1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TỔNG HỢP DẪN CHỨNG CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI

11 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 36,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu tổng hợp đầy đủ, chi tiết các tác phẩm văn xuôi ôn thi đại học môn Văn dành cho học sinh lớp 12 dưới dạng bảng một cách ngắn gọn, khoa học. Vừa dễ học vừa dễ nhớ và vô cùng chính xác về các tác phẩm văn học trọng tâm cần phải tập trung vào, ngoài ra còn cung cấp một loạt những thông tin cần thiết về tác giả, tác phẩm giúp bạn đọc không cần phải tốn nhiều thời gian, công sức tìm kiếm tài liệu

Trang 1

TỔNG HỢP DẪN CHỨNG CÁC TÁC PHẨM VĂN XUÔI

1 NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ

Sông Đà

hung bạo

 Chỉ lúc đúng ngọ mới có mặt trời

 Vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một cái yết hầu

 Có quãng con nai con hổ đã có lần vọt từ bờ này sang

bờ kia

 Ngồi trong khoang đò qua quãng ấy đang mùa hè mà cũng thấy lạnh, cảm thấy mình như đứng ở hè một cái ngõ mà ngóng vọng lên một khung cửa sổ nào trên cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt đèn điện

Mặt ghềnh Hát

Lóong

 Dài hàng cây số, nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ suýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy

cầu

 Trên mặt cái hút xoáy tít đáy, cũng đang quay lừ lừ những cánh quạ đàn

 Thở và kêu như cửa cống cái bị sặc Nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào

 Thuyền đi ngang qua bị hút nước lôi tuột xuống, bị dìm

và đi ngầm dưới lòng sông mươi phút sau mới thấy tan xác ở khuỷnh sông dưới

 Ô tô sang sổ ấn ga cho nhanh để vút qua một quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực

 Anh quay phim táo tợn ngồi trong chiếc thuyền thúng cho cả thuyền cả máy quay xuống đáy cái hút nước rồi thu lại hình ảnh cột nước cao vài sải

 Nghe như là oán trách gì rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo

 Nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng

Trùng vi thạch

trận 1

 Mở ra năm cửa trận: 4 cửa tử, 1 cửa sinh, cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn sông

 Sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền Có lúc chúng đội cả thuyền lên

Trang 2

 Mặt nước hò la vang dậy, ùa vào mà bẻ gãy cán chèo.

 Nước bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đò đòi lật ngửa mình ra giữa trận nước vang trời thanh la não bạt

 Đánh đến miếng đòn hiểm độc nhất

Trùng vi thạch

trận 2

 Tăng thêm nhiều cửa tử và cửa sinh bố trí lệch qua phía

bờ hữu ngạn

 Bốn năm bọn thủy quân cửa ải nước bên bờ trái liền xô

ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử

 Không ngớt khiêu khích mặc dầu cái thằng đá tướng đã tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng

Trùng vi thạch

trận 3

 Bên phải bên trái đều là luồng chết cả Cái luồng sống ở ngay giữa bọn đá hậu vệ của con thác

 Cổng đá cánh mở cánh khép

Sông Đà

trữ tình

Dòng sông yêu

kiều, diễm lệ,

duyên dáng, huyền ảo

 Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân

 Mùa xuân dòng xanh ngọc bích Mùa thu nước Sông Đà

lừ lừ chín đỏ như da mặt một người bầm đi vì rượu bữa

Vẻ đẹp tâm hồn

thơ mộng

 “Dải sông Đà bọt nước lênh đênh/ Bao nhiêu cảnh bấy nhiêu tình.” (Tản Đà)

 Chao ôi! Trông con sông vui như thấy nắng giòn tan sau

kỳ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quãng

 Đi rừng dài ngày rồi lại bắt ra Sông Đà, đúng thế, nó đằm đằm âm ấm như gặp lại cố nhân

Vẻ đẹp đượm

màu cổ tích

 Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa

 Chao ôi, thấy thèm được giật mình vì một tiếng còi

xúplê của một chuyến xe lửa đầu tiên đường sắt Phú Thọ -Yên Bái – Lai Châu

Cảnh vật ven

sông

 Cảnh ven sông ở đây lặng tờ

 Một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa

 Cỏ gianh đồi núi đang ra những nõn búp

 Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm

 Đàn cá dầm xanh quẫy vọt lên mặt song bạc trắng như bạc rơi thoi

 Và con sông như đang lắng nghe những giọng nói êm

êm của người xuôi, và con sông đang trôi những con đò mình nở chạy buồm vải

Trang 3

Người

lái đò

Lai lịch, ngoại

hình

 Gần 70 tuổi, quê ở Lai Châu

 Thân hình cao to, gọn quánh như chất sừng chất mun

 Tay lêu nghêu như một cây sào

 Chân khuỳnh khuỳnh như lúc nào cũng kẹp lấy một cuống lái tưởng tượng

 Giọng nói ào ào như tiếng nước mặt ghềnh

 Nhãn giới vòi vọi như lúc nào cũng mong một cái bến

xa xăm nào đó trong sương mù

 Ông xuôi, ông ngược đã hơn 100 lần rồi

 Nhớ tỉ mỉ như đóng đanh vào lòng tất cả những luồng nước của tất cả những con thác hiểm trở

 Nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá

 Sông Đà, đối với ông lái đò ấy, như một trường thiên anh hùng ca mà ông đã thuộc đến cả những cái dấu chấm than, chấm câu và những đoạn xuống dòng

 Ông đò đã thôi làm nghề nhưng trên ngực vẫn bầm tụ một củ khoai nâu… đấy là hình ảnh quý giá của một thứ huân chương siêu hạng

Trong cuộc vượt

thác

 Chặng 1: Ông đò cố nén vết thương, hai chân vẫn kẹp chặt lấy cuống lái, mặt méo bệch đi tiếng chỉ huy ngắn gọn, tỉnh táo

 Chặng 2: Cưỡi lên thác SĐ, phải cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ Ghì cương lái, lái miết Tránh mà rảo bơi chèo,

đè sấn lên để chặt đôi ra để mở đường tiến

 Chặng 3: Vút, vút, cửa ngoài, cửa trong, lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được

2 VỢ NHẶT

Bối cảnh truyện

 Những gia đình lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ

 Người chết như ngả rạ Ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường

 Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người

 Bóng những người đói dật dờ đi lại lặng lẽ như những bóng

ma Tiếng quạ cứ gào lên từng hồi thê thiết

Trang 4

Nhân

vật

Tràng Lai lịch,

ngoại hình,

phẩm chất

 Đầu trọc, hai con mắt nhỏ tí gà gà đắm vào bóng chiều, hai bên quai hàm bạnh ra, bộ mặt thô kệch, thân hình to lớn, vập vạp, cái lưng to rộng như lưng gấu

 Hắn vừa đi vừa nói Hắn lảm nhảm những điều hắn nghĩ

 Được trẻ con trong làng yêu quý: Ðứa túm đằng trước, đứa túm đằng sau, đứa cù, đứa kéo, đứa lôi chân không cho đi Tràng chỉ ngửa mặt lên cười hềnh hệch

Chuyện

Tràng nhặt

vợ

 Lần 1: Muốn ăn cơm trắng mấy giò này! /Lại đây mà đẩy xe

bò với anh, nì!

 Lần 2: Này nói đùa chứ có về với tớ thì ra khuân hàng lên xe rồi cùng về

Trên

đường về

nhà

 Lúc đầu: cũng chợn, nghĩ: thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng => tặc lưỡi một cái: Chậc, kệ!

 Trên đường về: phởn phở khác thường Hắn tủm tỉm cười nụ một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh, cái mặt cứ vênh lên

tự đắc với mình

 Hắn định nói với thị một vài câu rõ tình tứ mà chẳng biết nói thế nào Hắn cứ lúng ta lúng túng, tay nọ xoa xoa vào tay kia

 Trong một lúc, Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng

Khi về đến

nhà

 Về đến nhà: cái nhà vắng teo đứng rúm ró trên mảnh vườn mọc lổn nhổn những búi cỏ dại

 Đứng tây ngây ra giữa nhà một lúc, chợt hắn thấy sờ sợ Chính hắn cũng không hiểu sao hắn sợ

 Hắn nhổ vu vơ một bãi nước bọt, tủm tỉm cười một mình Đến bây giờ hắn vẫn còn ngờ ngợ như không phải thế Ra hắn

đã có vợ rồi đấy ư?

Buổi sáng

hôm sau

 Buổi sáng đầu tiên có vợ: Trong người êm ái lửng lơ như người vừa ở trong giấc mơ đi ra

 Hắn chớp chớp liên hồi mấy cái, và bỗng vừa chợt nhận ra, xung quanh mình có cái gì vừa thay đổi mới mẻ, khác lạ

 Bỗng nhiên hắn thấy hắn thương yêu gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng Hắn đã có một gia đình Hắn sẽ cùng vợ sinh con

đẻ cái ở đấy Cái nhà như cái tổ ấm che mưa che nắng Một nguồn vui sướng, phấn chấn đột ngột tràn ngập trong lòng Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ con sau này Hắn xăm xăm chạy ra

Trang 5

giữa sân, hắn cũng muốn làm một việc gì để dự phần tu sửa lại căn nhà

 Bữa cơm ngày đói: Tràng thần mặt ra nghĩ ngợi Cái mặt to lớn bặm lại, khó đăm đăm Miếng cám ngậm trong miệng hắn

đã bã ra chát xít

 Trong ý nghĩ của hắn vụt hiện ra cảnh những người nghèo đói

ầm ầm kéo nhau đi trên đê Sộp Đằng trước có lá cờ đỏ to lắm

 Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới

Nhân

vật

người

vợ nhặt

Lai lịch,

ngoại hình Thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt

Hành động

theo không

 Lần 1 gặp Tràng: cong cớn => vùng đứng dậy, ton ton chạy lại đẩy xe cho Tràng, liếc mắt, cười tít

 Lần 2 gặp Tràng: sầm sập chạy đến sưng sỉa =>Hai con mắt trũng hoáy của thị tức thì sáng lên, thị đon đả: “Ăn thật nhá! ừ

ăn thì ăn sợ gì.” Thế là thị ngồi sà xuống ăn thật Thị cắm đầu

ăn một chặp bốn bát bánh đúc liền chẳng chuyện trò gì, ăn xong thị cầm dọc đôi đũa quệt ngang miệng, thở: “Hà, ngon!

Trên

đường về

nhà

 Trên đường về: cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống, cái nón rách tàng nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e thẹn

 Bị đùa: có vẻ khó chịu lắm Thị nhíu đôi lông mày lại, đưa tay lên xóc xóc lại tà áo

 Biết người ta đang nhìn dồn cả về phía mình, thị càng ngượng nghịu, chân nọ bước díu cả vào chân kia

 Chia sẻ với Tràng: Hoang nó vừa vừa chứ

Về đến nhà

 Về đến nhà: đảo mắt nhìn xung quanh, cái ngực gầy lép nhô hẳn lên, nén một tiếng thở dài

 Ngồi mớm xuống mép giường, ngượng nghịu, hai tay ôm khư khư cái thúng, mặt bần thần

 Gặp mẹ: cất tiếng chào: “U đã về ạ!”

 Nói chuyện với mẹ: người đàn bà khẽ nhúc nhích, thị vẫn khép nép đứng nguyên chỗ cũ

Sáng hôm

sau

 Sáng hôm sau: quét lại cái sân, tiếng chổi từng nhát kêu sàn sạt trên mặt đất

 Tràng nom thị hôm nay khác lắm, rõ ràng là người đàn bà hiền hậu đúng mực không còn vẻ gì chao chát chỏng lỏn như mấy lần Tràng gặp ở ngoài tỉnh

 Trong bữa cơm: đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại Thị điềm nhiên và vào miệng

Nhân Chân dung  Tiếng ho húng hắng, miệng lẩm bẩm, đôi mắt nhấp nháy

Trang 6

vật bà

cụ Tứ

 Dáng người lọng khọng

Hôm trước

Khi mới về nhà:

 phấp phỏng bước theo con vào trong nhà

 Bà lão phấp phỏng bước theo con vào trong nhà Đứng sững lại giữa sân, hấp háy cặp mắt cho đỡ nhoèn vì tự dưng bà lão thấy mắt mình nhoèn ra thì phải

Khi hiểu ra cơ sự:

 Bà lão cúi đầu nín lặng Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này Còn mình thì

 Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rủ xuống hai dòng nước mắt Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không?

Chấp nhận nàng dâu mới:

 Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình

 khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với "nàng dâu mới":

“Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng ”

Suy nghĩ của bà cụ:

 Thở nhẹ ra một hơi dài, nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đứa con gái út, nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố

mẹ trước kia không?

 Bà lão nhìn người đàn bà, lòng đầy thương xót Chúng mày lấy nhau lúc này, u thương quá

 Bà cụ nghẹn lời không nói được nữa, nước mắt cứ chảy xuống ròng ròng

Sáng hôm

sau

 người mẹ đang lúi húi giẫy những búi cỏ mọc nham nhở

 Nhẹ nhõm, tươi tỉnh khác ngày thường, cái mặt bủng beo u ám của bà rạng rỡ hẳn lên Bà lão xăm xắn thu dọn, quét tước nhà cửa

 Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu Bà lão nói toàn chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này

 Bà lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên nghi ngút “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.”; “Cám đấy mày ạ, hì Ngon đáo để”

 Nói về trống thúc thuế: Bà lão ngoảnh vội ra ngoài Bà lão không dám để con dâu nhìn thấy bà khóc

Người trong xóm

 Thấy Tràng dắt theo thị: người trong xóm lạ lắm, nhìn ra bàn tán Hình như họ cũng hiểu được đôi phần

Trang 7

 Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên Có cái gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ

 Ôi chao! Giời đất này còn rước cái của nợ đời về Biết có nuôi nổi nhau sống qua được cái thì này không? Họ cùng nín lặng

Khung cảnh buổi sáng

hôm sau

 Nhà cửa, sân vườn hôm nay đều được quét tước, thu dọn sạch

sẽ gọn gàng

 Mấy chiếc quần áo rách như tổ đỉa vẫn vắt khươm mươi niên

ở một góc nhà đã thấy đem ra sân hong

 Hai cái ang nước vẫn để khô cong ở dưới gốc ổi đã kín nước đầy ăm ắp

 Đống rác mùn tung hoành ngay lối đi đã hót sạch

Bữa cơm ngày đói

 Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại

 Giữa cái mẹt rách có độc một lùm rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon lành

 Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn

3 VỢ CHỒNG A PHỦ

Nhân

vật Mị Sự xuất hiện

 Một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa

 Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cõng nước dưới khe suối lên,

cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi

Cuộc đời Mị trước khi về

làm dâu gạt nợ

 Tết năm ấy: Trai đứng nhẵn cả chân vách đầu buồng Mị

 Mị thổi sáo giỏi Mùa xuân đến, Mị uống rượu bên bếp và thổi sáo Mị uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo Có biết bao nhiêu người mê, cứ ngày đêm thổi sáo đi theo Mị hết núi này sang núi khác

Cuộc đời

Mị khi về

làm dâu

nhà thống lí

Phản kháng ban đầu

 Ban đầu: Có đến mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc

 Trốn về nhà: Mị quỳ, úp mặt xuống đất, nức nở

=> bưng mặt khóc, ném nắm lá ngón xuống đất Nắm lá ngón Mị đã đi tìm hái trong rừng Mị vẫn giấu trong áo Thế là Mị không đành lòng chết

Trang 8

Chai mòn trong cảm xúc

 Lần lần, Mị cũng không còn nghĩ đến Mị có thể

ăn lá ngón tự tử Ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi Bây giờ Mị tưởng mình cũng là con trâu, mình cũng là con ngựa Con ngựa chỉ biết

ăn cỏ, biết đi làm mà thôi

Bị bóc lột sức lao động

 Lúc nào cũng nhớ lại những việc giống nhau, mỗi năm một mùa, mỗi tháng lại làm đi làm lại:

 Tết xong lên núi hái thuốc phiện, giữa năm thì giặt đay, đến mùa đi nương bẻ bắp

 Và dù đi hái củi, bung ngô, lúc nào cũng gài một

bó đay trong cánh tay để tước sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm, suốt đời thế

 Con ngựa, con trâu làm có lúc, đêm còn được đứng gãi chân, nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này vùi vào việc cả đêm cả ngày

Căn buồng

Mị nằm

 Mỗi ngày Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa

 căn buồng Mị nằm, kín mít, có một chiếc cửa sổ một lỗ vuông bằng bàn tay Lúc nào trông ra cũng chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng

 Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi Đêm tình

mùa xuân

Ngoại cảnh

 Gió thổi vào cỏ gianh vàng ửng, những chiếc váy hoa đã được phơi ra mỏm đá, xòe như con bướm sặc sỡ Đám trẻ đợi Tết, chơi quay, cười ầm trên sân chơi trước nhà

 Tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi vọng lại, thiết tha bồi hồi."Mày có con trai con gái/Mày đi làm nương/Ta không có con trai con gái/Ta đi tìm người yêu"

 Bữa cơm tết cúng ma Xung quanh chiêng đánh

ầm ỹ, người ốp đồng vẫn nhảy lên xuống, run bần bật Vừa hết bữa cơm tiếp ngay cuộc rượu bên bếp lửa

Diễn biến tâm trạng và hành động của Mị

Nghe tiếng sáo:

 Nghe tiếng sáo: Nhẩm thầm theo lời bài hát

 Ngày tết, Mị cũng uống rượu Mị lén lấy hũ rượu, uống ực từng bát Rồi say => lòng Mị đang sống về ngày trước, tai văng vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng

 Mị thấy phơi phới trở lại, Mị trẻ Mị vẫn còn trẻ

Trang 9

Mị muốn đi chơi => Nếu có nắm lá ngón trong tay lúc này, Mị sẽ ăn cho chết ngay, chứ không buồn nhớ lại nữa Nhớ lại, chỉ thấy nước mắt ứa ra

Hành động thắp sáng căn phòng:

 Bây giờ Mị cũng không nói Mị đến góc nhà, lấy ống mỡ, sắn một miếng, bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng

 Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo Mị muốn

đi chơi Mị cũng sắp đi chơi Mị quấn lại tóc Mị với tay lấy cái váy hoa vắt phía trong vách Đêm Mị bị trói đứng:

 Trong bóng tối, Mị đứng im, như không biết mình đang bị trói Hơi rượu còn nồng nàn Mị vẫn nghe thấy tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc chơi

 Mị vùng bước đi Nhưng chân đau không cựa được

 Mị không nghe tiếng sáo nữa Chỉ còn nghe tiếng chân ngựa đạp vào vách Mị thổn thức nghĩ mình không bằng con ngựa

Những đau đớn của Mị:

 Cả đêm Mị phải trói đứng như thế Lúc thì khắp người bị dây trói thít lại, đau nhức Lúc lại tràn trề tha thiết nhớ

 Mị lúc mê, lúc tỉnh Cho tới khi trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ Mị bàng hoàng tỉnh Đêm mùa

đông cởi

trói cho A

Phủ

Lúc đầu

 Lúc đầu: Mị vẫn thản nhiên thổi lửa, hơ tay

 Đêm nay, khi thấy dòng nước mắt của A Phủ:

Mị chợt nhớ đêm năm trước, Mị cũng phải trói đứng thế kia

 Chúng nó thật độc ác

 Chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Ta là thân đàn bà, nó đã bắt về trình ma rồi, chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi Người kia việc gì mà phải chết A Phủ Mị phảng phất nghĩ như vậy Hành động

cắt dây trói

 Mị tưởng tượng như có thể một lúc nào, biết đâu

A Phủ chẳng trốn được, Mị liền phải trói thay vào đấy Mị chết trên cái cọc ấy Nghĩ thế, nhưng làm sao Mị cũng không thấy sợ

 Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây cho

A Phủ

 Mị đứng lặng trong bóng tối => vụt chạy theo A

Trang 10

Phủ: “A Phủ cho tôi đi” “Ở đây chết mất” Nhân

vật A

Phủ

Sự xuất hiện

 Một người to lớn chạy vụt ra, vung tay ném con quay thẳng vào mặt A Sử A Phủ xộc tới, nắm vòng cổ, kéo dập đầu xuống, xé vai áo, đánh tới tấp

 A Phủ khỏe, chạy nhanh như ngựa Con gái trong làng nhiều cô mê Nhiều người nói: "Đứa nào được A Phủ cũng bằng được con trâu tốt trong nhà Chẳng mấy lúc mà giàu"

Số phận bất hạnh

 A Phủ không phải người bên ấy, cả làng chết trong một trận đậu mùa Có người làng đói bắt A Phủ đem xuống bán đổi lấy thóc của người Thái dưới cánh đồng

 A Phủ không có bố mẹ, không có ruộng, không

có bạc, A Phủ không thể lấy nổi vợ

 Trong ngày Tết đến, A Phủ chẳng có quần áo mới như nhiều trai khác, A Phủ chỉ có độc một chiếc vòng bằng sợi dây đồng vía lằn trên cổ

Tính cách đặc biệt

 A Phủ mới mười một tuổi, nhưng A Phủ gan bướng, không chịu ở cánh đồng thấp, A Phủ trốn lên núi, lưu lạc đến Hồng Ngài

 Biết đúc lưỡi cày, biết đục cuốc, lại cày giỏi và

đi săn bò tót rất bạo

 Khi ở trừ nợ: Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò chăn ngựa, quanh năm một thân một mình rong ruổi ngoài gò rừng Đi làm hay đi săn cái gì cũng phăng phăng

Trong bữa phạt vạ nhà

thống lí

 A Phủ quỳ chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá Mặt A Phủ sưng lên, môi và đuôi mắt dập chảy máu

 Hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù

 A Phủ đứng lên cầm con dao, chân đau bước tập tễnh, cùng với trai làng ra chọc tiết làm thịt lợn hầu làng Thế là từ đấy A Phủ phải ở trừ nợ cho nhà quan thống lý

Sức sống tiềm tàng

 Ban đầu chấp nhận số kiếp đau thương: A Phủ lẳng lặng ra vác chiếc cọc gỗ rồi lấy cuộn dây mây trên gác bếp xuống Tự tay A Phủ đóng cọc xuống bên cột

 Một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm

má đã xám đen lại của A Phủ

Ngày đăng: 11/01/2022, 18:22

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w