Bên cạnh đó, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là vi phạm trong một lĩnh vực cụ thể nên nó cũng có những điểm khác biệt như: đó là hành vi trái với quy định pháp luật
Trang 1TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN KIẾN THỨC CƠ
BẢN
MÃ MÔN HỌC: GELA220405 LỚP: THỨ 6 TIẾT 1-2
GVHD: TH.S VÕ THỊ MỸ HƯƠNG
Trang 2DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA VIẾT TIỂU LUẬN
Tên đề tài: Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ Lý luận và thực tiễn Kiến thức cơ bản
STT HỌ VÀ TÊN SINH
VIÊN
MÃ SỐ SINH VIÊN
TỈ LỆ % HOÀN THÀNH
Tỷ lệ % = 100%: Mức độ phần trăm của từng sinh viên tham gia
Nhận xét của giáo viên
………
………
………
Trang 3MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Mục tiêu nghiên cứu 6
4 Bố cục đề tài 6
B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 7
1.1 Những khái niệm cơ bản 7
1.1.1 Giao thông 7
1.1.2 Giao thông đường bộ 7
1.1.3 Vi phạm hành chính, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 8
1.1.3.1 Vi phạm hành chính 8
1.1.3.2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 8
1.2 Xử phạt hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 9
1.3 Đối tượng bị xử phạt 10
1.4 Đánh giá chung 11
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM 11
Trang 42.1 Khái quát chung về hệ thống đường bộ tại Việt Nam 11
2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật giao thông đường bộ tại Việt Nam 12
2.2.1 Đối tượng vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ có xu hướng ‘’trẻ hóa’’ 12
2.2.2 Số lượng các vụ vi phạm phát luật giao thông có xu hướng, xong vẫn được coi là ở mức đáng chú ý .13
2.2.3 Hậu quả của vi phạm còn rất nghiêm trọng 13
2.3 QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 13
2.4 Đánh giá chung 15
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 15
3.1 Phương hướng bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 15
3.1.1 Bảo đảm trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 15
3.1.2 Minh bạch hóa xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 17
3.1.3 Bảo đảm sự kiểm soát đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 17
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả xử phạt VPHC 17
C KẾT LUẬN 20
D PHỤ LỤC HÌNH ẢNH 21
E NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO 23
Trang 5A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tai nạn giao thông đã và đang là vấn đề được xã hội quan tâm sâu sắc, mang tínhtoàn cầu và là thách thức lớn của toàn thế giới Theo thống kê của Tổ chức Y tế thếgiới, mỗi năm có 1,3 triệu người chết, 50 triệu người bị thương vì tai nạn giao thôngđường bộ, thiệt hại 1.540 tỷ USD (mỗi ngày thiệt hại 4,2 tỷ đồng) Về kinh tế, tainạn giao thông và ùn tắc giao thông hàng năm làm thiệt hại từ 1% đến 3% GDP chiphí hàng năm của các nước đang phát triển, ước tính vào khoảng trên 100 tỷ USD.Tại Việt Nam, trung bình mỗi ngày trên toàn quốc có 24 người chết, hơn 60 người
bị thương tật suốt đời do tai nạn giao thông, đó là những con số dẫn tới sự ra đờikhái niệm “thảm họa quốc gia” - một cụm từ rất đau xót khi nói tới tình trạng tai nạngiao thông ở Việt Nam hiện nay Tai họa không loại trừ bất kỳ người nào khi đi trênđường và do đó, việc giải quyết không chỉ là trách nhiệm của cơ quan chức năng,
Trang 6mà là ý thức, trách nhiệm của xã hội, của mỗi người Theo số liệu của Ủy ban Antoàn giao thông quốc gia tai nạn giao thông 12 tháng của năm 2020 (tính từ ngày15/12/2019 đến 14/12/2020), toàn quốc xảy ra 14.510 vụ tai nạn giao thông, làmchết 6.700 người, bị thương 10.804 người.
“So với cùng kỳ năm 2019, số vụ tai nạn giao thông giảm 3.111 vụ (giảm 17,6%),
số người chết giảm 924 người (giảm 12,1%), số người bị thương giảm 2.820 người(giảm 20,7%)”, ông Nguyễn Trọng Thái, Chánh văn phòng Ủy ban ATGT Quốc giacho hay
Trong đó, đường bộ xảy ra 8.177 vụ tai nạn giao thông, làm chết 6.575 người, bịthương 4.354 người So với cùng kỳ năm trước giảm 844 vụ, giảm 883 người chết,giảm 700 người bị thương Đường sắt xảy ra 91 vụ, làm chết 71 người, bị thương 23người; đường thuỷ xảy ra 62 vụ, làm chết 44 người, làm bị thương 7 người; hàng hảixảy ra 14 vụ, làm chết 10 người, không có người bị thương
Tính riêng trong tháng 12/2020 (từ ngày 15/11/2020 đến 14/12/2020), cả nước xảy
ra 1.525 vụ, làm chết 652 người và làm bị thương 1.152 người So với tháng cùng
kỳ năm 2019, tai nạn giao thông giảm 237 vụ, giảm 4 người chết, giảm 330 người bịthương Dù số người chết do tai nạn giao thông giảm dần, nhưng số vụ và số người
bị thương vẫn ở mức cao Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nhận thứcđược mối hiểm họa của tai nạn giao thông Để kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giaothông, Quốc hội và Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo để ban hành và sửa đổiluật, các nghị định quy định cũng như thực hiện các biện pháp giải quyết cấp báchphù hợp với tình hình mới Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao do ý thức chấp hành luậtcủa người tham gia giao thông còn thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiệnnay chưa đồng bộ và yếu kém, hiệu lực quản lý nhà nước chưa cao
2 Mục tiêu nghiên cứu
Nắm rõ cái khái niệm cơ bản, tình hình lĩnh vực giao thông đường bộ, từ đó tìm
ra nguyên nhân, khái quát những yếu tố vấn đề tai nạn giao thông đường bộ để
Trang 7tìm ra những biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòngchống những vấn đề giao thông đường bộ nhằm góp phần ổn định tình hình anninh trật xã hội.
3 Phương pháp nghiên cứu
Tra cứu tài liệu, tổng hợp và phân tích thông tin, nghiên cứu và đưa ra những
nhận xét, đánh giá
Vận dụng quan điểm toàn diện và hệ thống, kết hợp khái quát và mô tả, phân tích
và tổng hợp, các phương pháp liên ngành xã hội và nhân văn
4 Bố cục đề tài
Tiểu luận được trình bày với nội dung gồm 3 chương chính:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
Chương 2: Thực trạng xử phạt hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Chương 3: Phương hướng, giải pháp bảo đảm xử phạt hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ
Trang 8B NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ PHẠT HÀNH
CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Giao thông
Giao thông Khi nói đến giao thông là nói đến "việc đi lại từ nơi này đến nơi
khác của người và phương tiện chuyên chở" Theo Từ điển Tiếng Việt thì
đường bộ được hiểu là "Thứ đường đi trên đất liền dùng cho người đi bộ và xe
cộ, nói chung" Theo Luật giao thông đường bộ 2008 định nghĩa "Đường bộ
gồm đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ Lịch sử phát triển
của xã hội loài người có thể nói từ khi còn sơ khai đến xã hội văn minh ngày nay
đều gắn bó chặt chẽ với hoạt động giao thông mà trước hết là giao thông đường
bộ, sau đó phát triển thêm các loại hình giao thông khác như giao thông đường
thủy, giao thông đường sắt, giao thông đường không Giao thông đường bộ là
đòi hỏi tất yếu, cần thiết của quá trình phát triển đời sống xã hội ở mỗi một quốc
gia và vùng lãnh thổ Sự phát triển của giao thông mang tính lịch sử và phụ
thuộc vào trình độ phát triển của kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ nhất định
1.1.2 Giao thông đường bộ
Giao thông đường bộ Giao thông đường bộ là một hiện tượng xã hội có xu
hướng biến động phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Việt Nam mà còn diễn ra hầu
hết các quốc gia trên thế giới giao thông đường bộ và phát triển giao thông
đường bộ đang được xem xét ở nhiều góc độ kinh tế - xã hội, chính trị dưới tác
động của sự phát triển khoa học- kỹ thuật tiên tiến
Trang 9Trên cơ sở của những khái niệm về đường bộ có thể hiểu giao thông đường bộ là
việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện chuyên chở trên
đường, cầu đường bộ, hầm đường bộ, bến phà đường bộ
Khi xem xét giao thông đường bộ với tư cách là một hiện tượng xã hội Dưới
góc độ luật học hiện tượng giao thông đường bộ đang đặt ra những vấn đề pháp
lý như sau:
Thứ nhất, giao thông đường bộ là một trong những nhu cầu thiết yếu của con
người trong xã hội Nhưng bản thân con người không thể thỏa mãn được nhu
cầu của mình đặc biệt là trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội như hiện nay
Như vậy, chỉ có Nhà nước mới có thể có khả năng tổ chức, có tiềm lực kinh tế,
chủ sở hữu đất đai mới có thể xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Tuy rằng ở mức độ nào đó Nhà nước phải huy động sức dân, nhưng trách nhiệm
thuộc nhà nước Trách nhiệm này mang tính pháp lý được quy định trong phần
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước
Thứ hai, các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giao thông đường bộ
luôn là đối tượng điều chỉnh của pháp luật giao thông đường bộ Nhà nước
hướng dẫn và điều chỉnh các quan hệ này để các quan hệ đó diễn ra trong vòng
kiểm soát của luật pháp
Thứ ba, các quan hệ phát sinh trong hoạt động giao thông đường bộ được
thực hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau với những mục đích khác nhau như: kinh
tế, văn hóa - xã hội, quốc phòng an ninh Cũng giống như các loại quan hệ xã
hội khác, giao thông đường bộ cần được chế định hóa, quy phạm hóa và tiến tới
pháp điển hóa và đó chính là lý do cho sự ra đời của các văn bản pháp luật liên
quan đến giao thông đường bộ Luật giao thông đường bộ năm 2008, Nghị định
34/2010/NĐ-CP, Nghị định 71/2012/NĐ-CP, Nghị định 171/2013/NĐ-CP, Nghị
định 107/2014/NĐ-CP, Nghị định 46/2016/NĐ-CP tạo ra khung luật pháp cho
mọi cá nhân, tổ chức tuân thủ
Trang 101.1.3 Vi phạm hành chính, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ
1.1.3.1 Vi phạm hành chính
Pháp luật đặt ra những quy chuẩn để điều chỉnh những quan hệ xã hội trong đời
sống xã hội Người nào làm trái các quy định của pháp luật thì tuỳ vào mức độ
mà bị xử lý cho phù hợp Trong đó, việc vi phạm hành chính xảy ra thường
xuyên nhất
Theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012, vi phạm
hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của
pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của
pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính
1.1.3.2 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Hiện nay vẫn chưa có khái niệm cụ thể đề cập đến vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ với tư cách là vi phạm hành chính cụ thể Hành vi
này ngoài những điểm chung giống với vi phạm hành chính như chủ thể thực
hiện đều là các cá nhân, tổ chức, việc xác định hành vi vi phạm đều phải dựa
vào các yếu tố cấu thành của vi phạm hành chính Các hành vi này là những
hành vi xâm phạm quy định pháp luật về quản lý nhà nước
Bên cạnh đó, vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là vi phạm
trong một lĩnh vực cụ thể nên nó cũng có những điểm khác biệt như: đó là hành
vi trái với quy định pháp luật về giao thông đường bộ, những hành vi đó được
xác định và mô tả là hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự an toàn
giao thông đường bộ Những hành vi của chủ thể này phải gánh chịu những chế
tài xử phạt nhất định
Từ đó, ta có thể đưa ra khái niệm cụ thể về vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ như sau: "vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định
Trang 11của pháp luật về giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải
là tội phạm và theo quy định của pháp luật bị xử phạt hành chính bao gồm: Các
hành vi vi phạm nguyên tắc giao thông đường bộ; các hành vi vi phạm quy
định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; các hành vi vi phạm quy định về
phương tiện tham gia giao thông đường bộ; các hành vi vi phạm quy định về
người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ; các hành vi vi
phạm quy định về vận tải đường bộ; các hành vi vi phạm khác về giao thông
đường bộ"
1.2 Xử phạt hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
Từ ngày 01/01/2020, Nghị định số 100/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt có
hiệu lực thi hành, thay thế Nghị định số 46/2016/NĐ-CP của Chính phủ với
nhiều điểm mới
Nghị định này quy định về hành vi vi phạm hành chính; hình thức, mức xử phạt,
biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm
quyền lập biên bản, thẩm quyền xử phạt, mức phạt tiền cụ thể theo từng chức
danh đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và
đường sắt
Nghị định áp dụng với những đối tượng, như: Cá nhân, tổ chức có hành vi vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, đường sắt trên lãnh thổ
nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Hộ kinh doanh, hộ gia đình, tổ hợp
tác thực hiện hành vi vi phạm hành chính quy định tại Nghị định này bị xử phạt
như đối với cá nhân vi phạm
Trang 12Theo đó, Chương II của Nghị định quy định các hành vi vi phạm, hình thức,
mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đường bộ, như: Vi phạm quy tắc giao thông đường bộ; Vi phạm quy
định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ; Vi phạm quy định về phương tiện
tham gia giao thông đường bộ; Vi phạm quy định về người điều khiển phương
tiện tham gia giao thông; Vi phạm quy định về vận tải đường bộ
Đáng chú ý, so với Nghị định số 46/2016/NĐ-CP thì Nghị định này tăng mức xử
phạt tối đa đối với các hành vi vi phạm quy định về nồng độ cồn, như:
Đối với người điều khiển xe ô tô vi phạm nồng đô ̣ cồn ở mức cao nhất, phạt tiền
từ 30 - 40 triê ̣u đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 22 - 24 tháng đối với
người điều khiển phương tiê ̣n có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít
máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở
Đối với người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy vi phạm nồng đô ̣ cồn ở mức cao
nhất, phạt tiền từ 6 - 8 triê ̣u đồng, tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 22 - 24
tháng đối với người điều khiển phương tiê ̣n có nồng độ cồn vượt quá 80
miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở
Ngoài ra, Nghị định cũng bổ sung quy định xử phạt đối với doanh nghiệp vận tải
sử dụng người lái xe mà trong cơ thể có chất ma túy; bổ sung quy định xử phạt
vi phạm nồng độ cồn đối với xe mô tô theo Luật Phòng, chống tác hại của rượu
bia
Đối với lực lượng Công an nhân dân, tại Điều 76 của Nghị định đã nêu rõ các
cấp có thẩm quyền xử phạt, gồm:
- Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công vụ;
- Trạm trưởng, Đội trưởng của Chiến sĩ Công an nhân dân đang thi hành công
vụ;
Trang 13- Trưởng Công an cấp xã, Trưởng đồn Công an, Trạm trưởng Trạm Công an cửa
khẩu, khu chế xuất;
- Trưởng Công an cấp huyện; Trưởng phòng nghiệp vụ thuộc Cục Cảnh sát giao
thông; Trưởng phòng Công an cấp tỉnh gồm Trưởng phòng Cảnh sát quản lý
hành chính về trật tự xã hội, Trưởng phòng Cảnh sát giao thông, Trưởng phòng
Cảnh sát giao thông đường bộ - đường sắt; Thủ trưởng đơn vị Cảnh sát cơ động
từ cấp đại đội trở lên;
- Giám đốc Công an cấp tỉnh;
- Cục trưởng Cục Cảnh sát giao thông, Cục trưởng Cục Cảnh sát quản lý hành
chính về trật tự xã hội;
Đặc biệt các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước
khác liên quan đến lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt mà không quy
định tại Nghị định này thì áp dụng quy định tại các Nghị định quy định về xử
phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực đó để xử phạt
1.3 Đối tượng bị xử phạt
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là
cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ trên lãnh thổ Việt Nam
Đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là
cá nhân: theo quy định của pháp luật, cá nhân bị xử phạt vi phạm hành chính là
người không mắc các bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác làm mất khả năng
nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi theo pháp luật quy
định, cụ thể: Người từ đủ 14 đến 16 tuổi chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính về vi
phạm hành chính do cố ý, tức là khi xác định người trong độ tuổi này có vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ hay không phải xác định
yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ Người từ đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của
Trang 14dù là lỗi cố ý hay vô ý Đối với đối tượng là tổ chức: Hiện nay, khái niệm tổ
chức được hiểu thông qua Bộ luật dân sự 2005 Trên thực tế, Bộ Luật Dân sự chỉ
đề cập đến cá nhân và pháp nhân, tổ hợp tác và hộ gia đình Trong đó pháp nhân
được coi là một tổ chức Các loại pháp nhân bao gồm: Cơ quan Nhà nước, đơn
vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; tổ chức kinh tế;
tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội; quỹ xã hôi, quỹ từ thiện là
đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh cực giao thông đường bộ
1.4 Đánh giá chung
Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
vực giao thông đường bộ có ý nghĩa rất lớn như việc tạo ra cơ sở pháp lý vững
chắc, bảo đảm chất lượng của hoạt động áp dụng pháp luật; đảm bảo tính hiệu
thực của các quan hệ pháp luật trong lĩnh vực này; là cơ sở cho các chủ thể thực
hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình; bảo đảm sự đồng bộ của
hệ thống pháp luật và có ý nghĩa thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế xã hội Hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở mỗi địa
phương và trên phạm vi cả nước luôn là vấn đề phức tạp có ảnh hưởng đến sự
phát triển xã hội Có thể thấy được điều đó qua việc Nhà nước sử dụng pháp luật
để thực hiện các tác động đến các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật giao
thông đường bộ góp phần ổn định trật tự xã hội Trật tự an toàn xã hội được ổn
định sẽ góp phần rất lớn đến hiệu quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
về giao thông đường bộ Hoạt động này có vai trò to lớn cho việc đảm bảo phát
triển bền vững kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và an ninh quốc
phòng
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH
VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở VIỆT NAM
2.1 Khái quát chung về hệ thống đường bộ tại Việt Nam
Trang 15Hệ thống đường bộ chính tại Việt Nam gồm các con đường Quốc lộ và Cao tốc,
nối liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các cửa khẩu quốc tế với Trung
Quốc, Lào, Campuchia
Một số tuyến quốc lộ và cao tốc của Việt Nam được chỉ định tham gia mạng
lưới đường bộ xuyên Á, đó là: Quốc lộ 1A, 22, cao tốc CT.01, 2, 5, 70, cao tốc
CT.05, cao tốc CT.04, 6, 279, 8A, 9A, đường Hồ Chí Minh, 14B, 13, 51, 12A,
12C, 24, 14, 40
Hệ thống đường bộ chính tại Việt Nam bao gồm các con đường Quốc lộ, nối
liền các vùng, các tỉnh cũng như đi đến các cửa khẩu quốc tế với Trung
Quốc, Lào, Campuchia Tổng chiều dài các con đường kể trên là 14.790,46 km,
trong khi đó toàn bộ các tuyến đường Quốc lộ của Việt Nam được cho là có
tổng chiều dài khoảng 17.300 km, với gần 85% đã tráng nhựa
Hệ thống đường cao tốc Việt Nam là là một mạng lưới mà các đường cao tốc
kéo dài từ bắc đến nam ở Việt Nam Thuộc hệ thống giao thông đường bộ ở Việt
Nam Bắt đầu được xây dựng từ đầu thế kỉ 21 đến nay, Hệ thống đường cao tốc
ở Việt Nam bao gồm các tuyến và đoạn cao tốc riêng lẻ trải dài phân bổ từ Bắc
đến Nam liên kết với nhau tạo thành tạo thành đường cao tốc lớn đi từ Bắc đến
Nam (ví dụ Đường cao tốc Bắc – Nam) Hiện theo tính toán (chưa tính các đoạn
đường chưa xác định chính xác quãng đường) thì toàn bộ hệ thống đường cao
tốc Việt Nam có quãng đường hơn 2000 Km
2.2 Thực trạng vi phạm pháp luật giao thông đường bộ tại Việt Nam
Hiện nay ở nước ta vẫn còn đang diễn biến khá phức tạp, tác động không ít đến
sự phát triển chung của đất nước và cũng như trong quá trình hợp tác, giao lưu
kinh tế - xã hội – văn hóa quốc tế Theo số liê ̣u thực tế cho thấy những vi phạm
này diễn ra với đa số những người khi tham gia giao thông, gồm cả giới trẻ,
trung niên và người cao tuổi Tuy nhiên, vào những năm gần đây, nhờ sự phấn
đấu nỗ lực quản lí bởi các cơ quan chức năng và người trực tiếp tham gia có ý
thức chấp hành luật an toàn giao thông, văn hóa giao thông được nâng cao Vì