1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Môn Lịch sử đảng Phân tích nội dung đường lối đổi mới toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986)

20 197 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 859,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiểu luận cuối kì môn lịch sử đảng Tiểu luận giữa kì môn lịch sử đảngBáo cáo cuối kì môn lịch sử đảngBáo cáo giữa kì môn lịch sử đảngBáo cáo 9 điểm lịch sử đảng10 điểm lịch sử đảng Phân tích nội dung đường lối đổi mới toàn diện của Đảng tại đại hội VI (121986)

Trang 1

TIỂU LUẬN

Môn học: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

Phân tích nội dung đường lối đổi mới toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986)

Sinh viên:

MSSV:

Lớp:

Trường:

Giảng viên:

Trang 3

Mục lục

A Mở đầu 2

B Nội dung 3

I Bối cảnh lịch sử 3

II Động lực đổi mới 4

III Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng 6

1 Thông tin đại hội 6

2 Nội dung và phân tích đại hội[*] 7

2.1 Tổng quan 7

2.2 Chi tiết nội dung đại hội trên các lĩnh vực 8

3 Ý nghĩa đại hội 13

4 Kết quả của Đại hội Đảng toàn dân lần thứ VI và kết quả quá trình đổi mới từ 1986 đến ngày nay 14

C Kết luận 16

I Kết luận 16

II Bài học cho thế hệ mới 16

D Tham khảo và trích dẫn 16

Trang 4

A Mở đầu

Trong những năm qua, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao và phát triển Từ một quốc gia nghèo và lạc hậu, có thể nói ngày nay, quốc gia Việt Nam đang có một chỗ đứng vững chắc, uy tín trong khu vực cũng như thế giới từ kinh tế, giáo dục, văn hoá,… Đất nước ta càng lúc càng đạt được những thành tựu mới đưa Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu Có thể nói tổ quốc Việt Nam đang dần tiến đến sự hưng thịnh

Để Việt Nam có ngày hôm nay, chúng ta không thể quên các giai đoạn thăng trầm ở quá khứ, đặc biệt là sự kiện quan trọng đã tạo nên một bước ngoặt được cho

là “rất cơ bản và có ý nghĩa quyết định trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta” đó là Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Từ Đại hội VI, đất nước ta đã có những chuyển biến rõ rệt phát triển nhanh chóng, thoát khỏi chế độ quan liêu bao cấp lạc hậu tiến đến một xã hội mới vì dân giàu, nước mạnh, xã hội văn minh”[1] Sự kiện này đã thể hiện tư duy lãnh đạo đúng đắn của Đảng cộng sản Việt Nam, góp phần vào công cuộc đưa đất nước ta giàu mạnh, tiến lên xã hội chủ nghĩa

Vì những ảnh hưởng lịch sử vô cùng quan trọng, thay đổi hoàn toàn đất nước ta trên nhiều phương diện, với những kiến thức môn học và hiểu biết của mình em xin phép được phân tích, đánh giá nội dung đường lối đổi mới toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986), từ đó rút ra học hỏi, rút ra những bài học, kinh nghiệm cho những người trẻ trong giai đoạn mới xây dựng và phát triển tổ quốc Việt Nam hùng cường

Trang 5

B Nội dung

I Bối cảnh lịch sử

Vào những năm 70 của thế kỷ

XX, nước ta nói riêng cũng như

nhiều nước xã hội chủ nghĩa rơi

vào khủng hoảng kinh tế - xã hội

trầm trọng Đất nước ta với nền

kinh tế chỉ huy, bao cấp thiếu thốn

và khó khăn nghiêm trọng

Việt Nam không giao thương

với thế giới chỉ quan hệ với một số

nước trong khối xã hội chủ nghĩa Sản xuất, nông nghiệp, kinh tế lạc hậu, năng suất thấp, phát triển kém, trì trệ, điều này diễn ra tương tự với các lĩnh vực khác như y

tế, giáo dục, xã hội, công thương nghiệp Lưu thông, phân phối trì trệ, bị ngăn sông cấm chợ Lạm phát ở mức rất cao, nguy hiểm Nhân dân có đời sống khó khăn chưa từng thấy Ở thành thị, lương tháng của công nhân, viên chức không đủ mức sống

Ở nông thôn, có những lúc thiếu ăn thiếu lương thực trầm trọng Bần hàn làm tiêu cực trong xã hội lan rộng Lòng dân không yên Tình hình khá nguy hiểm Đảng và nhà nước phải vào cuộc, vào khoảng từ 1985 đến 1986, nghĩa là sau thất bại của cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền (1985), đại đa số quần chúng nhân dân cảm thấy bằng lòng với cuộc sống cũ Bên cạnh đó các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước cũng thấy rõ không thể tiếp tục duy trì những chủ trương, chính sách đã lỗi thời, hoặc chỉ thay đổi có tính chất chắp vá, nửa vời một số chính sách riêng lẻ không đồng nhất và thống nhất trên diện rộng.[2]

Hình 1 Tổng quan tình hình kinh tế nước ta từ 1977-1985

Trang 6

Thu nhập quốc dân nhìn chung phát triển kém, không ổn định, thậm chí trong một vài năm một số lĩnh vực kinh tế có mức phát triển âm Với quyết định “xóa bỏ tư sản mại bản, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư sản dân tộc, thí điểm xây dựng hợp tác

xã, cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ.” [3] Nhân dân không được phép giao thương, trao đổi hàng hoá Cuộc sống nhân dân tương đối khó khăn, cơ cực, hàng hoá chỉ được phân phối bởi nhà nước với số lượng ít ỏi, khan hiếm

Tình hình đất nước như vậy có thể giải thích vì tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi, nôn nóng muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn

mà không có nền tảng vững chắc, cơ cấu kinh tế không hợp lý, cộng với những khuyết điểm của mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng

rõ, làm cho tình hình kinh tế - xã hội rơi vào ì ạch, khủng hoảng Thế lực thù địch bao vây, cấm vận nước ta chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc gây

ra tổn thất nghiêm trọng cho kinh tế miền Bắc nói riêng và của nước nói chung[4]

II Động lực đổi mới

Như đã phân tích ở phần trước, Việt Nam thời kì trước đổi mới gặp rất nhiều vấn

đề nghiêm trọng về kinh tế, sản xuất, giao thương,… Đời sống nhân dân cơ hàn, cùng cực, không có động lực phát triển

Hình 2 Người dân xếp hàng nhận chất đốt thời kì bao cấp

Trang 7

Để đưa nước ta thoát khỏi tình trạng đó, vấn đề có ý nghĩa quyết định là phải đổi mới mạnh mẽ, cơ bản cách nghĩ, cách làm Cuối những năm 70, ở một số địa phương bước đầu có những tìm tòi, thử nghiệm cách làm ăn mới, đưa ra những lời giải đáp cho những vấn đề do thực tiễn đặt ra Qua những thành công bước đầu đạt được trong quá trình tìm tòi, thử nghiệm đó, Đảng và nhân dân ta càng nhận thấy sự cần thiết đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, đổi mới cách làm nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội một cách có hiệu quả hơn.[5]

Trước tình hình đó, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp từng bước tháo

gỡ khó khăn Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa IV

về phương hướng phát triển hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, tháo gỡ các rào cản, làm cho sản xuất “bung ra”; Chỉ thị số 100-CT/TW, ngày 31-1-1981 của Ban Bí thư khóa V về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp đã tạo ra những bước đột phá nhất định, song vẫn không làm thay đổi được đáng kể tình hình kinh tế - xã hội đất nước Cuộc cải cách giá - lương - tiền năm 1985 không những không cải thiện được tình hình, mà còn làm cho đời sống của Nhân dân khó khăn hơn

Có một câu chuyện thể hiện người dân đã nhận thấy những điểm bất cập của chế

độ kinh tế thời đó như sau: “Tại miền Bắc, HTX nông nghiệp Đoàn Xá ở Hải Phòng với 7.000 nhân khẩu nhưng 1 năm chỉ thu hoạch được 160 tấn thóc, bằng 1/6 sản lượng thông thường và trong số đó HTX phải nộp nghĩa vụ cho nhà nước 100 tấn nên số thóc còn lại chia đều thì mỗi đầu người chỉ được 0,85 kg Không thể để dân đói, lãnh đạo HTX này quyết định tiến hành khoán “chui”, nghĩa là giấu cấp trên, chỉ dân trong xã biết với nhau và ngay năm đầu tiên, sản lượng lúa đã tăng gấp 6 lần Huyện biết tin, định thi hành kỷ luật cán bộ nhưng thấy kết quả rất tốt nên đã đứng

Trang 8

ra bao che Học tập Đoàn Xá, các HTX nông nghiệp của huyện Đồ Sơn cũng bắt chước, dân không chỉ no mà còn nộp đủ nghĩa vụ cho nhà nước.”

Đổi mới đất nước trở thành một điều tất yếu và khách quan khách quan vì đổi mới là yêu cầu thường xuyên của cách mạng, đất nước ta đang lâm vào cuộc khùng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng và tình hình thế giới có nhiều chuyển biến lớn, đặc biệt là cuộc cách mạng khoa học - kĩ thuật đó có tác động sâu sắc đến mọi quốc gia trên thế giới

Chỉ có đổi mới thì mới có thể giúp nước ta thoát khỏi tình trạng trì trệ và cũng chỉ có đổi mới mới giúp nhân dân có cuộc sống tốt hơn, đưa đất nước phát triển thoát khỏi cũng lầy của lịch sử ấy

III Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng

1 Thông tin đại hội

Với sự tất yếu và có

thể đoán trước của một sự

kiện đổi mới đất nước Từ

ngày 15 đến ngày

18-12-1986, Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VI của đảng họp

công khai tại hội trường Ba

Đình Hà Nội Dự Đại hội có

1.129 đại biểu thay mặt gần

1,9 triệu đảng viên trong toàn Đảng, trong số đó có 925 đại biểu thuộc đảng bộ của

40 tỉnh, thành phố, đặc khu, 172 đại biểu thuộc các đảng bộ trực thuộc Trung ương,

153 đại biểu nữ, 115 đại biểu thuộc các dân tộc thiểu số, 50 đại biểu là anh hùng lực lượng vũ trang và anh hùng lao động, 72 đại biểu là công nhân trực tiếp sản xuất

Hình 3 Đại hội toàn quốc VI của đảng

Trang 9

Đại hội đã đề ra nhiều quyết sách quan trọng mở ra thời kì phát triển mới của tổ quốc.[6]

Đại hội đã đưa ra các cải cách kinh tế, được gọi là Đổi Mới, và bầu ra ban lãnh đạo mới của Đảng Cộng sản Việt Nam Tổng Bí thư Trường Chinh đương nhiệm không được bầu lại và ông Nguyễn Văn Linh lên thay Sau đó, Đại hội cũng

đã bầu các thanh viên của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI, Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI và Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Cũng trong Đại hội, Hội đồng cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập, bao gồm các cán bộ cấp cao, chủ chốt trong bộ máy chính trị đã về hết nhiệm kỳ tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI Đại hội nhấn mạnh nhiệm vụ phải xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Đại hội lần thứ VI cũng

là lần đầu tiên các tổ chức thông tấn phương Tây được phép đưa tin.[7]

2 Nội dung và phân tích đại hội[*]

2.1 Tổng quan

Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình đất nước, tự phê bình về những sai lầm khuyết điểm, đổi mới tư duy lý luận, Đại hội đề ra đường lối đổi mới Trước hết,

là đổi mới cơ cấu kinh tế (cơ cấu công - nông nghiệp; cơ cấu nội bộ ngành nông nghiệp; ngành công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp; công nghiệp nặng và kết cấu hạ tầng; cơ cấu kinh tế huyện) Thực hiện 3 chương trình kinh tế, gồm: Chương trình lương thực, thực phẩm; chương trình hàng tiêu dùng; chương trình hàng xuất khẩu Xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế

Đại hội đã đưa ra quan điểm mới về cải tạo xã hội chủ nghĩa dựa trên 3 nguyên tắc Thứ nhất, phải theo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất

Trang 10

hai, phải xuất phát từ thực tế của nước ta và vận dụng quan điểm của Lênin coi trên nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ Thứ ba, trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xây dựng quan hệ sản xuất trên cả 3 mặt: Xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, chế độ quản lý và chế độ phân phối xã hội chủ nghĩa

Đại hội giao Ban Chấp hành Trung ương khóa VI chỉ đạo thực hiện thành công những nhiệm vụ đề ra trong Báo cáo chính trị, mà quan trọng là: Thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa một cách thường xuyên với những hình thức và bước đi thích hợp, làm cho quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất ; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế…

Đại hội bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI với 124 ủy viên chính thức

và 49 ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương đã họp Hội nghị lần thứ nhất bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên Đồng chí Nguyễn Văn Linh được bầu là Tổng Bí thư Các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ được giao trọng trách làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.[8]

2.2 Chi tiết nội dung đại hội trên các lĩnh vực

Đại hội "khẳng định quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học" Đại hội nhận định: "Năm năm qua là một đoạn đường đầy thử thách đối với Đảng và nhân dân ta Cách mạng nước ta diễn ra trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những thuận lợi cơ bản, nhưng cũng có nhiều khó khăn phức tạp Thực hiện những nhiệm vụ và mục tiêu do Đại hội lần thứ V của Đảng đề ra, nhân dân ta anh dũng phấn đấu, khắc phục khó khăn, vượt qua trở ngại,

đã đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, giành những thắng lợi to lớn trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và làm nghĩa vụ quốc tế" Bên cạnh khẳng định thành tích đã đạt được, Đại hội cũng nhận rõ: "Tình

Trang 11

hình kinh tế - xã hội đang có những khó khăn gay gắt: Sản xuất tăng chậm; hiệu quả sản xuất và đầu tư thấp; phân phối, lưu thông có nhiều rối ren; những mất cân đối lớn trong nền kinh tế chậm được thu hẹp, có mặt gay gắt hơn; quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn; hiện tượng tiêu cực xảy ra ở nhiều nơi, và có nơi nghiêm trọng Nhìn chung, chúng

ta chưa thực hiện được mục tiêu tổng quát do Đại hội lần thứ V đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân"

Không đánh giá thấp những nguyên nhân khách quan, Đại hội đã nghiêm khắc nêu ra rằng nguyên nhân chủ quan của tình hình khó khăn, khủng hoảng là do những sai lầm, khuyết điểm trong sự lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước Đại hội nhận định trong những năm 1976-1980, trên thực tế ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết; vừa nóng vội, vừa buông lỏng trong công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa; chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế không còn phù hợp Trong những năm 1981-1985, Đảng chưa cụ thể hoá đường lối kinh tế trong chặng đường đầu tiên, chưa kiên quyết khắc phục chủ quan, nóng vội và bảo thủ trì trệ trong bố trí cơ cấu kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế, lại phạm sai lầm mới, nghiêm trọng trong lĩnh vực phân phối, lưu thông, đã buông bỏng chuyên chính vô sản trong quản lý kinh tế, xã hội, trong đấu tranh tư tưởng, văn hoá, trong việc chống lại những âm mưu, thủ đoạn phá hoại thâm độc của kẻ thù "Những sai lầm nói trên là sai lầm nghiêm trọng về chủ trương, chính sách lớn, về chỉ đạo chiến lược và về tổ chức thực hiện".[9]

Nội dung đại hội về các phương diện chi tiết như sau:

Kinh tế:

Nhận thấy rõ nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất trong thời gian qua (trước Đại hội VI) là do những sai lầm, thiếu sót trong việc bố trí cơ

Trang 12

vì vậy mà tư tưởng chỉ đạo của kế hoạch và các chính sách kinh tế đề ra lần này là nhằm giải phóng mọi năng lực sản xuất hiện có, khai thác mọi khả năng tiềm tàng của đất nước và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ quốc tế để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất đi đôi với xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa

Trong chủ trương xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, Đảng xác định rõ: xây dựng quan hệ sản xuất mới cả ba mặt, làm cho nó thật sự mang bản chất xã hội chủ nghĩa, gắn với mỗi bước phát triển của lực lượng sản xuất,

là công việc to lớn, không thể làm xong trong một thời gian ngắn Tuy nhiên, khác với những năm trước đây, là những năm mà trong nhận thức cũng như trong hành động, chúng ta chưa thực sự thừa nhận cơ cấu kinh tế nhiều thành phần ở nước ta còn tồn tại trong một thời gian tương đối dài, từ Đại hội VI trở đi nền kinh tế nước

ta là một nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần Các thành phần kinh tế đó là:

– Kinh tế xã hội chủ nghĩa bao gồm khu vực quốc doanh và khu vực tập thể, cùng với bộ phận kinh tế gia đình gắn liền với thành phần đó

– Các thành phần kinh tế khác gồm: kinh tế tiểu sản xuất hàng hoá (thợ thủ công, nông dân cá thể, những người buôn bán và kinh doanh dịch vụ cá thể); kinh tế

tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước dưới nhiều hình thức, mà hình thức cao là công tư hợp doanh; kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc trong một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên và các vùng khác

Đảng khẳng định: chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa phải xuất phát từ đặc trưng nói trên mà đề ra những chủ trương và biện pháp đúng đắn

Việc thừa nhận nền kinh tế cơ cấu nhiều thành phần thể hiện sự nhận thức mới của Đảng ta về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Lênin đã từng khẳng định:

“Về lý luận, không thể nghi ngờ gì được rằng giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa

Ngày đăng: 11/01/2022, 11:40

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1 Tổng quan tình hình kinh tế nước ta từ 1977-1985 - Tiểu luận Môn Lịch sử đảng Phân tích nội dung đường lối đổi mới  toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986)
Hình 1 Tổng quan tình hình kinh tế nước ta từ 1977-1985 (Trang 5)
Tình hình đất nước như vậy có thể giải thích vì tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi, nôn nóng muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn  mà  không  có  nền  tảng  vững  chắc,  cơ  cấu  kinh  tế  không  hợp  lý,  cộng  với  những   - Tiểu luận Môn Lịch sử đảng Phân tích nội dung đường lối đổi mới  toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986)
nh hình đất nước như vậy có thể giải thích vì tư tưởng chủ quan, say sưa với thắng lợi, nôn nóng muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn mà không có nền tảng vững chắc, cơ cấu kinh tế không hợp lý, cộng với những (Trang 6)
Hình 3 Đại hội toàn quốc VI của đảng - Tiểu luận Môn Lịch sử đảng Phân tích nội dung đường lối đổi mới  toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986)
Hình 3 Đại hội toàn quốc VI của đảng (Trang 8)
Các chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống Nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày  càng được phát huy, lòng tin của Nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên.[14] - Tiểu luận Môn Lịch sử đảng Phân tích nội dung đường lối đổi mới  toàn diện của Đảng tại Đại hội VI (12/1986)
c chủ trương, chính sách đổi mới bắt đầu mang lại kết quả rõ rệt, tình hình kinh tế và đời sống Nhân dân dần được cải thiện, sinh hoạt dân chủ trong xã hội ngày càng được phát huy, lòng tin của Nhân dân vào công cuộc đổi mới tăng lên.[14] (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w