Dạy học văn chương nói chung vừa dạy môn khoa học vừa dạy môn nghệ thuật bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật. Đối với phân môn Tiếng Việt nói riêng đặc biệt các biện pháp tu từ người giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện được : Cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép tu từ trong khi nói và viết…các tín hiệu nghệ thuật của mỗi biện pháp tu từ từ đó giúp các em cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của tiếng việt. Quá trình dạy học phân môn Tiếng Việt chúng ta còn gặp nhiều khó khăn cụ thể: Đối với học sinh: Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa cao, cùng với ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu suy nghĩ động não…Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được hiệu quả cao. Học các phép tu từ: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ , các em chưa xác định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ, chưa phân biệt được sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ đó, nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của mỗi phép tu từ. Trong mỗi bài kiểm tra tiếng việt các em còn rất lúng túng khi xác định các phép tu từ và phân tích ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn. Đối với giáo viên: Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng đoạn văn mẫu để các em học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh.. .Từ thực trạng đó, trong quá trình dạy các bài về biện pháp tu từ. Tôi nghĩ rằng đối với một giáo viên dạy ngữ văn đặc biệt khi dạy phần này cần chú ý những yêu cầu sau: Phải khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em, tạo cơ sở để các em phát huy cảm nhận về giá trị của các biện pháp tu từ. Phải hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, tỉ mĩ về cách nhận biết, cách cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật. Học sinh biết vận dụng kiến thức vào bài viết của mình. Đây là cơ sở để đề xuất các biện pháp hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học.Đề tài “ Tìm hiểu các biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa trong tiếng việt hiện đại ở chương trình Tiểu học”. Cũng là một nội dung không ngoài mục đích đó.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC ….
KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
BÀI TẬP LỚN
Học phần PHONG CÁCH TIẾNG VIỆT
TÊN ĐỀ TÀI:
BIỆN PHÁP TU TỪ TỪ VỰNG - NGỮ NGHĨA TRONG
TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI
THÁNG 11 NĂM 2021
ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN
Trang 2………
………
………
………
………
………
………
Đồng Tháp, ngày ……tháng … năm 2021
Bố cục (2.0đ)*: Bố cục (2.0đ):
Nội dung 1 (4đ): Nội dung 1 (4đ):
Nội dung 2 (4đ): Nội dung 2 (4đ):
Giảng viên chấm 2
(ký và ghi rõ họ tên)
Giảng viên chấm 1
(ký và ghi rõ họ tên)
ĐIỂM BÀI THI:
MỤC LỤC
Mở đầu
A PHẦN MỞ ĐẦU
Trang 3Nội dung 1: Biện pháp tu từ ngữ nghĩa
1/ BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH 3
Nội dung 2: Xác định các phương tiện tu từ ngữ nghĩa và phân
Trang 4ĐỀ TÀI:
“ TÌM HIỂU CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ NGỮ NGHĨA TRONG TIẾNG VIỆT HIỆN ĐẠI Ở CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC”
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
- Dạy học văn chương nói chung vừa dạy môn khoa học vừa dạy môn nghệ thuật bởi văn học vừa là khoa học vừa là nghệ thuật Đối với phân môn Tiếng Việt nói riêng đặc biệt các biện pháp tu từ người giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát hiện được : Cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận dụng các phép tu từ trong khi nói và viết…các tín hiệu nghệ thuật của mỗi biện pháp tu
từ từ đó giúp các em cảm nhận được giá trị và ý nghĩa của tiếng việt
- Quá trình dạy học phân môn Tiếng Việt chúng ta còn gặp nhiều khó khăn
cụ thể:
* Đối với học sinh:
- Do điều kiện kinh tế cũng như sự quan tâm của phụ huynh chưa cao, cùng với ý thức tự học của các em còn thấp: lười học, không chịu suy nghĩ động não… Chính vì thế trong quá trình học tập chưa đạt được hiệu quả cao
- Học các phép tu từ: So sánh, ẩn dụ, hoán dụ , các em chưa xác định được khái niệm của mỗi phép tu từ, còn lẫn lộn giữa các phép tu từ, chưa phân biệt được
sự giống nhau và khác nhau giữa các phép tu từ đó, nên dẫn đến việc hiểu sai hoặc hiểu chưa rõ về giá trị nghệ thuật cũng như nội dung của mỗi phép tu từ
- Trong mỗi bài kiểm tra tiếng việt các em còn rất lúng túng khi xác định các phép tu từ và phân tích ý nghĩa trong mỗi đoạn thơ, đoạn văn
* Đối với giáo viên:
- Một số giáo viên khi dạy các phép tu từ còn gặp nhiều khó khăn, nhiều tiết dạy chưa đạt hiệu quả cao như: Dạy chưa hết bài, hướng dẫn học sinh một cách chung chung, chưa tỉ mỉ, cách nhận biết, cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật, cách vận
Trang 5dụng tu từ vào bài viết chưa cao, dẫn chứng trong bài dạy còn nghèo, chưa biết dùng đoạn văn mẫu để các em học tập, chưa phát huy hết khả năng của học sinh
Từ thực trạng đó, trong quá trình dạy các bài về biện pháp tu từ Tôi nghĩ rằng đối với một giáo viên dạy ngữ văn đặc biệt khi dạy phần này cần chú ý những yêu cầu sau:
- Phải khơi gợi hứng thú cảm nhận cho các em, tạo cơ sở để các em phát huy cảm nhận về giá trị của các biện pháp tu từ
- Phải hướng dẫn học sinh một cách cụ thể, tỉ mĩ về cách nhận biết, cách cách tìm hiểu giá trị nghệ thuật
- Học sinh biết vận dụng kiến thức vào bài viết của mình Đây là cơ sở để
đề xuất các biện pháp hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học
Đề tài “ Tìm hiểu các biện pháp tu từ từ vựng- ngữ nghĩa trong tiếng việt hiện đại ở chương trình Tiểu học” Cũng là một nội dung không ngoài mục đích
đó
Nội dung 1: Biện pháp tu từ ngữ nghĩa
1.2 Khái niệm biện pháp tu từ
Biện pháp tu từ là cách sử dụng ngôn ngữ theo một cách đặc biệt ở một đơn
vị ngôn ngữ (về từ, câu, văn bản) trong một ngữ cảnh nhất định nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm trong diễn đạt và tạo ấn tượng với người người độc về một hình ảnh, một cảm xúc, một câu chuyện trong tác phẩm.
Mục đích của biện pháp tu
từ là gì?
- Tạo nên những giá trị đặc
biệt trong biểu đạt và biểu cảm hơn
so với việc sử dụng ngôn ngữ thông
thường
Các biện pháp tu từ đã học là:
Trang 6So sánh
Nhân hóa
Ẩn dụ
Hoán dụ
Nói quá, phóng đại, kho trương, ngoa dụ, thậm xưng, cường điệu
Nói giảm, nói tránh
Điệp từ, điệp ngữ
Chơi chữ
Liệt kê
Tương phản
CHI TIẾT KHÁI NIỆM, TÁC DỤNG CỦA CÁC BIỆN PHÁP TU TỪ ĐÃ HỌC
1/ BIỆN PHÁP TU TỪ SO SÁNH
a/ Khái niệm: So sánh là đối chiếu 2 hay nhiều sự vật, sự việc mà giữa
chúng có những nét tương đồng để làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn
b/ Cấu tạo của biện pháp so sánh:
- A là B:
“Người ta là hoa đất”(tục ngữ)
“Quê hương là chùm khế ngọt”
(Quê hương - Đỗ Trung Quân)
- A như B:
“Nước biếc trông như làn khói phủ
Song thưa để mặc bóng trăng vào”
(Thu vịnh – Nguyễn Khuyến)
“Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương”
Trang 7(Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)
- Bao nhiêu… bấy nhiêu…
“Qua đình ngả nón trông đình
Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu”
(Ca dao)
Trong đó:
+ A – sự vật, sự việc được so sánh
+ B – sự vật, sự việc dùng để so sánh
+ “Là” “Như” “Bao nhiêu…bấy nhiêu” là từ ngữ so sánh, cũng có khi bị ẩn đi
c/ Các kiểu so sánh:
- Phân loại theo mức độ:
+ So sáng ngang bằng:
“Người là cha, là bác, là anh
Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ”
(Sáng tháng Năm – Tố Hữu)
+ So sánh không ngang bằng:
“Con đi trăm núi ngàn khe
Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm
Con đi đánh giặc mười năm
Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”
(Bầm ơi – Tố Hữu)
- Phân loại theo đối tượng:
+ So sánh các đối tượng cùng loại:
Ví dụ:
“Cô giáo em hiền như cô Tấm”
+ So sánh khác loại:
Trang 8Ví dụ:
“Anh đi bộ đội sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm!”
(Núi đôi – Vũ Cao)
+ So sánh cái cụ thể với cái trừu tượng và ngược lại:
Ví dụ:
“Trường Sơn: chí lớn ông cha
Cửu Long: lòng mẹ bao la sóng trào”
(Nguyễn Văn Trỗi – Lê Anh Xuân)
“Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”
(Ca dao)
2) Biện pháp tu từ điệp từ, điệp ngữ
- Khái niệm: Là biện pháp tu từ nhắc đi nhắc lại nhiều lần một từ, cụm từ có
dụng ý làm tăng cường hiệu quả diễn đạt: nhấm mạnh, tạo ấn tượng, gợi liên tưởng, cảm xúc… và tạo nhịp điệu cho câu/ đoạn văn bản
Ví dụ:
“Tre giữ làng, giữ nước, giữ mái nhà tranh, giữ đồng lúa chín”
(Cây tre Việt Nam – Thép Mới)
- Điệp ngữ có nhiều dạng:
+ Điệp ngữ cách quãng:
Ví dụ:
“Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Trang 9Hoa trôi man mác biết là về đâu ?
Buồn trông nội cỏ dàu dàu,
Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh,
Ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi”
(Truyện Kiều – Nguyễn Du) + Điệp nối tiếp:
Ví dụ:
“Mai sau
Mai sau
Mai sau
Đất xanh, tre mãi xanh màu tre xanh”
(Tre Việt Nam – Nguyễn Duy) + Điệp vòng tròn:
Ví dụ:
“Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai?”
(Chinh phụ ngâm – Đoàn Thị Điểm)
3/ Biện pháp tu từ Tương phản
- Khái niệm: Tương phản là biện pháp tu từ sử dụng từ ngữ đối lập, trái
ngược nhau để tăng hiệu quả diễn đạt
Ví dụ:
Đoạn thơ dưới đây được trích trong bài thơ "Tấm ảnh”
“O du kích nhỏ giương cao sung
Thằng Mĩ lênh khênh bước cúi đầu
Trang 10Ra thế, to gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu”
(Tố Hữu)
4 ĐỒNG NGHĨA KÉP
a Khái niệm
- Đồng nghĩa kép là biện pháp tu ừ, trong đó người ta dùng hai hay nhiều từ đồng nghĩa để diễn đạt 1 ý nghĩa giống nhau nào đó
- Nhằm nêu đặc trưng của đối tượng một cách đầy đủ nhất
b Các trường hợp:
- Cặp từ đồng nghĩa làm chính xác thêm nội dung, biểu hiện thông tin bổ sung
Ví dụ: “Bố tôi đã nâng niu, giữ gìn cẩn trọng cái tiểu đựng hài cốt bà suốt
dọc đường ô tô lên tới đây.”
(Côi cút giữa cảnh đời – Ma Văn Kháng)
- Chuỗi từ đồng nghĩa và gần nghĩa tăng cường hiệu quả diễn cảm
Ví dụ: “Bà là sự nhẫn nhịn, là lòng hỉ xả, là tuyết sạch giá trong, là tình
thương, là lẽ phải, là sự cứng cỏi, kiên trinh.”
(Côi cút giữa cảnh đời – Ma Văn Kháng)
3 TÁC DỤNG:
- Trong văn nghệ thuật và văn chính luận, đồng nghĩa kép được sử dụng khá rộng rãi để thực hiện chức năng sắc thái hóa nghĩa của nó
- Trong lời nói trao đổi miệng hằng ngày, văn xuôi khoa học và lời nói hành chính- công vụ, những khả năng cấu tạo và sử dụng đồng nghĩa rất bị hạn chế
Nội dung 2: Xác định các phương tiện tu từ ngữ nghĩa và phân tích giá trị của bài Thơ:
Trang 11CÂY DỪA
Bài thơ này được Trần Đăng Khoa sáng tác năm 1967, khi ông 9 tuổi Sau
đó được in trong tập thơ đầu tay "Góc sân & khỏang trời" (1968)
*Phân tích:
Phương pháp: từ nghệ thuật > nổi bật nội dung bài thơ
Trong bài thơ tác giả sử dụng các biện pháp tu từ:
+Nhân hóa: dưới con mắt của nhà thơ, cây dừa đã được đặt vào một vị trí mới, với hành động mới mà hành động này thể hiện tựa như đặt tính con người biết thể hiện bản chất khi hoạt động
“Dang tay đón gió,gật đầu gọi trăng”
Trong bài thơ tác giả không chỉ nhân hóa hình ảnh lá dừa lung lay trong gió như hình ảnh con người “dang đôi bàn tay ra để đón những làn gió mát lạnh vào lòng và càng nổi bật hơn nữa là hình ảnh cây dừa khi lung lay gió thổi thì tác giả lại so sánh, nhân hóa vô cùng độc đáo với hình ảnh con người “Gật đầu gọi trăng”
(Dang tay - Gật đầu -Gọi)
+So sánh: Hình ảnh từng quả dừa sai trĩu cuốn quanh cổ dừa như hình ảnh một đàn lợn con đang nằm quây quần bên mẹ trông thật thích thú
“Quả dừa đàn lợn con nằm trên cao”
Không chỉ quả dừa được so sánh như những chú lợn con no tròn bên mẹ mà hình ảnh tàu dừa tác giả ví von như chiếc lược khổng lồ xòe ra chải vào tận mây xanh
“Tàu dừa chiếc lược chải vào mây xanh”
(Quả dừa-Đàn lợn; Tàu dừa - chiếc lược)
+Ẩn dụ : Hình ảnh cây dừa có lẽ đã khắc sâu vào tâm trí hồn nhiên của tác giả từ khi sinh ra đến khi nhận thức được thì đã thấy hình ảnh hiên ngan của nó đứng sừng sửng giữa nắng trưa,dưới đêm trăng sáng cùng những vì sao trãi mưa
Trang 12dầu nắng dãi nhưng vẫn hiên ngan như hình ảnh người lính đứng canh gác bảo vệ quê hương đất nước
“Đứng canh trời đất bao la
Mà dừa đủng đỉnh như là đứng chơi” (cây dừa - người lính)
KẾT LUẬN :
Để dạy và học tốt phần nghĩa của từ và các lớp từ có quan hệ về ngữ nghĩa, tôi đã tìm ra những biện pháp giải nghĩa từ thích hợp đối với từng loại từ Để giờ dạy đạt kết quả cao, người giáo viên cần:
Nắm vững kiến thức về từ, các lớp từ:
Phương pháp dạy học mới không cho phép giáo viên cung cấp kiến thức cho học sinh theo kiểu truyền thụ một chiều song lại yêu cầu giáo viên phải nắm vững kiến thức sâu sắc để hướng dẫn, làm trọng tài khoa học cho học sinh Đối với các tiết luyện từ và câu về từ nhiều nghĩa vốn kiến thức của giáo viên lại đặc biệt quan trọng Muốn có điều này giáo viên phải bồi dưỡng, nghiên cứu tài liệu kĩ, đặc biệt phải nắm rõ các nghĩa của từ một cách chính xác
Thiết kế hệ thống bài tập phù hợp:
Phiếu học tập cho nhóm hoặc cá nhân là một trong những hình thức học tập rất hữu hiệu giúp học sinh có thể tích cực, chủ động trong học tập.Mặt khác nó còn giúp giáo viên nắm được kết quả ngược từ học sinh một cách chính xác, từ đó giáo viên có thể linh hoạt trong việc giảng dạy, học sinh nắm vững nội dung bài học Phiếu học tập cần được thiết kế bằng hệ thống các bài tập trắc nghiệm khách quan như: nối, đúng- sai, nhiều lựa chọn…
Cần sử dụng các phương pháp dạy học mới:
Để dạy tốt các tiết học về từ nhiều nghĩa giáo viên cần đưa các phương pháp dạy học mới như phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp đặt và giải quyết vấn
đề, phương pháp trò chơi…
Trang 13Chuẩn bị tốt tâm thế học tập cho học sinh
Giáo viên cần phải giao nhiệm vụ cho học sinh rõ ràng, kích thích hứng thú học tập của các em bằng các hình thức thi đua, khen thưởng ngoài ra giáo viên cần kiểm tra bài vở học sinh kể cả học sinh yếu lẫn học sinh khá, giỏi để tất cả các em cùng học tập, tránh tình trạng vì kiến thức quá khó nên một vài học sinh không học tập hoặc học tập không hiệu quả
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Tài liệu chính thức
Trang 14[1] Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa, Phong cách học tiếng Việt, NXB GD,
1993
[2] Nguyễn Thái Hòa, Giáo trình phong cách học tiếng Việt, NXB ĐHSP, 2006.
2 Tài liệu tham khảo
[3] Đỗ Việt Hùng, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Phân tích phong cách ngôn ngữ tác phẩm văn học, NXB ĐHSP, 2004.
[4] Đinh Trọng Lạc, 300 bài tập phong cách học tiếng Việt, NXB GD, 1999.
[5] Nguyễn Thái Hòa, Từ điển Tu từ - Phong cách - Thi pháp học, NXB GD, 2006.
[6] Sách giáo khoa Ngữ văn 10, 11, 12, NXB GD, 2000
[7] Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 NXB GD, 2000