những tính quy định khác nhau của sự vật, hiện tượng Nó đòi hỏi phải làm nổi bật cái cơ bản, cái quan trọng nhất của sự vật hiện tượng đó
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với
tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là đi từ ý niệm ban đầu về cái toàn thể để để nhận thức một mặt, một mối liên hệ nào đó của sự vật rồi đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng, khái quát những tri thức phong phú đó để rút ra tri thức về bản chất của sự vật
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiết trung vừa khác thuật nguỵ biện Chủ nghĩa chiết trung tuy cũng tỏ ra chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình ảnh không đúng về sự vật Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra mặt bản chất, mối liên hệ căn bản nên rơi vào chỗ cào bằng các mặt, kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau, do đó hoàn toàn bất lực khi cần phải có quyết sách đúng đắn Thuật nguỵ biện cũng chỉ chú ý đến những mặt , những mối liên hệ khác nhau của sự vật nhưng lại đưa cái không
cơ bản thành cái cơ bản, cái không bản chất thành cái bản chất Cả chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện đều là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét các sự vật, hiện tượng
* Quan điểm lịch sử cụ thể
Quan điểm lịch sử - cụ thể là một trong những quan điểm, nguyên tắc quan trọng nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin nói chung và chủ nghĩa duy vật biện chứng nói riêng nhằm chỉ đạo con người trong quá trình hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới vật chất Quan điểm lịch sử - cụ thể được rút ra từ cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin được hình thành trong quá trình con người đi khám phá nhằm mục đích giải thích và cải tạo thế giới vật chất Quan điểm đó được rút ra từ những cơ sở lý luận triết học sau đây:
Trang 7Thứ nhất, Triết học Mác - Lênin đã khẳng định: thế giới vật chất luôn tồn tại khách quan, vốn có, không do ai sinh ra và không tự mất đi, mà chỉ có thể chuyển hoá từ sự vật, hiện tượng này sang sự vật, hiện tượng khác Mọi
sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn luôn vận động, chuyển hoá và phát triển không ngừng, chúng luôn tồn tại trong một không gian và một thời gian cụ thể, xác định điều đó có nghĩa là các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất không phải là bất di bất dịch,và có sẵn, mà chúng có một quá trình ra đời, phát triển và tự tiêu vong để chuyển hoá sang sự vật, hiện tượng khác Không có sự vật, hiện tượng nào lại tồn tại một cách hư vô, chung chung và trừu tượng Như vậy, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất dù là các
sự vật, hiện tượng vô cơ, đến các sự vật, hiện tượng hữu cơ, từ thế giới vi mô cho đến thế giới vĩ mô, từ thế giới thực vật, động vật cho đến con người và xã hội đều tồn tại trong không gian và thời giai cụ thể, xác định, đều có một lịch
sử tồn tại, vận động, biến đổi và phát triển không ngừng Do vậy, khi xem xét các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn quán triệt quan điểm lịch
sử - cụ thể
Thứ hai, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn tồn tại trong các mối quan hệ, tác động ràng buộc lẫn nhau, sự liên hệ, tác động, ràng buộc lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng là cơ sở để các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại, vận động và phát triển không ngừng Các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất biểu hiện dưới nhiều hình thức rất phong phú, đa dạng Trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, trong những không gian và thời gian khác nhau thì vị trí, vai trò của các mối liên hệ trong các sự vật, hiện tượng cũng khác nhau, có những mối liên hệ ở trong giai đoạn này là những mối liên hệ chủ yếu, có vai trò quyết định sự vận động phát triển của sự vật, hiện tượng nhưng khi chuyển sang giai đoạn khác lại là thứ yếu, không có vai trò quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng Do vậy, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải luôn quán triệt quan điểm lịch sử - cụ thể, phải nhận thức sự vật, hiện
Trang 8tượng trong sự tồn tại khách quan vốn có của nó, phải xem xét sự vật, hiện tượng trong các mối liên hệ và phải đánh giá đầy đủ, đúng đắn vị trí, vai trò của từng mối liên hệ trong mối sự vật, hiện tượng của thế giới vật chất
Thứ ba, các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất luôn luôn có một quá trình vận động, biến đổi không ngừng, sự vận động, biến đổi và phát triển
đó xuất hiện những nguyên nhân khác nhau, nảy sinh những mâu thuẫn khác nhau, có sự tích luỹ về lượng và sự biến đổi, sự nhảy vọt về chất cũng khác nhau, do đó, trong các hoàn cảnh lịch sử khác nhau, sự phủ định của phủ định trong mỗi sự vật, hiện tượng cũng diễn ra không giống nhau Trong những điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể sẽ xuất hiện những nguyên nhân xác định, cụ thể, nảy sinh những mâu thuẫn cụ thể Do vậy, muốn nhận thức đúng bản chất của sự vật, hiện tượng, tìm ra phương hướng và giải pháp đúng cho hoạt động thực tiễn phải nhận thức đúng nguyên nhân và các mâu thuẫn cụ thể của sự vật, phải đặt sự vật, hiện tượng trong một hoàn cảnh lịch sử xác định để tìm ra những mặt những mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa chúng trong không gian thời gian cụ thể Thấy rõ quá trình phát triển của từng mâu thuẫn, xem xét vai trò và mối quan hệ của từng mâu thuẫn, điều kiện chuyển hoá giữa chúng, tạo ra những điều kiện thúc đẩy mâu thuẫn chín muồi tìm phương thức phù hợp để giải quyết, không điều hoà mâu thuẫn Phải tìm các hình thức giải quyết mâu thuẫn linh hoạt phù hợp với từng loại mâu thuẫn và điều kiện cụ thể
Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải tìm hiểu nguyên nhân, điều kiện cụ thể đã sinh ra sự vật; muốn xoá bỏ một hiện tượng tiêu cực, không có lợi cần xoá bỏ nguyên nhân cụ thể sinh ra nó Nhận thức các sự vật hiện tượng cần phân tích các nguyên nhân, phân loại nguyên nhân chỉ ra mối quan hệ giữa các nguyên nhân, chiều hướng tác động của các nguyên nhân để
có biện pháp thích hợp thúc đẩy các nguyên nhân dẫn đến kết quả có lợi, hạn chế, hoặc triệt tiêu các nguyên nhân bất lợi
Trang 9Bên cạnh đó, trong quá trình nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo sự vật phải xem xét nội dung cụ thể và hình thức cụ thể, để cải tạo sự vật phải đi từ nội dung, tác động vào cả nội dung và hình thức của sự vật, hiện tượng Cần tạo ra hình thức cụ thể phù hợp với nội dung đang biến đổi để thúc đẩy sự vật theo nhu cầu nhiệm vụ thực tiễn Muốn hiểu biết đúng đắn về sự vật, nhận thức không dừng ở hiện tượng mà phải đi từ hiện tượng để tìm ra bản chất Phải xác định các hiện tượng điển hình trong hoàn cảnh cụ thể để có kết luận chính xác bản chất sự vật ở thời điểm xác đinh về không gian và thời gian cụ thể Chống chủ nghĩa hình thức coi nhẹ, không thấy hết vai trò quan trọng của nội dung Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn, cần dựa vào hiện thực, không dựa vào khả năng, cần tính đến các khả năng để có thể đề ra chủ trương, kế hoạch hành động cụ thể sát đúng Sau khi xác định được các khả năng phát triển của sự vật, cần kiên quyết thực hiện khả năng đã lựa chọn, tạo ra các điều kiện cụ thể để hiện thực hoá nó Khi quán triệt phương pháp xem xét lịch sử cụ thể của chủ nghĩa Mác, V.I.Lênin đã khẳng định: “Bản chất linh hồn sống của chủ nghĩa Mác là phân tích cụ thể một tình hình cụ thể”
Thứ tư, quan điểm lịch sử - cụ thể cũng đòi hỏi phải tránh khuynh hướng xem xét sự vật, hiện tượng một cách giáo điều, chung chung và trừu tượng, xem xét một cách đại khái, qua loa, không cụ thể, không đặt sự vật, hiện tượng trong một không gian và thời giai cụ thể, không thấy được quá trình vận động biến đổi và phát triển của mỗi sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất Trong nhận thức và hoạt động thực tiễn phải vừa thấy tính lịch sử
cụ thể vừa thấy cả quá trình phát triển của sự vật Mọi biểu hiện xem xét các
sự vật, hiện tượng mà không quán triệt đúng đắn quan điểm lịch sử cụ thể là trái với phương pháp xem xét của chủ nghĩa Mác - Lênin
Như vậy, có thể nhận định của Đảng ta tại Đại hội XIII về nội dung:
“Kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; nêu cao ý chí độc lập, tự
Trang 10chủ, chủ động, tích cực hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực, trong đó nguồn lực nội sinh, nhất là nguồn lực con người là quan trọng nhất” là hoàn toàn phù hợp với quy luật
khách quan của lịch sử, đây là những nhận định hoàn toàn trên cở quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể Bởi lẽ, tại Đại hội XIII, sau 35 năm đổi mới, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày hôm nay, đó không phải là chúng ta tự nói, tự khen mà là sự kết tinh của hàng ngàn năm truyền thống dân tộc, là sự đấu tranh bền bỉ của các thế hệ cha anh, là thành quả của suốt quá trình đổi mới chứ không phải trong 1 nhiệm kỳ hay một vài năm Trên quan điểm lịch sử, cụ thể Đảng ta xác định quan điểm tùy từng thời kỳ phù hợp với đường lối cách mạng, trong đó, ra sức phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại là một nguyên tắc cơ bản, một bài học kinh nghiệm vô giá trong suốt tiến trình phát triển của dân tộc từ khi có Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo
b Trách nhiệm của sinh viên trong phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực… trong nhận thức và học tập của bản thân
Quá trình hội nhập quốc tế đã có những tác động nhất định, làm thay đổi phương thức tư duy, lối sống của sinh viên theo hướng hiện đại và tích cực, chủ động hơn Sinh viên nước ta biết thêm nhiều hơn về phong tục, tập quán, văn hóa và con người của các quốc gia trên thế giới Có điều kiện khám phá thế giới, tiếp thu và làm chủ các tiến bộ khoa học -kỹ thuật hiện đại, tri thức mới
Để phát huy tính độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực… trong nhận thức
và học tập của bản thân, mỗi sinh viên cần phải vận dụng các quan điểm về mọi lĩnh vực trong cuộc sống nhất là đối với chuyên ngành của bản thân một cách toàn diện, tránh phiến diện, tránh áp đặt cái chủ quan lên cái khách quan Các sinh viên cần phải nắm vững cả lí luận, lí thuyết lẫn thực hành để