1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

LỊCH SỬ DÂN TỘC VIỆT NAM TỪ KHI CÓ ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐÃ GIÀNH ĐƯỢC NHỮNG THẮNG LỢI

12 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 134,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đây là sự đòi hỏi phải có những quan tâm của Đảng, Nhà nước của mọi người nhất là khi trên thế giới một nền kinh tế mới đang hình thành và phát triển mạnh mẽ, đó là kinh tế tri thức, nền

Trang 1

Lịch sử dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo đã giành được những thắng

lợi, những thành tựu của cách mạng luôn gắn liền với quá trình vận dụng sáng tạo

trong hoàn cảnh cụ thể của thời đại, trên cơ sở thực tiễn Việt Nam

Những đóng góp, bổ sung và phát triển cũng như sự vận dụng sáng tạo, những

quy luật của học thuyết Mác - Lênin vào quá trình phát triển nền kinh tế đất nước Sự

vận dụng quy luật phù hợp giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất để phát triển

nền kinh tế đất nước nói chung và phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta nói riêng Đã

đạt được những kết quả to lớn Đây là sự đòi hỏi phải có những quan tâm của Đảng,

Nhà nước của mọi người nhất là khi trên thế giới một nền kinh tế mới đang hình thành

và phát triển mạnh mẽ, đó là kinh tế tri thức, nền kinh tế ấy trước hết thể hiện trình độ

mới lực lượng sản xuất

Biện chứng quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất tạo điều kiện cho chúng ta

có được nhận thức về sản xuất xã hội và kinh tế Thấy được ý nghĩa đó, tôi xin bày tỏ

một vài ý kiến bản thân về vấn đề: "Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ

phát triển của lực lượng sản xuất và vận dụng vào sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện

nay "

đây là một trong những vấn đề ưu tiên giải quyết của chính phủ và có tính thời sự

cao , vì vậy, với tư cách là một sinh viên còn trên giảng đường, em chỉ mong bài viết

này có thể nêu một số vấn đề có tính chất khái quát về công cuộc đổi mới này ở Việt

Nam

Em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của thầy giáo Đoàn Văn Khái Người

đã tận tình giúp em hoàn thành bài tiểu luận này

Do thời gian sưu tầm tài liệu không nhiều và trình độ nhận thức của em còn hạn

chế nên bài viết của em không tránh khỏi những sai sót và bất cập, em rất mong nhận

được sự nhận xét của thầy, và đóng góp của các bạn để bài tiểu luận của em được hoàn

thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn

Trang 2

I/ Đôi nét về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

1 Lực lượng sản xuất là gì?

Trong các yếu tố của lực lượng sản xuất, lực lượng sản xuất hàng đầu là người

công nhân, người lao động Chính người lao động là chủ thể của quá trình lao động

sản xuất, với sức mạnh và kỹ năng lao động của mình, sử dụng tư liệu lao động, trước

hết là công cụ lao động, tác động vào đối tượng lao động để sản xuất ra của cải vật

chất Cùng với quá trình lao động sản xuất, sức mạnh và kỹ năng lao động của con

người này càng được tăng lên, đặc biệt là trí tuệ của con người không ngừng phát triển,

hàm lượng trí tuệ của lao động ngày càng cao Ngày nay, với cuộc cách mạng khoa học

và công nghệ, lao động trí tuệ ngày càng đóng vai trò chủ yếu

Lịch sử loài người đã chứng kiến sự phá triển của lực lượng sản xuất Sau bước

ngoặt sinh học, sự xuất hiện công cụ lao động đánh dấu một bước ngoặt khác trong

sự chuyển từ vượn thành người Từ kiếm sống bằng săn bắt hái lượm sang hoạt

động lao động thích nghi với tự nhiên và dần dần cải tạo tự nhiên Từ sản xuất nông

nghiệp công nghệ lạc hậu chuyển lên cơ khí hoá sản xuất Sự phát triển lực lượng

sản xuất trong giai đoạn này không hạn chế ở việc tăng một cách đáng kể số lượng

thuần tuý với các công cụ đã có mà chủ yếu là ở việc tạo ra những công cụ hoàn

toàn mới sử dụng cơ bắp con người Do đó con người đã chuyển một phần công việc

năng nhọc cho máy móc và có điều kiện phát triển thêm các ứng dụng vào cuộc

sống

Tư liệu sản xuất bao gồm: Tư liệu lao động và đối tượng lao động Tư liệu lao

động và những phương tiện, vật liệu khác dùng để tăng cường, hỗ trợ cho tác động

công cụ lao động lên đối tượng Tư liệu lao động là vật hay hệ thống những vật được

con người đặt giữa mình với đối tượng lao động để truyền những tác động của con

người lên đối tượng nhằm biến đổi chúng thành những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu của

con người Do đó, tư liệu lao động được coi là cánh tay thứ hai của con người Nó kéo

dài và tăng cường sức mạnh thế giới quan con người… Tư liệu lao động do con người

Trang 3

sáng tạo ra, trong đó công cụ sản xuất đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc biến

đổi tự nhiên

Đối tượng lao động là toàn bộ những khách thể tự nhiên hoặc những vật liệu tự

nhiên đã được con người làm biến đổi nhưng chưa thành sản phẩm Những khách thể

và vật liệu này có thể biến thành sản phẩm đáp ứng nhu cầu con người và sự tác động

của con người Đối tượng lao động mang lại cho con người tư liệu sinh hoạt

2 Quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất là quan hệ của con người với nhau trong quá trình sản xuất Đó

là quan hệ tất yếu khách quan được hình thành trong quá trình sản xuất của cá nhân với

nhau

Quan hệ sản xuất bao gồm :Quan hệ giữa người với người trong việc sở hữu tư

liệu sản xuất; quan hệ giữa người - người trong việc tổ chức và phân công lao động xã

hội; quan hệ giữa người và người trong việc phân phối sản phẩm xã hội

Quan hệ sản xuất do con người tạo ra, song nó được hình thành một cách khách quan

không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan, tùy tiện của nội lực lượng sản xuất ở mỗi giai

đoạn lịch sử nhất định Để tiến hành sản xuất, con người chẳng phải quan hệ với tự

nhiên mà mà còn phải quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động và kết quả lao động, do

đó sản xuất bao giờ cũng mang bản chất xã hội

Thực tế lịch sử cho thấy rõ bất cứ một cuộc cách mạng xã hội nào đều bắt nguồn từ

những nguyên nhân liên quan đến kinh tế là nhằm bảo đảm cho lực lượng sản xuất

có điều kiện tiếp tục phát triển thuận lợi và đời sống vật chất của con người cũng

được cải thiện Đó là tính lịch sử tự nhiên của các quá trình chuyển biến giữa các

hình thái kinh tế - xã hội trong quá khứ và cũng là tính lịch sử tự nhiên của thời kỳ

quá độ từ hình thái kinh tế - xã hội tư bản chủ nghĩa sang hình thái kinh tế - xã hội

cộng sản chủ nghĩa

Trong lịch sử có hai hình thức sở hữu cơ bản: Sở hữu tư nhân là hình thức mà

trong đó một thiểu số cá nhân nhất định sở hữu đại bộ phận những tư liệu sản xuất cơ

bản của xã hội, như hình thức sở hữu này lợi ích cá nhân tri phối quá trình sản xuất Sở

Trang 4

hữu xã hội là hình thức sở hữu của cá nhân liên kết thành các tập thể sở hữu Hoặc tư

liệu xã hội cộng sản nguyên thủy các công xã thời cổ, sở hữu XHCN Trong sở hữu xã

hội, lợi ích tập thể của xã hội chi phối nền sản xuất xã hội

3 Quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng

sản xuất

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất,

chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo

thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình đọ phát triển của lực lượng

sản xuất Từ đó tạo nền quy luật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển sản xuất xã

hội

Lực lượng sản xuất quyết định sự hình thành biến đổi của quan hệ sản xuất: lực

lượng sản xuất là cái biến đổi đầu tiên và luôn biến đổi trong sản xuất con người

muốn giảm bớt cường độ làm việc tạo ra năng suất cao phải luôn tìm cách cải tiến

phương pháp , công cụ lao động Chế tạo ra công cụ lao động mới Lực lượng lao

động qui định sự hình thành và biến đổi quan hệ sản xuất khi quan hệ sản xuất

không thích ứng với trình độ, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm

chí phá hoại lực lượng sản xuất thì nó kìm hãm thậm chí phá hoại lực lượng sản

xuất và ngược lại

Sự tác động trở lại của quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất Quan hệ sản

xuất khi đã được xác lập thì nó độc lập tương đối với lực lượng sản xuất và trở

thành những cơ sở và những thể chế xã hội và nó không thể biến đổi đồng thời đối

với lực lượng sản xuất Thường lạc hậu so với lực lượng sản xuất và nếu quan hệ

sản xuất phù hợp với trình độ sản xuất, tính chất của lực lượng sản xuất thì nó thúc

đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất Nếu lạc hậu so với lực lượng sản xuất dù

tạm thời thì nó kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Sở dĩ quan hệ sản

xuất có thể tác động mạnh mẽ trở lại đối với lực lượng sản xuất vì nó qui định mục

đích của sản xuất qui định hệ thống tổ chức quản lý sản xuất và quản lý xã hội, qui

định phương thức phân phối và phần của cải ít hay nhiều mà người lao động được

Trang 5

hưởng Do đó nó ảnh hưởng tới thái độ tất cả quần chúng lao động Nó tạo ra những

điều kiện hoặc kích thích hoặc hạn chế sự phát triển công cụ sản xuất, áp dụng

thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất hợp tác phân công lao động quốc tế

II ) vận dụng quy luật vào sự nghiệp đổi mới ở

nước ta hiện nay

Thuộc phạm trù của lực lượng sản xuất và vận động không ngoài biện chứng nội tại

của phương thức sản xuất, nước ta hiện nay đang chuyển dần từ nền kinh tế lấy

nông nghiệp làm chủ đạo sang nền kinh tế công nghiệp và mục tiêu đến năm 2020

về cơ bản trở thành nước công nghiệp , và ưu tiên số một hiện nay là vấn đề công

nhiệp hóa , hiện đại hóa Công nghiệp hoá gắn chặt với hiện đại hoá, trước hết phải

được xem xét từ tư duy triết học Trước khi đi vào công nghiệp hoá - hiện đại hoá

và muốn thành công trên đất nước thì phải có tiềm lực về kinh tế con người, trong

đó lực lượng lao động là một yếu tố quan trọng Ngoài ra phải có sự phù hợp giữa

quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển lực lượng sản xuất đây mới là

nhân tố cơ bản nhất

Từ Đại hội Đảng VI (12-1986) là một trong những thời điểm lịch sử của đất

nước, đánh dấu bước ngoặt của sự phát triển của đất nước ta: thấy được sự bất cập của

nền kinh tế bao cấp , sản xuất trì trệ , đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn , nhận

thức được tình hình trước mắt , Đảng ta đã rất nhạy bén thay đổi kip thời

Xoá bỏ chế độ bao cấp sản phẩm, bãi bỏ sự cấm đoán phát triển kinh tế thị trường, sự

phát triển yếu ớt của đời sống xã hội thay thế bằng sự hội nhập với thế giới, quan tâm

và chú trọng phát triển đời sống của người dân…

Đại hội VII (6/1991), Đại hội VIII (61996), Đại hội IX (4/2001), Đại hội

X(4/2006, Đại XI hội(1/2011), Đại hội XII(2016), Đại hội XIII(1/2021), đã tiếp tục

khẳng định bổ sung và hoàn thiện các chủ trương, chính sách đổi mới kinh tế - xã hội ,

nhận thấy được những bất cập của quá trình đổi mới , một số chính sách áp dụng ở các

nước khác rất thành công tuy nhiên khi áp dụng vào hoàn cảnh nước ta lại không phát

Trang 6

huy được tác dụng , là do mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng , từ đó đảng ta đã ra

những chính sách điều chỉnh hợp lý , thay đổi trên cơ sở kế thừa và phát huy những

mặt tích cực , từ đó lựa chọn ra những chính sách phù hợp nhất với hoàn cảnh đất nước

lúc bấy giờ Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, điều chỉnh cơ cấu các ngành kinh

tế, đổi mới cơ chế quản lí, đổi mới về công cụ lao động và chính sách quản lý kinh tế -

xã hội, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại (cải thiện đời sống vật chất và

tinh thần của nhân dân).Chuyển sang nền kinh tế nhiều thành phần thay cho nền kinh tế

bao cấp trước đây Nếu trước kia chúng ta chỉ công nhận sự tồn tại của hai thành phần

kinh tế: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế

hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của nhân dân lao động thì giờ đây, Đảng ta đã xác định

nước ta có 5 thành phần kinh tế (thay đổi về xác định quan hệ sở hữu, chế độ sợ hữu):

Kinh tế nhà nước,kinh tế tập thể,kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân),kinh

tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.Tuy nhiên,nền kinh tế nhiều

thành phần này vẫn lấy kinh tế nhà nước làm đầu tuần ,giữ vai trò quan trọng trong

định hướng chiến lược của đất nước ta

Nắm bắt dược xu thế chung của thế giới , Đảng đã và đang ứng dụng những thành quả

về sản xuất trước đây , để áp dụng vào hoàn cảnh thực tế hiện nay , đảm bảo cho sự

phù hợp của quan hệ sản xuất phải phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất

Nhân loại đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật: cuộc cách mạng kỹ thuật mà nội

dung chủ yếu của nó là cơ khí hóa xuất hiện đầu tiên ở nước Anh vào ba mươi năm

cuối thế kỷ XVIII và hoàn thành vào những năm 50 đầu thế kỷ XIX Đến khoảng giữa

thế kỷ XX xuất hiện cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại Mấy thập niên đã

qua, nhất là thập niên gần đây loài người đang chứng kiến những thay đổi rất to lớn,

trên nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị và xã hội Ở nước ta, một nước bỏ

qua chế độ tư bản đi lên chủ nghĩa xã hội, công nghiệp hóa và hiện đại hóa được tiến

hành trong điều kiện thế giới đã trải qua hai cuộc cách mạng khoa học- kỹ thuật diễn ra

trong xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa Trong hoàn cảnh đó cuộc cách mạng khoa

học kỹ thuật ở nước ta phải bao gồm cơ khí hóa và hiện đại hóa, coi nó là “ then chốt”

và coi khoa học- công nghệ “ động lực” cho sự tăng trưởng và phát triển bền vững

Trang 7

Sau 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành

tựu to lớn và có ý nghĩa quan trọng

Nền kinh tế tăng trưởng liên tục, nhiều năm có tốc độ cao và trong 5 năm đầu đổi

mới (86-90), khi chế độ bao cấp bị xoá bỏ dần, các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác

xã gặp nhiều khó khăn khi chuyển đổi từ mô hình bao cấp sang tự cung tự cấp, khu vực

kinh tế tư nhân và cá thể chưa phát triển, nền kinh tế rơi vào tình trạng bất ổn Nhưng

đầu thập kỷ 90, nền kinh tế liên tục tăng trưởng ổn định và đạt đến đỉnh cao là 9,5%

vào năm 1995 Đặc biệt trong kế hoạch 5 năm (1991 - 1995) ta đã hoàn thành vượt

mức vì chỉ tiêu chủ yếu đưa nước ta thực sự thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,

chuyển sang thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước Toàn bộ các mục tiêu chuyển kế

hoạch 5 năm 1996-2000 và chiến lược 10 năm đều đạt và vượt kế hoạch GDP trong 10

năm này tăng bình quân 7,56%/năm, GDP năm 2000 gấp 2,07 lần năm 1990 Giai đoạn

2001 - 2005: Sự nghiệp đổi mới ở giai đoạn này đi vào chiều sâu, việc triển khai Chiến

lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010 và Kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 mà Đại hội

IX của Đảng thông qua đã đạt được những kết quả nhất định Nền kinh tế đạt tốc độ

tăng trưởng khá cao, theo hướng tích cực, năm sau cao hơn năm trước GDP tăng bình

quân 7,5%/năm, riêng năm 2005 đạt 8,4%/năm Giai đoạn 2006 - 2010: Nền kinh tế

vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên, nước ta đã

ra khỏi tình trạng kém phát triển, từ nhóm nước thu thập thấp đã trở thành nước có thu

nhập trung bình (thấp) GDP bình quân 5 năm đạt 7% GDP năm 2010 tính theo giá

thực tế đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000 (7).Giai đoạn 2011-2015, kinh

tế Việt Nam đối mặt với nhiều khó khăn do những vấn đề nội tại của nền kinh tế và

chịu tác động không nhỏ của sự suy thoái kinh tế toàn cầu Tính chung cả giai đoạn

2011-2015, tăng trưởng bình toàn nền kinh tế ước đạt 5,91%/năm, thấp hơn so với mức

6,32% của giai đoạn 2006-2010.Tốc độ tăng GDP giai đoạn 2016-2019 đạt khá cao, ở

mức bình quân 6,8% Mức này cao hơn hẳn mức trung bình của 5 năm 2011-2015 là

5,91%.Năm 2021, GDP Việt Nam tăng 2,58%, mức tăng thấp nhất trong thập kỷ gần

đây và thấp hơn tăng trưởng năm 2020 (2,91%).Tính chung năm 2021, GDP năm 2021

tăng 2,58% (quý 1 tăng 4,72%; quý 2 tăng 6,73%; quý 3 giảm 6,02%; quý 4 tăng

Trang 8

5,22%) so với năm 2020 do dịch Covid-19 ảnh hưởng nghiêm trọng tới mọi lĩnh vực

của nền kinh tế, đặc biệt là trong quý 3/2021 nhiều địa phương kinh tế trọng điểm phải

thực hiện giãn cách xã hội kéo dài để phòng chống dịch bệnh

Nông nghiệp phát triển toàn diện cả trồng trọt và chăn nuôi, nghề rừng và thuỷ sản

Sản lượng lương thực tăng nhanh từ 21,5% triệu tấn (1990) lên 27,5 triệu tấn (1995) và

34,5 triệu tấn (năm 2000), gần 36 triệu tấn (năm 2002), bình quân mỗi năm tăng 1,4%

triệu tấn Tốc độ tăng lương thực bình quân 5%/năm, cao hơn tốc độ tăng dân số

(1,8%) nên sản lượng lương thực bình quân đầu người tăng từ 304 kg (1985) lên 364

Kg (1995); 4448 Kg (2000) và 450 Kg (2002) Việt Nam từ một nước thiếu lương thực

đến 1989 trở thành nước xuất khẩu gạo thứ 2 thế giới Sở dĩ nông nghiệp tăng nhanh là

nhờ những đổi mới trong cơ chế chính sách quản lý nông nghiệp: nhân dân được giao

ruộng đất để sử dụng lâu dài, phát triển trang trại, khuyến khích khai hoang mở rộng

diện tích canh tác, nâng cao năng suất cây trồng Những thành tựu trên mặt trận lương

thực đã góp phần quan trọng vào sự ổn định đời sống nhân dân

Trong 10 năm 1991- 2000, bình quân mỗi năm xuất khẩu gạo tăng 7,6%, cao su

tăng 12,4%, cà phê tăng 17,7%, rau quả tăng 10,8%, hạt tiêu 24,8%, hạt điều tăng

37,5% Tổng giá trị nông sản xuất khẩu chiếm 40% tổng giá trị xuất khẩu cả nước Một

nền nông nghiệp hàng hoá nhiều thành phần gắn với thị trường quốc tế

Công nghiệp tăng liên tục, bình quân trong thời kỳ 1991-1995 tăng 13,7%;

1996-2000 tăng 13,2% Công nghiệp tăng nhanh là do đầu tư lớn của nhà nước trong những

năm trước đây cho một số ngành quan trọng như dầu khí, điện, xi măng, thép, giấy,

đường nhưng quan trọng hơn là có sự đổi mới cơ chế, chính sách quản lý của nhà

nước, xóa bỏ bao cấp, nhận vốn đầu tư nước ngoài

Hệ thống đường giao thông, bưu điện xây dựng mới và nâng cấp trên khắp mọi

miền của tổ quốc: quốc lộ 1A, 5, 18, sân bay, bến cảng được nâng cấp và xây dựng,

thương mại và dịch vụ có nhiều khởi sắc

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ: chuyển từ khu vực I (Nông

nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản) sang khu vực II (Công nghiệ - xây dựng) và khu vực

Trang 9

III (dịch vụ), chuyển từ khu vực quốc doanh, hợp tác xã sang đa thành phần và chuyển

theo hướng hình thành 3 vùng kinh tế trọng điểm ở 3 miền Bắc -Trung - Nam

- Đẩy lùi lạm phát: 1986: 774,7%; 1990: 67,4%; 1994L 12,7%; 1997: 3,7%;

1999: 0,1%

- Kinh tế đối ngoại phát triển nhanh: Xuất khẩu: kim ngạch xuất khẩu năm 1996:

822,9 triệu USD; năm 2001: 15,027 tỉ USD Nhập khẩu: 2,16 tỉ USD (1986); 16,16 tỉ

USD (2001)

Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ nét: lao động có

việc làm tăng nhanh, mỗi năm tạo 1,3 triệu việc làm mới, thu nhập bình quân đầu

người đạt gần 400 USD/năm Số hộ giàu tăng > 10%; số hộ nghèo giảm từ 55% (1989)

xuống 11,4% (2000)

Nhờ những thành tựu tăng trưởng ổn định hoá kinh tế, tình hình xã hội đã được

cải thiện rất nhiều Tỉ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm 1% và giữ mức bình quân

2,1%/năm, giảm so với thời kì trước (2,3%) nhưng vẫn cao hơn mục tiêu đề ra (1,9%)

Số người đi học bình quân tính trên 1 vạn dân, tăng từ 1834 người (1990) tăng lên

2171 (1995)

Tỉ trọng cho các lĩnh vực xã hội chiếm từ 24,4 - 28,4% tổng ngân sách nhà nước

và có xu hướng tăng lên Hệ thống y tế được cải thiện, đặc biệt là hệ thống bảo hiểm y

tế

Tình hình nông thôn được cải thiện thêm một bước Có khoảng 60,2% số xã có

điện, 86,4% số xã có đường ô tô, 91,6% xa có trạm xá và 97,7% số xã có trường tiểu

học; 76,2% số xã có trường PTCS

Những thành tựu đạt được là kết quả của con đường đổi mới do Đảng khởi

xướng và lãnh đạo Nó là kết quả của nhận thức đúng đắn quy luật quan hệ sản xuất

phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất để phát triển kinh tế - xã hội này

Ngoài ra, cũng không thể không kể đến một số nguyên nhân khách quan quan

trọng, đó là:

- Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành muộn, đi sau các nước

phương tây và một số nước châu á Do bắt đầu muộn nên Việt Nam có thể học hỏi

Trang 10

được nhiều kinh nghiệm, cả kinh nghiệm thành công lẫn không thành công của các

nước đi trước, để trên cơ sở đó, rút ra bài học bổ ích cho cách đi riêng của bản thân

mình

- Trong quá trình CNH-HĐH, Việt Nam có thể tranh thủ cơ hội đi tắt đón đầu

bằng việc nhập các thiết bị kĩ thuật tiên tiến để đổi mới thiết bị kĩ thuật đã lạc hậu

- Quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam được tiến hành trong môi trường hoà bình

với xu hướng hoà hoãn và hợp tác quốc tế Nhờ vậy, nước ta mở rộng quan hệ bạn bè

và hợp tác với nhiều nước nhằm tranh thủ sự viện trợ, giúp đỡ của các nước trên thế

giới Đồng thời xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế thế giới đã tạo điều kiện và thời

cơ cho Việt Nam có thể sử dụng khoa học, công nghệ mới, nguồn vốn của các nước

giàu vào sự nghiệp CNH-HĐH, trên cơ sở đó, tham gia vào quá trình phân công và hợp

tác quốc tế

Có thể nói, môi trường quốc tế và xu hướng phát triển mới của thếgiới đang tạo

tiền đề bên ngoài thuận lợi cho quá trình CNH-HĐH ở Việt Nam Việc Việt Nam gia

nhập các tổ chức quốc tế như ASEAN, OPEC, việc quốc hội Mĩ thông qua hiệp dịnh

thương mại Việt - Mỹ gần đây… là những bằng chứng khẳng định điều đó

2 Hạn chế

Do nền kinh tế nước ta có điểm xuất phát thấp chủ yếu vẫn là nông nghiệp, công

nghiệp còn nhỏ bém, kết cấu hạ tầng kém phát triển, cơ sở vật chất kỹ thuật chưa xác

định được nhiều Mặc dù cơ cấu các ngành GDP có chuyển dịch rõ rệt những cơ hội

nhưng cơ cấu lao động chậm biến đổi Hiện nay hơn 75% dân số vẫn sống ở nông thôn,

lao động nông nghiệp vẫn chiếm > 60% tổng số lao động xã hội

Nền kinh tế có mức tăng trưởng khá nhưng năng suất, chất lượng hiệu quả còn

thấp Đất nước Việt Nam vẫn thuộc 20 nước nghèo nhất thế giới Đây là thách thức cực

kỳ to lớn cần phát huy mọi tiềm năng để giải quyết

Vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội còn yếu: khả năng kiềm

chế lạm phát còn chưa vững chắc Ngân sách thu không đủ chi, tỉ lệ bội chi ngân sách

còn cao

Ngày đăng: 11/01/2022, 16:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w