Trong ngành sự kiện với nguồnnhân lực cực kỳ phức tạp này, việc xây dựng bản sắc nghề nghiệp giúp các cá nhân thuộc nhómnghề hiểu rõ được giá trị của họ, mục tiêu nghề nghiệp để trở thàn
Trang 1XÂY DỰNG BẢN SẮC NGHỀ NGHIỆP CỦA NGÀNH QUẢN TRỊ SỰ KIỆN THEO
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN KIẾN TẠO
Nguyễn Phương Trinh - trinhnguyen803.k44@st.ueh.edu.vn ThS Nguyễn Thị Thu Thủy - thuyntt@ueh.edu.vn Viện Du lịch, Đại học Kinh tế Tp HCM
Tóm tắt:
Quản lý sự kiện là một lĩnh vực nghiên cứu ứng dụng và thực hành chuyên nghiệp dànhcho việc thiết kế, sản xuất và quản lý các sự kiện đã được lên kế hoạch, bao gồm đa dạng cácloại hình sự kiện như lễ hội, lễ kỷ niệm, giải trí, vui chơi, chính trị, khoa học, thể thao, nghệthuật; các sự kiện kinh doanh và sự kiện đời sống (Getz, 2008) Trong ngành sự kiện với nguồnnhân lực cực kỳ phức tạp này, việc xây dựng bản sắc nghề nghiệp giúp các cá nhân thuộc nhómnghề hiểu rõ được giá trị của họ, mục tiêu nghề nghiệp để trở thành một nhóm thống nhất cùnghướng về một mục tiêu, (Skorikov và Vondracek, 2011) Để đóng góp vào những nỗ lực để xácđịnh bản sắc nghề sự kiện, nghiên cứu này được thực hiện nhằm xem xét cách mà các thành viên
mô tả về nghề nghiệp của họ dựa trên hiểu biết được ngữ cảnh hóa cho phép phân tích sâu cácyếu tố thúc đẩy và hạn chế quá trình xây dựng bản sắc nghề nghiệp Những kiến thức đó có thểgiúp cải thiện các hướng dẫn nghề nghiệp dựa trên sự xác định mức độ phù hợp với ngành đồngthời giải quyết nội bộ về tình trạng sai lệch nghề nghiệp
Từ khóa: Bản sắc nghề nghiệp ngành sự kiện, phương pháp tiếp cận kiến tạo, nguồn nhân lực không đồng nhất, nguồn nhân lực ngành sự kiện.
1. Đặt vấn đề
Trong thế giới hiện đại, nghề nghiệp thường được coi không chỉ là nguồn thu nhập chính
mà còn là cơ chế chính của sự hội nhập xã hội và là phương tiện để phát triển và thể hiện bản sắccủa một người (Christiansen, 1999) Ngành tổ chức sự kiện được đánh giá là một ngành côngnghiệp vô cùng rộng lớn và đa dạng đang phát triển với tốc độ nhanh và mạnh, nó đang ngàycàng nhận được sự quan tâm trên toàn thế giới Các sự kiện lớn như Thế Vận hội Olympic vàWorld Cup đã nhận được mức độ phủ sóng của các phương tiện truyền thông khiến cho tất cảmọi người rất khó để bỏ qua Cùng với sự phát triển đó, ngày càng có nhiều cơ sở giáo dục đạihọc cấp bằng quản lý sự kiện với tư cách là một nhóm nghề nghiệp, (Fletcher, Dunn & Prince,2009) Sự tăng trưởng về số lượng các nghiên cứu, diễn ngôn, hội nghị và các chương trình đàotạo và giáo dục cấp cao học, bao gồm cả tiến sĩ đã dẫn đến các sự kiện diễn ra tốt hơn, an toànhơn, thường bền vững hơn và có thể dễ dàng đáp ứng các mục tiêu đã nêu cho sự kiện (Brown,2014) Trên các trang báo chí thương mại, các thuật ngữ như “chuyên gia tổ chức sự kiện” vànhận thức về các sự kiện như một “ngành công nghiệp chuyên nghiệp” (Eyerman, 2001) đượcnâng cao Tuy nhiên, các chuyên gia tổ chức sự kiện vẫn gặp khó khăn trong việc nâng cao vị thế
Trang 2nghề nghiệp của họ Cũng có ít sự xem xét nghiêm túc về vấn đề này, ví dụ như các bằng chứngthực nghiệm tồn tại để cung cấp cái nhìn sâu sắc về cái gì và cách thức xây dựng bản sắc chuyênnghiệp của sự kiện, bất chấp các yêu cầu điều tra sâu hơn về chuyên nghiệp hóa ngành sự kiện(Brown, 2014) Vì thế, những người làm nghề tổ chức sự kiện cần phải cùng nhau tưởng tượng
và xác định lại, ngoài sự thích nghi, chúng ta là ai và điều gì quan trọng với chúng ta với tư cáchmột nhóm nghề nghiệp
Các nỗ lực nghiên cứu trong quá khứ chủ yếu xem bản sắc nghề nghiệp như một công cụquan trọng để đạt được kết quả nghề nghiệp mong muốn ( ví dụ Fugate và cộng sự, 2004) hơn lànhững gì thực tế đang diễn ra trong nghề quản trị sự kiện Cách tiếp cận này được cho là lãng phíthời gian vì nó không làm gì để chúng ta hiểu được ý nghĩa của một ngành nghề và nó cũngkhông thể áp dụng hoàn toàn cho các loại hình kinh doanh hiện đại được mô tả là không ổn định,
mơ hồ và đôi khi mâu thuẫn Ngoài ra, các quan điểm 'hướng nội' - quan điểm về tổ chức vànhân viên cho đến nay vẫn bị bỏ qua phần lớn trong lĩnh vực nghiên cứu sự kiện (ví dụ: Mair &Whitford, 2013) Sự thiếu sót này đã được nhấn mạnh bởi Ashcraft (2013) cho rằng “ chúng tôichú ý nhiều đến cách mọi người xây dựng các đặc điểm chính, đặc biệt và lâu dài của các tổchức” nhưng lại giành ít sự quan tâm cho “ cách các tổ chức làm điều đó với tư cách là mộtchuyên gia trong nghề nghiệp của họ” Ngoài ra, các tài liệu hiện có đã không tính đến sự đadạng đáng kể trong các lực lượng lao động sự kiện Mọi câu chuyện đều khác nhau là sự giảithích cho một bối cảnh thực tế phức tạp với nhiều yếu tố thúc đẩy và hạn chế khác nhau dựa trênbối cảnh khác nhau Do đó, để lấp đầy khoảng trống này, nhóm tác giả muốn làm sáng tỏ cácquan điểm của những người làm việc trong lĩnh vực quản lý sự kiện phức tạp và đang phát triển
về việc liệu họ có coi lĩnh vực của mình là một nghề hay không hay những đặc điểm nào cấuthành bản sắc nghề nghiệp quản lý sự kiện và tác động của những môi trường trong quá trình xâydựng nên bản sắc đó Và để phù hợp với quan điểm “tự mô tả” nghề nghiệp thay vì các đặc điểmkhách quan hướng dẫn hành vi nghề nghiệp, bài nghiên cứu tập trung vào các bản mô tả chủquan trong việc xây dựng bản sắc và tạo ra ý nghĩa mà bỏ qua các tác động qua lại giữa các khíacạnh hay vai trò kết hợp chúng đối với công việc và các kết quả liên quan đến nghề nghiệp
tự xác định mình trong vai trò nghề nghiệp” ( Ibarra, 1999)
Các mô hình bản sắc nghề nghiệp trước đây được xây dựng theo phương pháp truyềnthống đều có những tiêu chí tương tự nhau Chúng nhấn mạnh một khối kiến thức đặc biệt cấpcho người hành nghề thẩm quyền chuyên môn; tận dụng giáo dục mở rộng để đạt được thẩm
Trang 3quyền chuyên nghiệp; công nhận vai trò quan trọng của một tổ chức nghề nghiệp đại diện, nângcao và đặt ra tiêu chuẩn cho nghề nghiệp; và thừa nhận vai trò thiết yếu của đạo đức trong việcxây dựng nghề nghiệp, (J C Dean, 1995; Flexner, 1915; Greenwood, 1957)
Một nghiên cứu dễ hiểu hơn của Abbott (1988) về 130 ngành nghề lâu dài của Mỹ vàAnh đề cập rằng các lĩnh vực trở thành nghề nghiệp khi có một loạt các sự kiện xảy ra Những sựkiện này bao gồm:
• Sự phát triển hoặc sự xuất hiện của một hiệp hội nghề nghiệp
• Cấp phép bởi chính phủ
• Kiểm tra chuyên môn (như tiêu chuẩn đầu vào nghề nghiệp)
• Một trường chuyên nghiệp ( tách biệt với các ngành nghề khác)
• Giáo dục chuyên nghiệp dựa trên đại học
áp dụng hoàn toàn cho các loại hình kinh doanh hiện đại được mô tả là không ổn định, mơ hồ vàđôi khi mâu thuẫn (Gioia và cộng sự, 2000)
Các cuộc tranh luận gần đây về nghề nghiệp và ra quyết định nghề nghiệp đã chứng kiến
sự thay đổi mô hình từ các định nghĩa khách quan trong bối cảnh của quan điểm thực chứng (tậptrung vào những điểm tương đồng ổn định, có thể đo lường được) sang quan điểm kiến tạo, trong
đó nhấn mạnh đến ý thức chủ quan và xây dựng dựa trên thực tế xã hội ( LaPointe, 2010;
Savickas, 2005) Quan điểm kiến tạo (Constructivist approach) cho rằng bản sắc nghề nghiệp
được xây dựng một cách chủ quan thông qua “ tự thuật” ( Gergen, 1991) và “ tự xây dựng”(Guichard 2009), được đúc kết từ sự hiểu biết, kinh nghiệm và trải nghiệm cá nhân trong quákhứ (LaPointe, 2010), bao gồm con đường phát triển sự nghiệp của cá nhân (Del Corso vàRehfuss, 2011; Savickas, 2005) Qua đó, các cá nhân tự nhận thức, đánh giá các chuẩn mực, quytắc, giá trị tập thể và cung cấp một khuôn hình mẫu cho các hành vi và vai trò cụ thể của nhómnghề nghiệp (Pratt, Rockmann, và Kaufmann, 2006) Nó giải đáp lời kêu gọi xem xét các ý nghĩađược gán cho các cột mốc nghề nghiệp, nó kết nối các vấn đề cấp vĩ mô dựa trên những hiểu biếttheo ngữ cảnh để diễn giải và phản biện các đặc thù nghề nghiệp
Trang 4Về mặt lý thuyết, sự phát triển bản sắc nghề nghiệp được hình thành bởi các hoạt động vàtrải nghiệm của một người và nhiều yếu tố cá nhân (ví dụ: tính cách và giới tính) và bối cảnh (vídụ: gia đình, nhóm đồng đẳng, điều kiện xã hội và kinh tế), cũng như sự tương tác của họ(Skorikov & Vondracek, 2007) Điều quan trọng là các cá nhân phải liên kết “tôi là ai” với “nơitôi thuộc về” (Tajfel và Turner, 1985) để hình thành khái niệm “chúng tôi là ai” (Kreiner và cộng
sự, 2015) với tư cách một nhóm nghề nghiệp Ví dụ: ngay cả khi các sĩ quan cảnh sát có thể cónhững trải nghiệm khác nhau trong quá trình làm việc của họ hoặc trong những bối cảnh khácnhau (ví dụ, các khía cạnh khác nhau của công tác trị an như giao thông, điều tra, tuần tra khuphố, v.v.), họ vẫn chia sẻ sự hiểu biết tập thể mạnh mẽ về thế nào là một cảnh sát Để làm đượcđiều đó, các cá nhân chủ quan khám phá các trải nghiệm nghề nghiệp và các tương tác rời rạccủa họ với những người khác – đồng nghiệp, khách hàng và những người khác ngoài ngành(Pratt, 2012) để xác định và chia sẻ những cái chung
Một bài nghiên cứu gần đây của Bayerl và cộng sự (2018), thay vì bắt đầu với sự phânloại về vai trò chuyên môn của một cá nhân, họ đã phân tích nội dung của 7545 bản mô tả về bảnthân trong hai ngành nghề cảnh sát và nghiên cứu thị trường Tự mô tả nghề nghiệp là biểu hiệncủa việc hình thành ý thức, khuôn khổ theo nhóm, tức là “ ấn định các đặc điểm chung”, nhưngđồng thời những bản tự mô tả này được cung cấp bởi các cá nhân và do đó cũng phản ánh nhậnthức vị trí của họ trong nghề nghiệp và trải nghiệm của chính họ Thông qua quá trình tổng hợp
và phân tích, họ xác định năm chủ đề phổ biến được nhận thức về nghề nghiệp của họ, bao gồm:con người – đặc điểm của những thành viên trong nghề; công việc – đặc điểm của công việc màcác thành viên trong nghề làm; môi trường – đặc điểm của môi trường bên trong và bên ngoài;giá trị - ý nghĩa hoặc giá trị của nghề đối với các thành viên của nó và bản thân nghề nghiệp –các đặc điểm của nghề nghiệp Tổng quan về các chủ đề được thể hiện trong Hình 1 phần phụ lụccủa bài nghiên cứu này Mặc dù mỗi câu chuyện nghề nghiệp chắc chắn là duy nhất, nhưng đây
là kết quả của những trải nghiệm đặc trưng của nghề nghiệp được sử dụng để xây dựng câuchuyện Quan sát của Bayerl và cộng sự ( 2018) cũng lưu ý rằng các khung dựa trên nội dungcủa sự hiểu biết tập thể mang tính đặc thù nghề nghiệp cao Nó cung cấp cơ sở để hình thành ýthức về “ai là” hoặc “ai nên trở thành” một thành viên của một nghề nghiệp do đó, có thể xácđịnh rõ ràng hơn cách phân định giữa trong và ngoài nhóm Theo quan điểm này, với các nghềkhông rõ ràng, chẳng hạn như Quản trị sự kiện, “ tự thuật” cung cấp không gian cho tiếng nóiđầy nhiệt huyết và cam kết của các chuyên gia tổ chức sự kiện nhằm tác động đáng kể đến việctạo ra các bản sắc nghề nghiệp mới đối với công chúng và xóa bỏ những nhận thức không chínhxác, được xây dựng trên góc nhìn khách quan về Quản trị sự kiện
2.1.2 Trạng thái bản sắc
Trang 5Trái ngược với cách tiếp cận truyền thống có xu hướng xem bản sắc là những gì cố định và
ổn định, cách tiếp cận này cho rằng bản sắc có tính chất linh hoạt và không chắc chắn, không chỉ
ở khía cạnh con đường sự nghiệp (Pratt và công sự , 2006) mà còn ở các khía cạnh khác như sựphát triển theo bối cảnh hoặc lịch sử (Godfrey và cộng sự , 2012) Ibarra (1999) cũng nói rằng
“việc xây dựng bản sắc không chỉ là một quá trình tạo ra bản thân mong đợi mà còn là một quátrình trong đó mọi người chọn lọc và loại bỏ những khả năng mà họ đã xem xét.” Điều này chỉ raquyền tự chủ của các chuyên gia sự kiện trong việc tự điều chỉnh bản sắc của họ
Nhận thức được tầm quan trọng của tính tự chủ và tính linh hoạt trong việc khám phá cácvấn đề bản sắc, đã tạo thêm động lực để Skorikov và Vondracek (2007) mở rộng mô hình trạngthái nhận dạng dựa trên mô hình trạng thái ban đầu của Marcia (1966) Mô hình trạng thái mởrộng được trình bày ở phần phụ lục của bài nghiên cứu này, mô tả bản sắc nghề nghiệp Đạt được
(Occupation identity Achievement) như một cam kết mạnh mẽ đối với các mục tiêu nghề nghiệp
tự chọn và các giá trị có được thông qua khám phá nghề nghiệp Bản sắc này, sẽ không bị ảnhhưởng nhiều bởi những thay đổi đột ngột của môi trường hay bởi những trách nhiệm bất ngờ
Ngược lại, Bản sắc nghề nghiệp Cưỡng đoạt (Occupation identity Foreclosure) đặc trưng bởi
cam kết nghề nghiệp được thực hiện mà không có nhiều sự khám phá về nghề nghiệp và bảnthân, mà tiếp nhận thụ động một bản sắc áp đặt Khi phải đối mặt với những tình huống mànhững niềm tin của bản sắc áp đặt này không phù hợp khả năng cao sẽ dẫn đến “đứt gãy” bản
sắc Bản sắc nghề nghiệp Tạm hoãn (Occupation identity Moratorium) đại diện cho một quá
trình tích cực khám phá và khủng hoảng và tạm thời không có khả năng thực hiện cam kết nghề
nghiệp lâu dài Bản sắc nghề nghiệp Phổ biến (Occupation identity Diffusion) được đặc trưng bởi
sự thiếu thăm dò hiệu quả và không có khả năng thực hiện cam kết, bất kể người đó đã trải qua
một giai đoạn khủng hoảng hay chưa Bản sắc nghề nghiệp năng động (Dynamic occupation identity) giả định trạng thái nhận dạng được đặc trưng bởi các lựa chọn được cập nhật liên tục, năng động và linh hoạt hơn là một cam kết tĩnh (Static occupation identity).
2.2 Nguồn nhân lực ngành quản trị sự kiện
Giống như ngành khách sạn và lữ hành, tổ chức sự kiện cũng là một lĩnh vực phụ thuộcnhiều vào vốn con người (Deery, 2009) Các sự kiện theo định nghĩa là "không thường xuyên",đòi hỏi lực lượng lao động lớn, thường là tạm thời, kết hợp với nhau trong một khoảng thời gianngắn Sự bất thường này tạo ra một loạt các vấn đề về nguồn nhân lực, đặc biệt là đối với nhữngdoanh nghiệp tổ chức sự kiện quy mô vừa và nhỏ, với số lượng tối thiểu nhân viên toàn thời giandựa vào việc tuyển dụng bán thời gian hay nguồn nhân lực tạm thời ( Van der Wagen and White,2015)
Liên quan đến ngành sự kiện, rõ ràng là nguồn nhân lực sự kiện bao gồm mức độ khôngđồng nhất cao; tính không đồng nhất về chức năng, nhiệm vụ (Jackson, 1996) có thể cao hơn khi
so sánh với các tổ chức khác, truyền thống hơn và có định hướng lâu dài hơn, phát sinh cũng do
Trang 6các hình thức hợp đồng khác nhau của nguồn nhân lực sự kiện Bao gồm công việc toàn thờigian và bán thời gian trong dài hạn, nhân viên ngắn hạn không thường xuyên, tình nguyện viênđịnh kỳ và tình nguyện viên lâu năm, cũng như nhân viên thuê ngoài, tất cả họ đều có trình độchuyên môn, kinh nghiệm làm việc, động lực và các mối quan hệ khác nhau Do đó, họ sẽ có sự
mô tả nghề nghiệp và sự hài lòng trong công việc khác nhau, đặt ra thách thức lớn cho việc xâydựng bản sắc nghề nghiệp, trong đó, cá nhân liên kết động cơ và năng lực của mình với các vaitrò nghề nghiệp được nhận thức (Meijers, 1998)
3. Thực trạng
Với những hạn chế về thời gian, khả năng của nhóm tác giả và sự phức tạp của yếu tố conngười bao gồm giới tính, tính cách, mối quan hệ gia đình, bạn bè và bối cảnh, điều kiện sống nênbài nghiên cứu chỉ tập trung khai thác yếu tố các môi trường ngữ cảnh tác động đến quá trình xâydựng bản sắc nghề nghiệp
Skorikov và Vondracek (2011) cũng đã mô tả bản sắc nghề nghiệp được định hình bởi
“những thay đổi định tính và định lượng trong cấu trúc và hình thức nhận dạng với vai trò củangười lao động xảy ra do sự tương tác trong quá trình học tập và phát triển của năng lực củangười đó thông qua các hoạt động nghề nghiệp, giáo dục và giải trí.” Ngoài ra, quá trình xâydựng bản sắc nghề nghiệp của một người bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ có liên quan và cácyếu tố xã hội rộng lớn hơn, chẳng hạn như các chuẩn mực và kỳ vọng của xã hội cũng như sựthay đổi kinh tế và công nghệ Do đó, bài nghiên cứu tập trung vào phân tích ba môi trường đượccho là chính yếu trong cuộc sống của mỗi cá nhân, bao gồm: môi trường giáo dục chuyênngànhấp đại học, môi trường thực hành nghề nghiệp và môi trường xã hội
3.1 Môi trường xã hội
Các nghiên cứu trước đây thừa nhận rằng kinh nghiệm tập thể và thế giới xã hội xungquanh chúng ta tác động và đồng hình thành sự hiểu biết cá nhân Ví dụ, những quan sát khôngchính thức về hành vi và thái độ làm việc của các thành viên trong gia đình, kỳ vọng của xã hội
và khuôn mẫu văn hóa, và các phương tiện thông tin đại chúng dần dần định hình ý nghĩa cánhân của công việc và khi trưởng thành, một hệ thống sở thích nghề nghiệp tương đối ổn định cóthể được thiết lập Ashforth và cộng sự (2016) cũng cho rằng mối quan hệ giữa sự hiểu biết củabản thân và sự xác nhận của người khác về vai trò chuyên môn là then chốt để tạo điều kiệnthuận lợi cho các đánh giá tích cực và tiêu cực trong quá trình các cá nhân xây dựng bản sắcnghề nghiệp
Picard và Robinson (2006) cho rằng “một hiện tượng đáng lo ngại là sự kiện văn hóa nghệthuật đang ngày càng được sử dụng như những công cụ để phát triển kinh tế và xã hội (ví dụ: táitạo, phúc lợi cộng đồng, du lịch) hơn là chính bản thân nó” Vì suy cho cùng, đánh giá kinh tế làthước đo duy nhất và rõ ràng nhất về tác động hoặc giá trị của những lễ hội và sự kiện Và vẫn
Trang 7chưa có một phương pháp phù hợp để xác định và đánh giá các tác động văn hoá - xã hội, vì bảnchất vô hình của nó, chúng rất khác nhau và phức tạp để đo lường Để lấy một ví dụ cụ thể, việctreo tranh lên tường là việc của một phòng tranh, nhưng họ không phải là người xác định điều gì
sẽ xảy ra tiếp theo Họ không thể và không nên yêu cầu 40% người xem phải có trải nghiệm vềmặt tinh thần trước nó (Holden 2004) Nó tạo ra rào cản trong cách các lễ hội và sự kiện quy môvừa và nhỏ này xác định giá trị của nó
Hơn nữa, khách hàng ngày càng mong đợi nhiều giá trị hơn cho số tiền của họ Khi kháchhàng ngày càng hiểu biết về công nghệ, họ mong đợi ánh sáng và âm thanh tốt hơn, thiết bị hỗtrợ hình ảnh tốt hơn và màn hình lớn hơn cho các bài thuyết trình powerpoint Công nghệ đãđược công nhận là rất quan trọng để định hình và nắm bắt trải nghiệm trước, trong và sau sựkiện, và các nhà quản trị sự kiện đã phải điều hướng các chương trình và ứng dụng kỹ thuật cao
để tối đa hóa thiết kế sự kiện, mạng và phản hồi tại chỗ và trực tuyến ( Martin và Cazarre, 2016).Không rõ về những thay đổi có thể xảy ra trong công việc họ làm, có thể sẽ cần có thêm những
kỹ năng mới để lập kế hoạch và quản lý sự kiện ảo hay chú ý nhiều hơn đến tiêu chuẩn đảm bảo
an toàn và sức khỏe, nó có thể dẫn đến suy yếu các cơ sở kiến thức và kĩ năng chuyên môn haythay đổi giá trị nghề nghiệp Những điểm mơ hồ này về tương lai đặt ra các áp lực cho các cánhân trong quá trình tùy chỉnh bản sắc của họ
3.2 Môi trường giáo dục chuyên ngành
Sự phát triển của quản lý sự kiện cũng được tạo điều kiện bởi các cơ sở giáo dục và hiệphội nghề nghiệp cung cấp các bằng cấp quản lý sự kiện chuyên nghiệp Tuy nhiên, các hiệp hội
có xu hướng tập trung vào các loại sự kiện cụ thể để tách biệt những sự kiện khác, cụ thể là sựtách biệt rõ ràng của các tổ chức dành cho lĩnh vực hội họp và hội nghị, với các lĩnh vực khác làcác lễ hội và 'sự kiện đặc biệt' Ví dụ, Hiệp hội Sự kiện Trực tiếp Quốc tế (ILEA), tên cũ là Hiệphội Sự kiện Đặc biệt Quốc tế (ISES) đưa ra Chứng nhận Chuyên gia Sự kiện Đặc biệt (CSEP).Hiệp hội Sự kiện và Lễ hội Quốc tế (IFEA) cung cấp chương trình Chứng nhận Điều hành sựkiện và Lễ hội (CFEE) Tổ chức Chuyên gia Cuộc họp Quốc tế (MPI) cung cấp Chứng chỉ ưu tú
về Quản lý Cuộc họp (CMM) Một bài nghiên cứu của Nelson và Silvers (2009) đã kiểm tra các
mô tả khóa học được sử dụng trong 122 cơ sở giáo dục Các khoá học được cung cấp chủ yếuthuộc loại sự kiện Hội họp/ Hội nghị Rõ ràng là các phân đoạn lập kế hoạch Hội họp và Hộinghị của ngành được công nhận rộng rãi, trong khi các thể loại sự kiện như họp báo, khuyếnkhích, triển lãm thương mại, sự kiện hiếu khách, các sự kiện khác của công ty hay các sự kiện từthiện, phi lợi nhuận được xem là kém nổi tiếng về tên gọi và chỉ được đề cập đến trong một vàichương trình du lịch Các sự kiện thể thao hầu như chỉ được đề cập trong các chương trình tậptrung vào giải trí Việc tập trung vào một khía cạnh để loại trừ các khía cạnh khác sẽ dẫn đếnkiến thức không đầy đủ hoặc rời rạc về cách các thành viên trong nghề mô tả và cảm nhận về bảnthân họ
Trang 8Ngoài ra, hầu hết các khóa học dựa trên quản lý sự kiện dường như mang tính chất giớithiệu thay vì toàn diện và chuyên sâu (Nelson và Silver, 2009) Mặc dù sự hiểu biết về khuônkhổ các chức năng liên quan đến quản lý sự kiện được cung cấp, nhưng nó có thể không đượcchuẩn bị phù hợp cho người học cách để thực hành những chức năng này Ví dụ, sinh viên đượckhuyến khích rèn luyện kỹ năng giao tiếp qua các bài tập nhóm hay kỹ năng tư duy và giải quyếtvấn đề qua các bài tập phân tích tình huống Nhưng dường như vẫn chưa có sự thống nhất trongcác cách ứng dụng phương pháp này, và các giảng viên thường lựa chọn các phương pháp khácnhau phù hợp với nội dung bài giảng hay phong cách giảng dạy của họ Và vì thiếu các trảinghiệm công việc thực tế, do đó, sinh viên thường không nhận thức được tính cần thiết củanhững thuộc tính này và dẫn đến việc khó tiếp nhận hay chỉ đơn giản là tiếp nhận một cách miễncưỡng Bên cạnh đó, ngay cả khi tiếp nhận được những thuộc tính này, thì vẫn có ít các cơ hộithực hành cho sinh viên để bồi dưỡng một cách lâu dài và vững chắc.
Trong khi các trường đại học “được khuyến khích tạo mối liên kết và quan hệ đối tácmạnh mẽ hơn với ngành công nghiệp và các ngành nghề”, thì “các chuyên gia trong nhiều trườnghợp không thực hiện chuyển đổi sang học viện một cách dễ dàng hoặc thoải mái” (Houston vàBrown, 2012) Các bài nghiên cứu đã được bình duyệt khó có thể được truy cập và đọc, đơn giảnbởi vì người hành nghề chuyên nghiệp không biết về các tạp chí đã xuất bản tác phẩm đó và bởi
vì những người hành nghề chuyên nghiệp không có nhu cầu tham gia học thuật vào theo bất kỳcách nào (Houston và Brown, 2012) Tương tự, trong khi người hành nghề chuyên nghiệp thamgia vào nghiên cứu sâu rộng, nó khó có thể được ghi lại và gần như chắc chắn sẽ không bao giờđược xuất bản, vì nó là một phần của quá trình thử và sai trong hoạt động nghề nghiệp của họ.Rằng bài viết này chủ yếu được tham chiếu đến như các ghi chép hơn là nghiên cứu và cung cấpthực hành nghề nghiệp của người hành nghề hơn là phân tích dữ liệu định lượng thông qua đabiến hoặc một số phương pháp thống kê khác có lẽ là minh chứng cho sự khác biệt giữa các thếgiới khác nhau của nhà nghiên cứu hàn lâm và nhà thực hành nghề chuyên nghiệp (Simendinger,Puia, Kraft, và Jasionary, 2000)
3.3 Môi trường thực hành nghề nghiệp
Các phát hiện trong nghiên cứu của Hotho (2008) về các ngành nghề và cấu tạo bản sắcnghề nghiệp, đã cho rằng các cá nhân chuyên gia có thể là tác nhân thay đổi để xác định bản sắcnghề nghiệp của họ
Nghiên cứu của Trung tâm Phát triển Dạy nghề Châu Âu (CEDEFOP, 1998) cũng đã chỉ
ra, lĩnh vực này có nhiều vai trò và chức danh công việc khác nhau, chẳng hạn như quản lý lễhội, quản lý sự kiện, người tổ chức cuộc họp, điều phối viên hội nghị, người tổ chức sự kiện củacông ty, giám đốc chương trình , nhà tiếp thị sự kiện, v.v Các chức danh của công việc – vớinhiều hoặc ít các nhiệm vụ giống nhau – có thể khác nhau không chỉ theo quốc gia mà đôi khi cóthể khác nhau giữa các doanh nghiệp Từ đó thể hiện sự không nhất quán trong thuật ngữ của
Trang 9ngành, hệ thống kiến thức hay bằng chứng khác công nhận trình độ chính thức của ngành sựkiện Về vấn đề công nhận trình độ trong ngành, các nghiên cứu cho thấy các bằng cấp ảnhhưởng đáng kể đến nhận thức về sự công nhận kỹ năng của họ trong quá trình xây dựng bản sắc (Slay và Smith, 2011) EIC và MPI cũng tuyên bố rằng việc nhận được chứng chỉ của họ giúp các
cá nhân trong việc thăng chức và tăng lương Nó tạo ra ý nghĩ rằng các chứng chỉ chuyên mônnày rất quan trọng để có được sự công nhận như một “ chuyên gia nghề nghiệp” và nâng cao cơhội nghề nghiệp của họ Sự khác biệt về chứng chỉ giữa các chuyên gia gây ra mối đe dọa chotập thể trong một ngành công nghiệp vốn đã phân mảnh bằng cách tạo ra tâm lý “chúng tôi” sovới “họ” (Rees và Monrouxe, 2018) Hơn nữa, bản thân lĩnh vực quản lý sự kiện không yêu cầugiấy phép, bằng cấp hoặc chứng nhận đối với các cá nhân để được coi là người quản lý sự kiện(Jimenez, 2015) Vì các bằng cấp không phản ánh được thực tế của thị trường việc làm và đưa ramột bức tranh không đầy đủ về các ngành nghề có tốc độ thay đổi ngày càng nhanh với nhu cầucập nhật liên tục trong trình độ nghề
Sự không rõ ràng và nhất quán làm hạn chế khả năng của các cá nhân trong việc xác định
sự phù hợp giữa bản thân với vai trò nghề nghiệp, dẫn đến sự “ đứt gãy” của bản sắc nghề nghiệp
và hạn chế sự phát triển của nghề nghiệp Và những hướng dẫn không rõ ràng, các kỳ vọngkhông được xác định rõ có thể sẽ dẫn đến gia tăng sự xung đột vốn đã tồn tại trong nguồn nhânlực không đồng nhất Goldblatt (2000) cũng nhận ra những khó khăn phải đối mặt trong việcchuyên nghiệp hóa ngành sự kiện khi ông nói rằng: “Nghề quản lý sự kiện đã tạo ra một môitrường khó hiểu, thiếu uy tín như so với các nghề khác, và có lẽ, gây bất lợi cho nó tăng trưởngdài hạn ”, sự thống nhất và ý thức chung về mục đích vẫn chưa xuất hiện
4. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp luận câu hỏi tường thuật Trọng tâm của nghiêncứu tường thuật là “sắp xếp sự rối loạn” bằng cách cho phép mọi người chia sẻ những câuchuyện về các sự kiện trong cuộc sống và cung cấp ý nghĩa cho chúng (Murray, 2015) Nhữngcâu chuyện mang đến cơ hội cho các cá nhân giải thích và mô tả ý nghĩa cho bản sắc của họ Vềvấn đề này, phân tích tường thuật đặc biệt thích hợp để nghiên cứu nghề nghiệp (LaPointe, 2010)cung cấp một công cụ phân tích để khám phá cách các cá nhân xác định nghề nghiệp của chính
họ và hiểu cách họ nhận ra và xác định lại bản sắc bằng cách kể lại các trải nghiệm cá nhân và xãhội của họ (Slay và Smith, 2011) Hơn nữa là các cấu trúc cuộc sống của các cá nhân là khácnhau, và cách cá nhân nhìn nhận về mọi thứ thay đổi theo thời gian, không gian và bối cảnh xãhội Do đó, cách tiếp cận tường thuật đã được cho là đặc biệt phù hợp để kiểm tra sự phong phú
và mơ hồ của các trải nghiệm sống (Riessman, 2008)
4.1 Mẫu nghiên cứu
Bài nghiên cứu tập trung vào ba đối tượng phản ảnh cho ba môi trường mà cá nhân thamgia: những người ngoài ngành, sinh viên và những chuyên gia tổ chức sự kiện Sự lựa chọn của
Trang 10ba nhóm đối tượng này đã tối đa hoá sự khác biệt theo mức độ tiếp xúc với nghề nghiệp, từ cáinhìn tổng quát đến chuyên sâu Bài nghiên cứu tổng hợp tổng cộng 60 bản mô tả, được phânthành 3 bộ dữ liệu: Bộ dữ liệu đầu tiên bao gồm 24 sinh viên theo học ngành sự kiện và 25 đốitượng ngoài ngành tham gia trong bộ dữ liệu thứ hai Bộ dữ liệu thứ ba bao gồm 11 chuyên gia tổchức sự kiện, trong đó có 3 đối tượng chưa qua các khoá học đào tạo về ngành sự kiện tại các cơ
sở giáo dục Danh sách những đối tượng chuyên gia tổ chức sự kiện tham gia phỏng vấn đượctrình bày ở phần phụ lục Mẫu nghiên cứu với nhiều bối cảnh khác nhau tạo nên một bộ dữ liệu
đa dạng và phong phú cho các phân tích sâu của bài nghiên cứu
4.2 Phương pháp thu thập dữ liệu
Trong bài nghiên cứu này, đối với đối tượng chuyên gia tổ chức sự kiện, là đối tượng quyếtđịnh trong việc xây dựng bản sắc nghề nghiệp mà bài nghiên cứu muốn tập trung nỗ lực phỏngvấn, những người tham gia được hướng dẫn để điền 20 câu trả lời vào chỗ trống cho câu hỏi “Anh/chị mô tả nghề quản trị sự kiện như thế nào?” Đây là bài kiểm tra thường được sử dụng đểnắm bắt danh tính, thu thập thông tin dạng văn bản phi cấu trúc (Kuhn và McPartland, 1954).Bên cạnh đó, câu hỏi bổ trợ được đưa ra “ Anh/ chị tự hào về điều gì khi là một thành viên củangành quản trị sự kiện?” để tìm hiểu cách họ liên kết bản thân với nghề nghiệp của họ Đúng vớitinh thần của bài kiểm tra, người tham gia được tự do phát biểu ý kiến của họ, có nghĩa là câu hỏikhông đưa ra giới hạn về số lượng từ, loại câu, giá trị hay nội dung
Dữ liệu từ các đối tượng sinh viên và những người ngoài ngành sự kiện, những đối tượngnày được xem là chưa có nhiều cơ hội trải nghiệm tiếp xúc với công việc thực tế và số lượngmẫu khá hạn chế, do đó, thử nghiệm 20 câu có thể hạn chế chiều sâu của thông tin mà bài báonày muốn khai thác Nhóm tác giả đã xây dựng bảng câu hỏi dựa trên khung lý thuyết các chủ đềnổi bật trong các bản mô tả được tổng hợp bởi Bayerl và cộng sự (2018) Các câu hỏi chi tiết sẽđược trình bày ở phần phụ lục của bài nghiên cứu này
4.3 Phương pháp phân tích dữ liệu
Như Murray đã chỉ ra (2015), quá trình phân tích tường thuật không thụ động; nhà nghiêncứu phải nhận thức được các giả định và niềm tin mà họ chắc chắn áp đặt vào một phân tích Vì
lý do này, nhà nghiên cứu và người được phỏng vấn trở thành người đồng sáng tạo trong việc kểlại câu chuyện của người được phỏng vấn
Bài nghiên cứu đã sử dụng phương pháp quy nạp, phân tích văn bản với các chu kỳ lặp lại
mã hóa và xác nhận chéo giữa các bộ dữ liệu theo quy trình do Miles và Huberman (1994) đềxuất, để xác định các đặc điểm chung và các đặc điểm khác nhau trong phần tự mô tả, đồng thờicũng để đảm bảo rằng các câu trả lời được mã hóa giống nhau và tương đương về mặt ngữ nghĩa,
có nghĩa là chúng mang cùng một ý nghĩa bất chấp các biến thể ngữ pháp hoặc biến thể trongcách lựa chọn từ Khung mã hóa diễn giải tập trung vào cách xây dựng bản sắc nghề nghiệp,cách người tham gia mô tả công việc của họ, cách họ diễn giải nhận thức của người khác về công
Trang 11việc của họ, cách nghề nghiệp ảnh hưởng đến cách họ đánh giá công việc của họ Tập trung vàotính tự chủ của bản sắc nghề nghiệp đã nêu bật các chủ đề khác nhau giữa các đối tượng bắtnguồn từ cấu trúc cuộc sống phức tạp của các cá nhân
5. Kết quả nghiên cứu
5.1 Môi trường xã hội
Mặc dù, ngành sự kiện được nhìn nhận như một “ công việc sau hậu trường” và nhữngngười ngoài ngành không thể trực tiếp tham gia vào quá trình làm việc hay có các cơ hội để quansát phần lớn công việc, nhưng họ đã có thể đưa ra một hình ảnh tổng thể về ngành sự kiện “đangnhư thế nào” và ngành sự kiện “ có thể làm gì”, ví dụ như tính chất “năng động" xuất hiện lặp đilặp lại, bao gồm cả những biến thể khác của nó, bao gồm “luôn chuyển động”, “luôn đổi mới” và
“ đòi hỏi tính thích nghi” ở các chủ đề con người và môi trường Không chỉ bao gồm những mặttích cực, các bản mô tả còn đề cập đến những vấn đề tiềm năng khi gia nhập ngành như bao gồm
“công việc không ổn định”, “cạnh tranh cao”, “hỗn loạn”, “ đông đúc” và “ tốc độ”, minh chứngcho bức tranh tổng thể về ngành sự kiện của họ Về chủ đề giá trị, những người tham gia mô tảgiá trị “ giải trí” như một “phương thức truyền tải thông tin mới mẻ” để “mang lại lợi ích kinhtế” “ Quảng bá văn hoá” cũng được nhắc đến như một cách để “ thu hút du lịch” và “ tăng lợiích xã hội” Mặc dù xã hội đang nhìn nhận chúng ta như một công cụ thúc đẩy kinh tế nhưngkhông thể phủ nhận việc các giá trị kinh tế mà ngành mang lại này đã giúp ngành xác định vị trícủa mình trong mạng xã hội rộng lớn Nó được thể hiện qua các đánh giá “quan trọng”, “ngàycàng phổ biến” và “ phát triển nhanh” trong các bản mô tả, mặc dù khá mơ hồ nhưng có thể xemđây là sự cộng nhận của xã hội về mức độ quan trọng của nghề nghiệp
Bản sắc này được xây dựng trên những gì họ có thể quan sát được, tức là thông qua những
sự kiện “hướng ngoại”, chú trọng việc tương tác và gắn kết với cộng đồng Như được nhận thấytrong các liệt kê về các loại sự kiện được cung cấp bởi đối tượng này, phổ biến là các “sự kiệngiải trí” như sự kiện thể thao, sự kiện âm nhạc, lễ hội và các “sự kiện quảng bá” như ra mắt sảnphẩm và họp báo có quy mô và thu hút nhiều người Do đó, các nhận xét này được đánh giá nhưmột kỳ vọng và tiêu chuẩn đối với công việc hơn là những gì nó thực sự có Nhìn chung, nhữngđối tượng ngoài ngành này đã có một chia sẻ chung có thể không hoàn toàn đúng nhưng những
mô tả này hình thành lên hình ảnh nghề nghiệp ngành sự kiện trong mắt họ
5.2 Môi trường giáo dục chuyên ngành
Mặc dù có sự khác nhau trong cách các sinh viên mô tả ngành sự kiện, có thể là do trọngtâm giáo dục khác nhau của các cơ sở giáo dục Ví dụ như ở khía cạnh các loại sự kiện, có một
sự không đồng nhất trong cách các sinh viên này phân loại Bao gồm phân loại theo quy mô vàtính chất: sự kiện nhỏ, sự kiện lớn, sự kiện đánh dấu, sự kiện không kế hoạch và sự kiện có kếhoạch; và phân loại theo mục đích: sự kiện giải trí và sự kiện kinh doanh Bên cạnh đó, các liệt
kê về vị trí công việc của các sinh viên tuy rất phức tạp và không thống nhất nhưng hầu hết được