5 Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đ
Trang 1Mục lục
Phần mở đầu 3
Phần nội dung 5
I Lý luận chung về quan điểm toàn diện 5
1 Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến 5
Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sựu vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định Hơn nữa, nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy đc dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng 6
2 Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học 6
3 Quan điểm toàn diện trong triết học Mác-Lenin 7
II Giới thiệu về Trường đại học Kinh tế quốc dân 8
1 Giới thiệu chung 9
2 Lịch sử hình thành 9
3 Sứ mệnh 9
III Những vấn đề trong quá trình xây dựng và phát triển của Trường Đại học Kinh tế quốc dân 10
1 Đội ngũ giảng viên: 10
2 Yếu tố sinh viên 10
3 Nghiên cứu khoa học 11
4 Thành tựu 12
5 Những hạn chế và bất cập 13
Trang 2IV Phương hướng và sự vận dụng quản điểm toàn diện trong quá trình phát triển trong tương lai 14
1 Mục tiêu 14
2 Những giải pháp 15
3 Quan điểm toàn diện trong phướng hướng trong quá trình phát triển trong tương lai 19 Phần kết luận 20
Trang 3Phần mở đầu
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại đã từng tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau xung quanh vấn đề nguồn gốc và bản chất của sự phát triển Trước Các Mác, vấn đề bản chất của phát triển chưa được giải đáp một cách khoa học Khi hình thành quan niệm duy vật về lịch sử, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã khẳng định vai trò cải tạo thế giới, làm nên lịch sử của con người Khi lực lượng sản xuất càng phát triển thì khả năng chiếm lĩnh và sử dụng các lực lượng tự nhiên ngày càng cao hơn, con người tạo ra ngày càng nhiều hơn co SG vật chất cho bản thân mình, đồng thời từ đó thúc đẩy con người tự hoàn thiện chính bản thân họ Dưới sự phát triển toàn diện, thể giới đã diễn ra nhiều công cuộc đổi mới và toàn cầu hóa Đô thị hóa nhanh, công nghệ và giáo dục phát triển là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá sự phát
Trang 4triển của một quốc gia Đặc biệt trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhu cầu tìm hiểu tri thức của nhân loại ngày càng lớn Theo Leonardo da Vinci: “Học hỏi là điều duy nhất mà trí tuệ không bao giờ mệt mỏi, không bao giờ sợ hãi, và không bao giờ nuối tiếc.”, nhờ có tri thức con người ngày càng hoàn thiện sự hiểu biết và nhân phẩm của bản thân, từ đó góp phần xây dựng và phát triển nên cộng đồng văn minh, đất nước giàu đẹp
Trong xu thế phát triển đó, trường Đại học Kinh tế Quốc dân, một trong những ngôi trường trọng điểm đào tạo trong khối ngành kinh tế hàng đầu Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực cống hiến những đóng góp quang trọng và to lớn cho nước nhà, cũng như cho nền kinh tế trong suốt quá trình xây dựng và phát triển Chúng ta biết rằng, theo quan điểm toàn diện, trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trên nhiều mặt, nhiều mối quan hệ Thực hiện hóa điều này sẽ giúp cho chúng ta hạn chế được sự phiển điện, siêu hình, trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống thực tế Nhờ đó cũng tạo ra khả năng nhận thức đúng đắn về bản chất của sự vật trong thực tế và xử lý chính xác, có hiệu quả đối với các vấn đề được đặt ra Ý thức được tầm quan trọng của quan điểm toàn diện đối với quá trình phát triển của đại học Kinh tế Quốc dân nói riêng và nền kinh tế nước nhà nói chung, em quyết định lựa chọn đề tài: “Quan điểm toàn diện và việc vận dụng quan điểm toàn diện vào quá trình xây dựng và phát triển trường Đại học Kinh tế Quốc dân” làm đề tài nghiên cứu trong bài tiểu luận này
Nghiên cứu tiểu luận dựa trên quan điểm toàn diện của chủ nghĩa MácLênin, phương pháp logic về lịch sử, phương pháp diễn dịch và quy nạp cùng với phương pháp đối chiếu so sánh Đồng thời, em cũng tham khảo tư liệu để làm rõ hơn đề tài cần nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện, em đã đưa ra những thông tin, số liệu, những phân tích và những tài liệu được tham khảo trong sách, nguồn internet, bài giảng của thầy và nhiều nguồn khác nữa Tuy nhiên trong quá trình làm bài sẽ không tránh khỏi những sai sót không mong muốn
Em rất mong thầy có thể thông cảm và góp ý thêm để em có thể hoàn thiện bài làm của mình tốt hơn Em xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới thầy!
Trang 5Phần nội dung
I Lý luận chung về quan điểm toàn diện
1 Nguyên lý về mối quan hệ phổ biến
Theo quan điểm siêu hình, các sự vật hiện tượng tồn tại một cách tách rời, không có sự phụ thuộc và ràng buộc lẫn nhau, những mối liên hệ vô cùng hời hợt và chỉ mang tính ngẫu nhiên Một số người theo quan điểm siêu hình cũng thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của
nó nhưng lại phủ nhận khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau
Ngược lại, quan điểm biện chứng lại cho rằng thế giới tồn tại như một chính thể thống nhất, các sự vật hiện tượng và quá trình cấu thành vừa tách biệt nhau vừa có sự tác động qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫnnhau Quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng khẳng định cơ sở của sự liên hệ quan lại giữa các sự vật hiện tượng và tính thống nhất vật chất của thế giới
Theo quan điểm này, các sự vật, hiện tượng trên thế giới dù có đa dạng khác nhau như thế nào đi chăng nữa thì chúng cũng chỉ là những dạng tồn tại khác nhau của một thế giới duy nhất là thế giới vật chất
Ngay cả ý thức, tư tưởng của con người vốn là những cái phi vật chất cũng chỉ là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người, nội dung của chúng cũng chỉ là kết quả phản ánh các quá trình vật chất khách khách quan
Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật hiện tượng, các quá trính, mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên
hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực riêng biệt của thế giới, có mối liên hệ trực tiếp, có mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một số khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, có mối liên
hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vật Sự vật, hiện tượng nào cũng vận động và phát triển qua nhiều giai đoạn khác nhau, giữa các giai đoạn đó cũng có mối liên hệ với nhau tạo thành lịch
sử phát triển hiện thực của các sự vật và các quá trình tương ứng
Trang 6 Mối liên hệ bên trong là mối liên hệ qua lại, là sự tác động lẫn nhau giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt khác nhau của một sự vật, nó giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sựu vật, các hiện tượng khác nhau, nói chung nó không có ý nghĩa quyết định Hơn nữa,
nó thường phải thông qua mối liên hệ bên trong mà phát huy đc dụng đối với sự vận động và phát triển của sự vật Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn vai trò của mối liên hệ bên ngoài đối với sự vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng
Như vậy, quan điểm duy vật biện chứng về sự liên hệ đòi hỏi phải thừa nhận tính tương đối trong sự phân loại các mối liên hệ Các loại liên hệ khác nhau có thể chuyển hóa lẫn nhau Sự chuyển hóa như vậy có thể diễn ra hoặc do thay đổi phạm vi bao quát khi xem xét, hoặc do vận động khác quan của chính các sự vật và hiện tượng
Trong tính đa dạng của các hình thức và các loại liên hệ tồn tại trong tự nhiên, trong xã hội
và trong tư duy con người, phép biện chứng duy vật, tập trung nghiên cứu những loại liên hệ chung, mang tính chất phổ biến Những hình thức và những kiểu liên hệ nêng biệt trong các
bộ phận khác nhau của thế giới là đối tượng nghiên cứu của các ngành khoa học khác
2 Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học
Quan điểm toàn diện trong lịch sử triết học Trong lịch sử Triết học, trả lời cho câu hỏi: “Thế giới xung quanh ta có vô vàn sự vật, hiện tượng và quá trình khác nhau, nhưng giữa chúng có mối liên hệ với nhau hay không?” đã có rất nhiều quan điểm khác nhau Tựu trung lại, có thể chia thành hai quan điểm về mối liên hệ Đó là quan điểm siêu hình và quan điểm biện chứng Những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật, hiện tượng và quá trình trong thế giới hiện thực tồn tại biệt lập, tức rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia mà không có bất kỳ tột sự tác động qua lại nào Nếu giữa chúng có sự quy định lẫn nhau thì chỉ
là biểu hiện bề ngoài, mang tính ngẫu nhiên Đại diện nổi bật của những người theo quan điện siêu hình về mối liên hệ có thể kể đến các nhà triết học Thomas Hobbes (1388-1679), Reme Descartes (1896-1680) và Baruch Stylioza (1632-1677) Cũng thuộc quan điểm siêu hình, một số nhà triết học cổ thừa nhận các sự vật, hiện tượng có mối liên hệ với nhau và nổi lên rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên giữa chúng không diễn ra được quá trình chuyển hóa, liên hệ và thâm nhập lẫn nhau cùng với đó chúng luôn tồn tại độc lập Quan điểm siêu hình
đã phủ nhận mọi sự biến đổi của giới tự nhiên, sự vật hiện tượng không thể có sự phát triển, nếu có chăng cũng chỉ là tương đối Do vậy, họ “chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà
Trang 7không nhìn thấy sự phát sinh và vụ tiêu vong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng” [ 124, t 90 C Mác và Ph Ăngghen (1993) Toàn tập, tập 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội]
Đổi lập với quan điểm siêu hình, các nhà triết học có cái nhìn biện chứng về mối liên hệ và tìm cách lý giải cho nguồn gốc của các mối liên hệ Cho rằng các sự vật hiện tượng có mối liên hệ với nhau, các nhà triết gia Hy lạp cổ đại đã tìm mối liên hệ gia các sự vật hiện tượng
từ yếu tố bản quyền hay cơ sở đầu tiên, đó là "nước" (Thales), "khí" (Anucimen), "Apeiron" (Anacimandre), "lửa”(Heraclit) Đến hệ thống triết học cổ điển Đức, phép biện chứng duy tâm khách quan xuất hiện ở triết học Kant và được hoàn thiện trong triết học Hêghen với phương pháp biện chứng là hạt nhân hợp lý, chứa đựng tư tưởng thiên tài về mối liên hệ, song hạn chế trong hệ thống triết học duy tâm của ông chính là sự phủ nhận tính chất khách quan của những nguyên nhân bên trong vốn cố của sự liên hệ của tự nhiên và xã hội Ông cho rằng khởi nguyên của thế giới không phải là vật chất mà là ý niệm tuyệt đối" hay "tinh thần thế giới"
Như vậy, đã có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong lịch sử triết học Mặc dù những quan điểm trên chưa phản ánh đúng đắn, chưa có cái nhìn toàn diện về mối liên hệ, thậm chí có những quan đến sai lầm khi không thừa nhận mối liên hệ, nhưng đó cũng là tiền đề cho chủ nghĩa Mác kế thừa để xây dựng trên phép biện chứng và chủ nghĩa duy vật biện chứng Trong đó, nguyên lý về mối liên
hệ phổ biến - cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện là một trong những nguyên lý phán ánh thế giới một cách đầy đủ và đúng đắn nhất
3 Quan điểm toàn diện trong triết học Mác-Lenin
Từ việc nghiên cứu nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng triết học Lenin rất quan đến toàn diện trong nhận thức Với tư cách là một nguyên tắc phương pháp luận trong việc nhận thức các sự vật, hiện tượng quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng Một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên
Mác-hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng, mặt khác chúng ta phải xem xét trong mối liên hệ giữa nổ với các sự vật giác (kể cả trực tiếp và gián tiếp) Đề cập đến nội dung này, VILênin viết: "Muốn thực sự hiểu được sự
Trang 8vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các Tuổi liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó" Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi để nhận thức được sự vật, cần phải xem xét nổ trong những mối liên hệ với nhu cầu thực hiện của con người ứng với Khởi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ Bởi vậy, tri thức đạt được về sự và cũng chỉ tương đối, không đầy đủ, trọn vẹn Có ý thức được điều này không ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tính xem đó là những chân lý bất biến, tuyệt đối, không thể bổ sung và phát triển Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả VINổi lên hệ cần thiết phải xem xét tất cả mọi tật để đề phòng cho chúng ta khỏi Mạm sai lầm và sự cứng nhắc Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiền hện không chỉ ở chỗ nổ chú ý đến nhiều mặt, nhiều mối liên hệ Việc chủ ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên
hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang sau thàng thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó Quan điểm toàn diện đòi hỏi chung ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối hên hệ của sự vật đến chỗ khách quan để rút ra cái bản chất chi phối của tôn tại và phát triển của sự vật, hiện tượng
đó
Có thể kết luận, quá trình hình thành quan điểm toàn diện đúng đắn với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức sự vật sẽ phải trải qua các giai đoạn cơ bản là đi tù ý niệm ban đầu về cái toàn thể để nhận thức một mặt, một mối lên hệ nào đó của sự vật đến nhận thức nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đó và cuối cùng khái quát những tri thức đồ để rút ra tri thức về bản chất của sự vật
Quan điểm toàn diện vừa khác chủ nghĩa chiến trung vừa khác thuật nguy biện Chủ nghĩa chết trong huy càng tỏ n chú ý tới nhiều mặt khác nhau nhưng lại kết hợp một cách vô nguyên tắc những cái hết sức khác nhau thành một hình thi không đồng về sự và Chủ nghĩa chiết trung không biết rút ra một bản chất, nổi Eên hệ của bản nêu rơi vào chỗ vào bằng các mặt kết hợp một cách vô nguyên tắc các mối liên hệ khác nhau do đó hoàn toàn bất lực thi cần phải có quy cách đing đân Thuật Nguy hiệu cũng chỉ chú ý đến những thật, những tuổi liên hệ khác nhau của sự vật nàng lại đưa cái không cơ bản thành cơ bản của chủ nghĩa chiết trung và thuật ngụy biện chính là những biểu hiện khác nhau của phương pháp luận sai lầm trong việc xem xét những sự vật, hiện tượng
II Giới thiệu về Trường đại học Kinh tế quốc dân
Trang 91 Giới thiệu chung
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân ( tiếng anh: National Economics University) là một trong những ngôi trường đại học trọng điểm đào tạo về khối ngành kinh tế và quản lý hàng đầu Việt Nam Đồng thời, đây còn là trung tâm nghiên cứu kinh tế chuyên sâu, tư vấn các chính sách vĩ mô cho Nhà nước Việt Nam, chuyển giao và tư vấn công nghệ quản lý, quản trị
2 Lịch sử hình thành
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân được thành lập theo Nghị định số 678-TTg ngày 25 tháng
1 năm 2956 với tên gọi là Trường Kinh tế Tài chính Thời điểm đó, Trường được đặt trong
hệ thống Đại học nhân dân Việt Nam trực thuộc Thủ tướng Chính phủ
Ngày 22 tháng 5 năm 1958, Thủ tướng chính phủ ra Nghị định số 252-TTg đổi tên trường thành Trường Đại học Kinh tế Tài chính trực thuộc Bộ giáo dục
Tháng 1 năm 1965 Trường lại một lần nữa được đổi tên thành Trường Đại học Kinh tế Kế hoạch Ngày 22 tháng 10 năm 1985, Bộ trưởng Bộ đại học và Trung học chuyên nghiệp (nay
là Bộ Giáo dục và Đào tạo) ra Quyết định số 1443/QĐ-KH đó đổi tên Trường thành trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Năm 1989, trường Đại học Kinh tế Quốc dân được Chính phủ giao thực hiện 3 nhiệm vụ chính là:
Tư vấn về chính sách kinh tế vĩ mô
Đào tạo về kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh ở bậc đại học và sau đại học
Đào tạo cán bộ quản lý cho các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế
3 Sứ mệnh
Trang 10Là trường trọng điểm quốc gia, trường Đại học hàng đầu về đào tạo kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh trong hệ thống các trường đại học của Việt Nam Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
có sứ mệnh cung cấp cho xã hội các sản phẩm đào tạo, nghiên cứu khoa học, tư vấn, ứng dựng
và chuyển giao công nghệ có chất lượng cao, có thương hiệu và danh tiếng, đạt đẳng cấp khu vực
và quốc tế về lĩnh vực kinh tế, quản lý và quản trị kinh doanh, góp phần quan trọng vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới
III Những vấn đề trong quá trình xây dựng và phát triển của Trường Đại học
Kinh tế quốc dân
1 Đội ngũ giảng viên:
Một trong những trung tâm đào tạo và bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế và quản trị kinh doanh lớn nhất ở Việt Nam Bên cạnh các chương trình đào tạo cán bằng cử nhân thạc sĩ và tiến sĩ, Trường cũng thường xuyên tổ chức các khoá bồi dưỡng chuyên môn ngắn hạn về quan lý kinh tế và quản trị kinh doanh cho các nhà quản lý các doanh nghiệp và các cán bộ kinh tế trên phạm vi toàn quốc
Cho đến nay, trường Đại học Kinh tế quốc dân đã đào tạo được nhiều thế hệ cán bộ quản lý chính quy, năng động có thể thích nghi với nền kinh tế thị trường và có khả năng tiếp thu các công nghệ tiên tiến Trong số những sinh viên đã học tập và tốt nghiệp của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, nhiều người hiện đang giữ chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Đảng, Quốc hội, Chính phủ và các doanh nghiệp toàn quốc
2 Yếu tố sinh viên
Với một quy mô đa ngành, nhiều ngành đào tạo, các khoa và các viện (trong đó bao gồm 19 khoa, 45 chuyên ngành, 11 viện và 8 trung tâm, 13 bộ môn, 9 phòng ban chức năng và 4 đơn
vị phục vụ khác), thì Trường Đại học Kinh tế Quốc dân cũng có một số lượng lớn sinh viên theo học tại đây Nói đến sinh viên Kinh tế quốc dân, người ta liên tưởng ngay đến những cô cậu sinh viên năng động, hoạt bát, trẻ trung, đầy nhiệt huyết và đầy tài năng
Hiện trường đang đào tạo khoảng 45.000 sinh viên Trong đó bao gồm những sinh viên theo học chính quy, sinh viên văn bằng 2, sinh viên được đào tạo chất lượng cao, chất lượng tiên tiến, sinh viên được đào tạo từ xa,
Trong công cuộc xây dựng và phát triển của Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, cũng không thể không nhắc đến sự đóng góp to lớn của sinh viên Trường Đặc biệt là một số cựu sinh
Trang 11viên đã và đang góp phần xây dựng và phát triển hình ảnh Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, góp phần xây dựng và phát triển đất nước như Bác Nguyễn Xuân Phúc (Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), Bác Ngô Văn Du Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI, Nguyên Chủ nhiệm
Ủy ban Kiểm tra trung ương Đảng, Bác Nguyễn Đình Thắng (Chủ tịch LienVietPostBank) và nhiều cựu sinh viên khác
Ngoài ra, còn cố đó là sự đóng góp của các sinh viên hiện đã và đang theo học tại Trường Kinh tế Quốc dân, những sinh viên năng động, tài năng và nhiệt huyết đó cũng góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và phát triển Trường Đại học Kinh tế Quốc dân xứng với cái tên Trường hàng đầu, dần sánh vai với các Trường Đại học trên thế giới
3 Nghiên cứu khoa học
Nghiên cứu khoa học là một trong những hoạt động chính của trường Đại học Kinh tế Quốc dân Trường có một đội ngũ các nhà khoa học là các chuyên gia hàng đầu được đánh giá cao bởi khả năng nghiên cứu và tư vấn Trường Đại học Kinh tế Quốc đần là một trung tâm có uy tín và nghiên cứu kinh tế, kinh doanh và quản lý, tư vấn chính sách kinh tế cho Đảng, Chính phủ, các bộ ngành các địa phương cũng như tư vấn về chiến lược và quản trị kinh doanh cho các doanh nghiệp
Nghiên cứu khoa học là hoạt động trí tuệ giúp sinh viên vận dụng phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu khoa học trong học tập và trong thực tiễn, sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp đặt ra để từ đó có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu biết của mình
Để xây dựng và phát triển Trường Kinh tế Quốc dân, các viện, các khoa của nhà trường đã tổ chức nhiều Hội thảo Nghiên cứu khoa học trong nhà trường, đạt nhiều giải thưởng giá trị,
Nhờ việc áp dụng thành công việc nghiên cứu khoa học hiệu quả mà Nhà trường đã gặt hái được rất nhiều giải thưởng trong các cuộc thi lớn nhỏ trong và ngoài nước Sinh viên Trường Đại học Kinh tế Quốc dân vinh dự giành giải nhất giải thưởng sinh viên nghiên cứu khoa học Eureka
Theo cách nhìn Quan điểm toàn diện của Chủ nghĩa Triết học Mác - Lênin, công cuộc nghiên cứu khoa học và sự đóng góp của việc Nghiên cứu khoa học của đội ngũ giảng viên và sinh