Bài tham luận HỌC VẤN CỦA CHA MẸ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHỌN HỌC ĐẠI HỌC CỦA CON Họ và tên: Phan Nguyễn Trâm Anh Trường: Đại học Kinh tế TP.HCM Email: pntramanh2000@gmail.com TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Trang 1Bài tham luận HỌC VẤN CỦA CHA MẸ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHỌN HỌC ĐẠI HỌC CỦA
CON
Họ và tên: Phan Nguyễn Trâm Anh
Trường: Đại học Kinh tế TP.HCM
Email:
pntramanh2000@gmail.com
TÓM TẮT ĐỀ TÀI
Ở các quốc gia khác, nhiều mô hình đã được sử dụng để nghiên cứu việc nhập học hay chọn học đại học Tuy nhiên tại Việt Nam, dù đã được quan tâm
về học vấn của người dân cũng như việc học đại học, nhưng nền tảng lý thuyết
và các nghiên cứu liên quan đến việc chọn học đại học vẫn còn ít Dựa vào việc chọn học đại học và phương pháp nghiên cứu định lượng, tác giả đã xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn học đại học gồm: dân tộc, giới tính, học vấn của cha mẹ và thu nhập của gia đình Nghiên cứu sử dụng 2.024 quan sát được lấy từ bộ dữ liệu VHLSS 2018 Kết quả của nghiên cứu khẳng định mối liên hệ giữa các yếu tố được đề cập là có ý nghĩa thống kê Cụ thể, học vấn của cha và mẹ có tác động cùng chiều đối với việc chọn học đại học của con ở tất cả mô hình được kiểm chứng
TỪ KHÓA: Chọn học đại học, học vấn của cha, học vấn của mẹ, thu nhập của gia đình,…
CHƯƠNG I GIỚI THIỆU
1.1 Đặt vấn đề nghiên cứu
Kỳ thi THPT luôn là kỳ thi được quan tâm hàng đầu tại nước ta Học sinh được thiết kế nhiều lộ trình học, bài giảng để chuẩn bị hành trang cho kỳ thi Đại học Số lượng đăng ký thi Đại học hằng năm luôn chiếm tỉ trọng lớn Trong năm 2021, hơn 78,2% thí sinh tham dự có mục đích xét tuyển đại học, Cao đẳng (Hoa Lê, 2021) Những điều đó cho thấy rằng giáo dục cũng như trình độ học vấn của người dân là một vấn đề có tầm quan trọng và việc chọn học đại học cũng là một vấn đề được quan tâm hàng đầu Tuy nhiên, vẫn có nhiều thí sinh không có ý định học đại học Điều đó đặt ra câu hỏi có những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc chọn học đại học của những thí sinh này
Trang 2Mối tương quan giữa những yếu tố liên quan đến cha mẹ và việc học đại học của con từng xuất hiện trong các nghiên cứu của Coelli (2011), Case và cộng sự (2004),… và được chứng minh là có mối quan hệ giữa các yếu tố thuộc gia đình cũng như của con ảnh hưởng đến vấn đề này Bên cạnh đó, có nhiều nghiên cứu cho thấy việc học đại học của con cũng như trình độ học vấn
có ảnh hưởng đến nhiều yếu tố đối với cuộc sống của mỗi người Như trong báo Nhân dân có đề cập đến sự ảnh hưởng của trình độ học vấn của người mẹ đến mức sinh cụ thể “Thể hiện tổng tỷ suất sinh (TFR), cao nhất (2,65) ở những phụ nữ chưa đi học, ở dưới mức sinh thay thế (2,1) ở những phụ nữ đã tốt nghiệp trung học cơ sở và đạt mức thấp nhất (1,64) ở những phụ nữ đã tốt nghiệp trung học phổ thông Số liệu này cho thấy những phụ nữ có trình độ học vấn cao hơn, họ thường sinh ít con hơn Ðiều đó cho thấy chương trình DS
- KHHGÐ cần tập trung vào nhóm có học vấn thấp để cung cấp cho họ thông tin về lợi ích của quy mô gia đình ít con sẽ tạo cơ hội cho sự phát triển, nâng cao trình độ học vấn của người mẹ và mang lại lợi ích về sức khỏe cho con cái họ.” (Nguyễn Hữu Tài, 2010) Ngoài ra còn các nghiên cứu khác liên quan đến
sự thành công của con trẻ, đến thu nhập của chính họ cũng như con của mình,
…
Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn học đại học của con mà phần lớn là nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc chọn trường hoặc ngành học Từ các lý do trên, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn nghiên cứu các yếu tố của cha mẹ ảnh hưởng đến việc chọn học đại học của con
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào các mục tiêu trọng tâm sau:
• Mối liên hệ giữa học vấn của mẹ đến việc chọn học đại học của con
• Mối liên hệ giữa học vấn của cha đến việc chọn học đại học của con
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Nhóm nghiên cứu thiết kế câu hỏi nghiên cứu dựa vào mục tiêu nghiên cứu chi tiết đã liệt kê bao gồm 2 câu hỏi như sau:
− Học vấn của cha có tác động cùng chiều đến việc chọn học đại học của con không?
− Học vấn của mẹ có tác động cùng chiều đến việc chọn học đại học của con không?
Trang 31.4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng “Bộ dữ liệu khảo sát mức sống hộ gia đình - VHLSS” được điều tra bởi Tổng cục Thống kê năm 2018
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: thống kê mô
tả và hồi quy Logit bằng phần mềm STATA để tìm ra mối tương quan giữa các yếu tố được xác định đối với trình độ học vấn của con
1.6 Những đóng góp của đề tài
Về mặt ứng dụng trong nghiên cứu về trình độ học vấn, nghiên cứu mô tả bức tranh tổng quan về các nghiên cứu trên thế giới cũng như Việt Nam, từ đó, tạo ra nền tảng cơ sở lý thuyết cho các nghiên cứu tổng quan cũng như nghiên cứu thực nghiệm trong tương lai
Về mặt ứng dụng thực tế, đề tài cung cấp góc nhìn tổng quan về các yếu
tố ảnh hưởng đến việc chọn học đại học của con cho các nhà giáo dục Trình
độ học vấn ngày càng quan trọng, do đó, nhà nước đã và đang có xu hướng nâng cao trình độ học vấn cho người dân Nghiên cứu sẽ giúp xác định được các yếu tố đang ảnh hưởng đến việc chọn học đại học Từ đó, sẽ giúp cho việc đưa ra những quyết định phù hợp và chính xác với tình trạng trong hiện tại và tương lai
CHƯƠNG II TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2.1 Việc chọn học đại học của con
Việc chọn học đại học của con sẽ được đo lường trên các đối tượng khảo sát từ 18 tuổi trở lên bao gồm cả học đại học và cao đẳng Những quan sát này có quan hệ là con của chủ hộ được khảo sát
2.2 Các yếu tố tác động đến việc chọn học đại học của con
2.2.1 Yếu tố gia đình
Mối tương quan giữa thuộc tính này và việc chọn học đại học của con đã được đề cập trong nghiên cứu của Kodde & Ritzen (1988) về ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của trình độ học vấn của cha mẹ đối với nhu cầu giáo dục đại học Nghiên cứu này được xây dựng dựa trên ba nhóm lý thuyết chính Đầu tiên là lý thuyết vốn con người (human capital theory) được phát triển bởi
Schultz (1960), Mincer (1958 và 1974), và Becker (1975) Lý thuyết này xem
giáo dục như một khoản đầu tư mà chi phí hiện tại được so sánh với lợi ích
Trang 4trong tương lai Về sau, những mô hình trong lý thuyết đã được mở rộng để
thích ứng với thị trường vốn không hoàn hảo (Parsons, 1974; Wallace & Ihnen, 1975; Johnson, 1978; Kodde & Ritzen, 1984), sự không chắc chắn của thu nhập trong tương lai (Levhari & Weiss, 1974; Williams, 1979; Eaton & Rosen, 1980; Kodde, 1986) và triển vọng việc làm (Kodde & Ritzen, 1988) Khi thị trường vốn không hoàn hảo thì Kodde & Ritzen (1984) cho rằng thu nhập của
gia đình cũng nên được xem xét Nhóm lý thuyết thứ hai xem việc đi học là một hoạt động tiêu dùng, sự chú ý được tập trung vào lợi ích phi tiền tệ của giáo dục Có thể kể đến lợi ích này trong mô hình sản xuất hộ gia đình của
Michael (1973) và trong mô hình vòng đời của Heckman và cộng sự (1976).
Nhóm lý thuyết thứ ba được gọi là ghi nhãn, sàng lọc, hoặc chủ nghĩa tín nhiệm, xem giáo dục như một bộ chọn lọc những sinh viên hiệu quả hơn Nghiên cứu được phân tích ở hai mô hình là mô hình đơn giản và mô hình phức tạp Ở mô hình đầu tiên cũng là mô hình đơn giản nhất, nhóm tác giả thấy rằng trình độ học vấn của cha mẹ có tác động đáng kể đến việc lựa chọn giáo dục của con Sau khi kết hợp khả năng học vấn và thu nhập, kết quả cho thấy rằng sự tác động bởi học vấn của phụ huynh đã giảm nhưng vẫn còn rất đáng
kể
Sự ảnh hưởng bởi thu nhập của cha mẹ đối với quyết định nhập học của con cũng được nghiên cứu và chứng minh bởi Acemoglu & Pischke (2001) Nghiên cứu này được nhóm tác giả sử dụng ba cuộc khảo sát về học sinh tốt nghiệp THPT do Trung tâm Thống kê Giáo dục Quốc gia Hoa Kỳ (NCES) tài trợ Các cuộc khảo sát được kéo dài khoảng 2 thập kỷ vào những năm 1970 và những năm 1980 Tác giả có đề cập, trên thực tế, nhiều nghiên cứu bao gồm học vấn của cha mẹ và sự kiểm soát của họ đối với loại trường đã học trước đó hoặc điểm kiểm tra làm giảm đáng kể mức ảnh hưởng của thu nhập gia đình đối với học vấn của con cái ví dụ như Cameron và cộng sự (1999), Ellwood & Kane (1998), hoặc Cameron & Taber (2000)) Khác với những bài nghiên cứu
đó, bài nghiên cứu của Acemoglu & Pischke (2001) không gặp phải những vấn
đề liên quan đến các yếu tố đã nêu trên dẫn đến ước tính lớn hơn đáng kể về mức độ ảnh hưởng của các nguồn lực của cha mẹ đối với học vấn của con cái Sau khi nghiên cứu, nhóm tác giả kết luận rằng thu nhập gia đình có ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc đăng ký nhập học của con Sự ảnh hưởng này được ước tính lên đến 0,14 cho thấy đây là một ảnh hưởng rất đáng kể về mặt kinh
tế
Trang 5Mối tương quan giữa các yếu tố có liên quan đến cha mẹ và việc chọn học đại học của con được đề cập đến trong nghiên cứu của Coelli (2011) Có 2403 đứa trẻ ở các độ tuổi 17, 18 và 19 được quan sát Trong đó, đối với các cha mẹ
có học vấn thấp hơn trung học sẽ có ảnh hưởng ngược chiều đối với việc học đại học của những đứa trẻ này ở mức độ tin cậy 10% Việc các cha mẹ hoàn thành chương trình bậc trung học và không học đại học có tác động cùng chiều với việc học của con (có ý nghĩa thống kê tại mức 5%) và học vấn của cha mẹ ở bậc đại học có ảnh hưởng cùng chiều với quyết định nhập học của con (có ý nghĩa thống kê tại mức 1%) Điều này cho thấy học vấn của cha mẹ
có ảnh hưởng đối với việc trẻ nhập học đại học Ngoài yếu tố học vấn, mức thu nhập của cha mẹ cũng có ảnh hưởng Cụ thể, mức thu nhập cao có tác động cùng chiều đối với biến phụ thuộc được nêu ra (có ý nghĩa thống kê tại mức 1%)
2.2.2 Thuộc tính đặc điểm của con
Nghiên cứu của Coelli (2011) cho thấy nếu các yếu tố khác không đổi, nữ
giới có xác suất đăng ký vào trường đại học cao hơn nam giới 0,149 lần và điều này có ý nghĩa thống kê tại mức 1% Nhóm nghiên cứu vẫn chưa tìm được thêm các nghiên cứu khác có chứng minh sự tác động của giới tính đối với việc lựa chọn này Do đó, nhóm nghiên cứu quyết định kiểm tra mối quan hệ của hai yếu tố này tại Việt Nam để xác định chúng có thật sự tác động lên nhau hay không Bên cạnh đó, trong bài nghiên cứu nêu trên cũng đã đề cập đến yếu tố dân tộc thiểu số với kết quả cho thấy có sự tác động cùng chiều với việc chọn học đại học của con cái (có ý nghĩa thống kế tại mức 1%) Dân tộc thiểu số trong bài nghiên cứu được định nghĩa là những người gốc châu Á sinh sống tại Mỹ Tuy nhiên, nếu xét về thực tiễn các dân tộc thiểu số tại Việt Nam
sẽ cần đo lường lại Vì vậy, nhóm quyết định kiểm định mối quan hệ này
2.3 Khung lý thuyết
Dựa vào tổng quan lý thuyết nêu trên, khung lý thuyết cho bài nghiên cứu được hình thành Cụ thể, việc chọn học đại học của con (>18 tuổi) có thể bị ảnh hưởng bởi đặc tính của con, đặc tính của hộ gia đình và đặc biệt là trình
độ học vấn của cha mẹ
Hình 2.1 Khung lý thuyết
Trang 6
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Giới thiệu
Chương 3 nhằm trình bày thực trạng trong việc chọn học đại học của những công dân trên 18 tuổi ở Việt Nam dựa trên báo cáo của Tổng cục thống kê; mô hình kinh tế lượng diễn giải các biến; thông tin về bộ dữ liệu nhóm sử dụng cũng như lý do lựa chọn bộ dữ liệu này
3.2 Thực trạng chọn học đại học tại Việt Nam
Theo Thống kê về Giáo dục đại học và cao đẳng trong vòng 10 năm gần đây cho thấy số lượng sinh viên ngày càng giảm đáng kể Đặc biệt đối với bậc đại học, từ sau năm 2015 thống kê đã không bao gồm cao đẳng thì có thể thấy xu hướng giảm của sinh viên đại học Cụ thể vào năm 2015 có tổng 1.753.200 sinh viên thì vào năm 2018 chỉ còn 1.526.100 sinh viên Số lượng sinh viên năm 2018 chỉ bằng 89,4% số lượng sinh viên vào năm 2017
Số lượng sinh viên nam được thống kê cho thấy vào những năm 2008 đến năm 2012 có số lượng cao hơn nhưng ở các năm 2013 cho đến năm 2018 luôn thấp hơn số lượng sinh viên nữ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ số lượng sinh viên tham gia học Đại học – Cao
đẳng từ 2008-2018
(Nguồn: Tổng cục thống kê)
Trang 7Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, tỷ lệ học sinh vào đại học năm 2020 giảm mạnh Cụ thể, năm 2020 có 900.152 thí sinh đăng ký dự thi tốt nghiệp THPT nhưng chỉ có 643.122 thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng, chiếm 71,45%, giảm 9.878 thí sinh so với năm 2019
Các số liệu thể hiện thực trạng chọn học đại học này cho thấy cần nhiều
sự quan tâm hơn từ cộng đồng và các trường đại học Trường đại học và ngành học ngày càng được mở rộng tại Việt Nam nhưng số lượng sinh viên ngày càng
có xu hướng giảm Điều này đặt ra câu hỏi nguyên nhân sinh viên chọn học đại học là do đâu và những yếu tố đó tác động như thế nào đến việc chọn học đại học của họ đặc biệt là các yếu tố liên quan đến cha mẹ có tác động như thế nào và có thật sự là một yếu tố có ảnh hưởng đáng kể hay không
3.3 Thiết kế nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng Do biến phụ thuộc có nhận 2 chỉ số là 0 và 1 nên nhóm nghiên cứu đề xuất sử dụng mô hình Logit Nhóm không sử dụng mô hình OLS và ước lượng OLS không xem xét đết giới hạn nằm trong khoảng (0,1) của Y Khi ước lượng OLS sẽ dẫn đến việc vượt quá giới hạn này
3.3.2 Mô hình kinh tế lượng
Dựa vào các nghiên cứu trước, bài nghiên cứu này áp dụng các mô hình kinh tế lượng sau để xác định tốc động của trình độ giáo dục của cha mẹ đến việc chọn học đại học của con (>18 tuổi) Các mô hình (1), (2), (3) nhằm mục đích kiểm định tính vững cũng như phân tích tính nhạy của tác động của cha
mẹ (melevel và felevel) với Xi là các biến kiểm soát trong mô hình
Cụ thể, mô hình 1 sẽ kiểm định sự tác động của học vấn của mẹ đối với việc chọn học đại học của con Mô hình 2 sẽ kiểm định sự tác động của học vấn của cha đối với việc chọn học đại học của con Mô hình 3 sẽ kiểm định sự tác động của học vấn của cha mẹ có thay đổi như thế nào khi có cả 2 biến cùng xuất hiện trong mô hình
(1) celevel = β0 + β1felevel + αiXi + ui (2) celevel = β0 + β1melevel + αiXi + ui (3) celevel = β0 + β1felevel + β1melevel + αiXi + ui
Bảng 3.1 Các biến trong mô hình
Biến phụ thuộc
Trang 8= 0 nếu không có trình độ học vấn đại học
= 1 nếu có trình độ học vấn đại học
Biến độc lập
Thuộc tính của con
gender Giới tính của con= 0 nếu là Nữ
= 1 nếu là Nam
Phân loại (-)
ethnicity Dân tộc của con= 1 nếu là dân tộc Kinh
= 0 nếu là dân tộc Khác
Phân loại (-)
Thuộc tính hộ gia đình
felevel
Trình độ học vấn của cha
= 0 nếu trình độ học vấn dưới THPT
= 1 nếu trình độ học vấn là THPT
= 2 nếu trình độ học vấn là CĐ/ĐH
Phân loại (+)
melevel
Trình độ học vấn của mẹ
= 0 nếu trình độ học vấn dưới THPT
= 1 nếu trình độ học vấn là THPT
= 2 nếu trình độ học vấn là CĐ/ĐH
Phân loại (+)
thunhap
Thu nhập của gia đình
= 0 nếu thu nhập < 86.959 (thu nhập cao)
= 1 nếu thu nhập < 86.959 (thu nhập thấp)
Phân loại (+) (Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
3.3.3 Thu thập số liệu
Để trả lời các câu hỏi nghiên cứu đã nêu, bộ dữ liệu về khảo sát mức sống hộ gia đình (VHLSS) ở Việt Nam được thu thập bởi Tổng cục Thống kê đã được sử dụng Bộ dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu là VHLSS2018 với đầy đủ thông tin về các biến đã nêu cũng như là bộ dữ liệu mới nhất
3.3.4 Mô tả biến
Phần này sẽ mô tả ngắn gọn về các biến được sử dụng trong 3 mô hình kinh tế lượng đã được trình bày
Biến phụ thuộc
Biến phụ thuộc ở đây là học hay không học đại học của con từ 18 tuổi trở lên Với đối tượng quan sát được xác định là người có quan hệ con cái với chủ hộ hoặc thành viên trong hộ gia đình
Biến độc lập
Biến độc lập được phân loại theo 2 nhóm: nhóm biến về trẻ và nhóm biến về hộ gia đình Nhóm biến về trẻ gồm 2 biến đó là giới tính và dân tộc Dựa vào nghiên cứu của Coelli, (2011), các biến liên quan đến thuộc tính của con được đưa vào là biến về giới tính và biến về dân tộc Kết quả được kỳ vọng trong nghiên cứu này là có sự khác biệt về giới tính và dân tộc đối với việc chọn học hoặc không học đại học của con
Trình độ học vấn của cha mẹ là biến cấp bậc, được phân thành 3 cấp cụ thể là dưới Trung học phổ thông, Trung học phổ thông và trình độ Cao đẳng/Đại học Biến “trình độ học vấn dưới
Trang 9THPT” được chọn làm biến cơ sở để so sánh Nghiên cứu này kỳ vọng rằng học vấn của cha, mẹ càng cao thì khả năng trẻ chọn học đại học sẽ cao hơn
Thu nhập của gia đình cũng là một yếu tố có sức ảnh hưởng đối với quyết định chọn học đại học của con Mức thu nhập được chia thành 2 mức cụ thể là mức thu nhập cao và mức thu nhập thấp Mức thu nhập cao khi thu nhập > 86.959 và ngược lại
IV KẾT QUẢ VÀ Ý NGHĨA HỒI QUY 4.1 Giới thiệu
Dựa vào khung lý thuyết và phương pháp nghiên cứu được liệt kê, phần IV sẽ trình bày và diễn giải ý nghĩa thống kê mô tả và kết quả hồi quy của các mô hình
4.2 Thống kê mô tả
Bảng 4.1 cho ta thấy số quan sát, độ lệch chuẩn, giá trị nhỏ nhất và lớn nhất của các biến trong bảng 3.1 từ bộ dữ liệu VHLSS gồm 2024 đối tượng quan sát từ 18 tuổi trở lên, với tất cả các biến Trong 2.024 đối tượng quan sát thì có 1.162 nam và 862 nữ, trong đó có khoảng 62,5% là dân tộc Kinh (khoảng 1.265 người) Trình độ học vấn của người cha ở mức dưới THPT là 80,04%, mức THPT là 13,88% và Cao đẳng/ Đại học là 6,08%; tương tự, trình độ học vấn của mẹ cũng được chia thành ba mức: dưới THPT là (78,46%) (, THPT (15,22%) và Cao đẳng/ Đại học (6,3%) Đối với mức thu nhập của gia đình, có 75,85% là hộ dân có thu nhập thấp* tương đương khoảng
1515 gia đình và 25,15% là hộ gia đình có thu nhập cao* Dựa theo bảng 4.1, với mức trung bình của biến phụ thuộc trình độ học vấn của con là 0.338 cho thấy có 1339 đối tượng quan sát không chọn học đại học chiếm khoảng 66,16%
Bảng 2 4.1 Thống kê mô tả của các biến mô hình
sát
Trung bình
Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất Biến phụ thuộc
celevel, trình độ học vấn của
Biến độc lập
felevel, trình độ học vấn của
melevel, trình độ học vấn của
thunhap, thu nhập của gia
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Biểu đồ 2 4.1 Giới tính của các đối tượng quan sát
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Trang 10Biểu đồ 4.2 3 Dân tộc của các đối tượng quan sát
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Biểu đồ 4.3 Việc chọn học Đại học của các đối tượng quan sát
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp)
Bảng 4.2 3 Mối tương quan giữa các biến trong mô hình celevel ethnicity gender felevel melevel thunhap celevel 1,0000
ethnicity 0,2758
0,0000
1,0000
gender -0,0914
0,0000
-0,0026 0,9077
1,0000
felevel 0,3906
0,0000
0,1814 0,0000
-0,0063 0,7756
1,0000
melevel 0,4108
0,0000 0,20240,0000 0,00910,6830 0,54860,0000 1,0000
thunhap 0,5144
0,0000 -0,03510,1149 0,20910,0000 0,19800,0000 0,19730,0000 1,0000
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp) Bảng hệ số tương quan cho ta biết như sau:
Hệ số tương quan giữa ethnicity và celevel là 0,2758 và sig < 5% nên hệ số tương quan này
có ý nghĩa thống kê tức là có sự tương quan giữa dân tộc và việc chọn học đại học của con Hệ số tương quan giữa gender và celevel là -0,0914 và sig < 5% nên hệ số tương quan này có ý nghĩa thống kê tức là có sự tương quan giữa giới tính và việc chọn học đại học của con Hệ số tương quan giữa felevel và celevel là 0,3906 và sig < 5% nên hệ số tương quan này có ý nghĩa thống kê tức là có sự tương quan giữa trình độ học vấn của cha và việc chọn học đại học của con Hệ số tương quan giữa melevel và celevel là 0,4108 và sig < 5% nên hệ số tương quan này có ý nghĩa thống kê tức là có sự tương quan giữa trình độ học vấn của mẹ và việc chọn học đại học của con
Hệ số tương quan giữa thunhap và celevel là 0,5144 và sig < 5% nên hệ số tương quan này có ý nghĩa thống kê tức là có sự tương quan giữa thu nhập của gia đình và việc chọn học đại học của con
4.3 Kiểm tra đa cộng tuyến
Khi các biến giải thích bị đa cộng tuyến, suy diễn thống kê trở nên không vững, đặc biệt là khi có cộng tuyến gần hoàn hảo Vì vậy, nhóm nghiên cứu sẽ kiểm tra 3 mô hình để đảm bảo không có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra
Qua kết quả kiểm tra đa cộng tuyến tại bảng 4 cho thấy 3 mô hình đều không có hiện tượng
đa cộng tuyến xảy ra