Để tìm hiểu thêm về vai trò của cơ quan này, em xin chọn đề 9: “Phân tích vai trò của Tòa án Công lý Quốc tế Liên hợp quốc ICJ trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc
Trang 1MỞ ĐẦU
Tòa án Công lý Quốc tế ngoài vai trò giải quyết các tranh chấp quốc tế, là cơ quan góp phần giúp Liên hợp quốc bảo vệ và gìn giữ hòa bình thế giới thì còn rất nhiều vai trò quan trọng khác Để tìm hiểu thêm về vai trò của cơ quan này, em xin
chọn đề 9: “Phân tích vai trò của Tòa án Công lý Quốc tế Liên hợp quốc (ICJ) trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế (Sinh viên chọn
2 – 3 vụ việc để phân tích)” để thực hiện bài tập học kì môn Công pháp quốc tế
của mình Rất mong nhận được sự đánh giá của thầy cô
NỘI DUNG
I Vai trò của Tòa án Công lý Quốc tế Liên hợp quốc (IJC) trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế
1 Khái quát chung về Toàn án Công lý Quốc tế (IJC)
Toà án Công lý Quốc tế ( tên tiếng Anh: International Court of Justice – ICJ)
là một phân ban trực thuộc Liên Hiệp Quốc, được thành lập vào năm 1945 với tiền thân là Toà án Thường trực Công lý Quốc tế (Permanent Court of International Justice) có từ năm 1922 Tòa bắt đầu chính thức nhận hồ sơ, thụ lý và giải quyết tranh chấp các vấn đề giữa các quốc gia thành viên có liên quan, cũng như làm công tác cố vấn pháp luật cho Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, cũng như các ủy ban khác trực thuộc Liên Hiệp Quốc như đã ghi
rõ trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc từ 1946
Về thẩm quyền, Như đã nêu trong Điều 93 của Hiến chương Liên Hợp Quốc, tất cả 193 thành viên LHQ sẽ được mặc định thừa nhận Toà án ICJ Các thành viên không thuộc Liên Hợp Quốc cũng có thể trở thành các bên tham gia vào thời hiệu của tòa án theo thủ tục Điều 93 Ví dụ, trước khi trở thành một quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc, Thụy Sĩ đã sử dụng thủ tục này vào năm 1948 để trở thành một đảng Một khi một quốc gia là thành viên của đạo luật của tòa án, họ có quyền tham gia vào các vụ án trước tòa án Tuy nhiên, là một bên của quy chế không tự động đưa ra thẩm quyền của tòa án đối với các tranh chấp liên quan đến các bên
đó Vấn đề quyền tài phán được xem xét trong ba loại trường hợp ICJ: vấn đề gây tranh cãi, quyền tài phán ngẫu nhiên và ý kiến tư vấn
Chức năng chính của Tòa án Quốc tế là giải quyết hòa bình các tranh chấp quốc tế, vụ kiện do các quốc gia đưa lên phù hợp với luật pháp quốc tế Mục tiêu của tòa án là áp dụng các tập quán quốc tế để thiết lập các nguyên tắc được quốc gia liên quan chính thức công nhận; các thông lệ quốc tế được chấp nhận như luật; các nguyên tắc chung của luật pháp được các quốc gia công nhận; các phán quyết của tòa án;…
Trang 22 Vai trò của Toàn án Công lý Quốc tế Liên hợp quốc trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế
Vai trò quan trọng nhất của Tòa án Công lý Quốc tế trong việc hình thành, xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật là từ việc hoạt động xét xử và đưa ra các phán quyết của mình, Tòa án Công lý Quốc tế đã tạo ra một trong các nguồn
bổ trợ của Luật quốc tế
Điều 38 của uy chế Tòa án Liên hợp quốc cho rằng phán quyết của tòa án được coi là phương tiện bổ trợ để xác định quy phạm pháp luật Thực tiễn hoạt động của Tòa án Công lý Quốc tế Liên hợp quốc cho thấy các kết quả xét xử thể hiện tại các bản án, ngoài chức năng giải quyết tranh chấp mà tòa có thẩm quyền còn có ý nghĩa quan trọng trong việc thực thi luật quốc tế Chức năng này thể hiện
ở sự đóng góp của các phán quyết quan trọng trong việc làm sáng tỏ nội dung của một quy phạm pháp luật quốc tế hiện hành, tạo tiền đề pháp lý hình thành quy phạm mới của luật quốc tế và có tác động tích cực đến quan niệm, cách ứng xử của chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế, đồng thời có tác dụng bổ sung nhất định những khiếm khuyết của luật quốc tế
Ngoài ra, phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế trong nhiều trường hợp còn
có vai trò xác định một số quy tắc xử sự phải hoặc không phải là quy phạm tập quán quốc tế Trên thực tế việc xác định một quy phạm tập quán là rất khó khăn vì đây thường là những quy phạm không được quy định rõ ràng trong Luật và chỉ có hiệu lực dựa trên sự thường xuyên sử dụng hoặc công nhận của các chủ thể trong luật quốc tế Do đó, việc viện dẫn chỉ rõ trong phán quyết của mình về các quy phạm tập quán đã góp phần bổ sung nguồn luật quốc tế Trong thực tiễn hoạt động của mình, Tòa án Liên hợp quốc không chỉ xác nhận sự tồn tại thực tế của tập quán quốc tế mà còn đưa ra nhiều định nghĩa và nguyên tắc mới trở thành cơ sở của Luật tập quán và Luật điều ước
Tóm lại, mặc dù phán quyết của tòa án quốc tế có vai trò và ý nghĩa to lớn trong quá trình phát triển của luật quốc tế cũng như trong thực tiễn quan hệ quốc
tế, chúng ta vẫn khẳng định rằng “các phán quyết của tòa không phải là nguồn của luật quốc tế” Tuy vậy, những phán quyết của tòa án phù hợp với những nguyên tắc cơ bản và xu hướng phát triển của luật quốc tế hiện đại có thể có tác động tích cực đến ý thức pháp luật của nhân dân thế giới và có thể gây ảnh hưởng lớn đến thực tiễn đời sồng của các nước Không được coi là nguồn vì tự bản thân các phán quyết của tòa không sinh ra quy phạm pháp lý có giá trị bắt buộc các chủ thể phải tuân theo Các quyết định này chỉ là phương tiện hỗ trợ cần thiết để xác định sự đúng sai của các quốc gia khi áp dụng quy phạm luật quốc tế cụ thể nào Nói cách khác, phán quyết của tòa án quốc tế Liên hợp quốc chỉ là phương tiện để giải thích
Trang 3một cách chính xác và bảo vệ sự đúng đắn của quy phạm luật quốc tế Đồng thời, các phán quyết lại là phương tiện hỗ trợ để chỉ rõ, xác định sự tồn tại thực tế của quy phạm tập quán
II Phân tích vai trò của Tòa án Công lý Quốc tế Liên hợp quốc (IJC) trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế qua một số vụ việc cụ thể
1 Phán quyết của Tòa án Công lý Quốc tế có vai trò tạo cơ sở cho việc hình thành quy phạm pháp luật quốc tế
1.1 Phán quyết trong vụ ngư trường Anh – Nauy năm 1951 của Tòa án Công
lý Quốc tế của Liên hợp quốc
Phán quyết này đã tạo cơ sở cho việc hình thành quy phạm xác định đường cơ
sơ thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải trong công ước Giơnevơ năm 1958 và sau này là công ước Luật biển 1982
Sự kiện: Nửa đầu thế kỷ XX, tranh chấp giữa Anh và Nauy về quyền đánh cá
trong khu vực biển ngoài khơi Nauy, phía Bắc của vòng cung Bắc cực, ngày càng trở nên trầm trọng Nauy cho rằng họ có quyền bảo tồn nghề cá cho ngư dân của
họ trong các khu vực này, trong khi các tàu đánh cá của Anh kéo rất đông đến khu vực này Do hai bên không đạt được một thỏa thuận nào Ngày 28/9/1948, Anh đơn phương thỉnh kiện Tòa án Công lý quốc tế xem xét đường hoạch định khu vực đánh cá của Nauy ở phía Bắc kinh tuyến 66 độ 28’48” quy định trong Nghị định ngày 12/7/1935 về quyết định hoạch định khu vực biển đang tranh chấp có phù hợp với luật quốc tế hay không
Phán quyết của Tòa: Trong vụ ngư trường nghề cá, Anh đã tranh cãi về giá
trị pháp lý của sắc lệnh năm 1935 của Na Uy về đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải Tòa bác bỏ tất cả các kết luận chống đối, năm 1951 tòa án công lý quốc tế đã ra phán quyết, công nhận việc phân định của Na Uy dựa trên kỹ thuật đường cơ sở thẳng không trái với pháp luật quốc tế
Đánh giá: Phán quyết đã mở đầu cho việc công nhận rộng rãi phương pháp
đường cơ sở thẳng dùng để tính chiều rộng lãnh hải Các nguyên tắc áp dụng đường cơ sở thẳng năm 1935 của Na Uy, qua phán quyết của Tòa, đã trở thành các tiêu chuẩn mới của luật quốc tế, được pháp luật quốc tế thừa nhận và được điển chế hóa trong các công ước của Liên hợp quốc về Luật biển – Công ước Genevơ năm 1958 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải (điều 4) và Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (điều 7 Công ước1982)
Trang 41.2 Phán quyết thềm lục địa Biển Bắc ( CHLB Đức / Đan Mạch, CHLB Đức / Hà Lan ) năm 1969 liên quan đến nguyên tắc công bằng trong phân định biển.
Sự kiện: Ngày 20/2/1967, hai thỏa thuận thỉnh cầu đã được đăng ký tại Tòa.
Một do CHLB Đức và Đan Mạch thỏa thuận, một do CHLB Đức và Hà Lan thỏa thuận đưa ra tranh chấp trước tòa Cả hai tranh chấp này đều liên quan đến việc phân định thềm lục địa Biển Bắc giữa các bên hữu quan Quyết định ngày 26/4/1968, trên cơ sở nhận xét Đan Mạch và Hà Lan có cùng một yêu cầu, Tòa đã quyết định kết hợp hai vụ kiện này làm một Cả hai thỏa thuận thỉnh cầu đều đề nghị Tòa tuyên bố các nguyên tắc và quy phạm của Luật quốc tế có thể áp dụng cho việc phân định giữa các bên vùng Thềm lục địa Biển Bắc thuộc mỗi nước
Phán quyết của Tòa: Tòa nêu ra một số khả năng áp dụng nguyên tắc công
bằng Các phương pháp được chọn lựa có thể dẫn tới sự chồng lấn các vùng biển Tòa cho rằng cần phải chấp nhận hoàn cảnh này như là một hệ quả và có thể giải quyết hoặc bằng việc phân chia các vùng chồng lấn bằng con đường thỏa thuận, nếu không có thỏa thuận thì bằng cách phân chia thành các phần đều nhau, hoặc bằng các thỏa thuận khai thác chung, giải pháp cuối đặc biệt có vẻ thích hợp cho việc duy trì thống nhất chung của mỏ
Đánh giá: Thứ nhất, Trong phán quyết lịch sử của mình Tòa án đã khôi phục
và phát triển thêm nguyên tắc kéo dài tự nhiên Tòa đã nêu ra được nguyên tắc:
“đất thống trị biển” Chính chủ quyền của quốc gia ven biển trên lãnh thổ đã đem lại chủ quyền cho họ trên phần thềm lục địa kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền
ra biển Ngay cả khi một vùng đáy biển là gần lãnh thổ của một quốc gia hơn là lãnh thổ của mọi quốc gia khác, người ta cũng không thể coi rằng nó thuộc quốc gia này một khi nó không phải là phần mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền của
quốc gia đó ra biển Thứ hai, Tòa đã bác bỏ tính ưu tiên của nguyên tắc đường
cách đều trong phân định Tòa đã khái quát hóa và đề xuất các nguyên tắc về thỏa thuận, nguyên tắc về kéo dài tự nhiên, nguyên tắc tính đến các hoàn cảnh đặc biệt
và nguyên tắc công bằng trong phân định biển Thứ ba, Tòa đã phân tích và nêu rõ
các điều kiện để một nguyên tắc, một quy phạm mang tính điều ước có thể trở thành một nguyên tắc, một quy phạm tập quán
2 Phán quyết của Tòa án Công lý có vai trò khẳng định các quy phạm pháp luật quốc tế
Phán quyết trong vụ Các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa (Nicaragoa kiện Mỹ)
Trang 5Phán quyết có giá trị khẳng định những quy phạm pháp luật quốc tế được ghi nhận trong các điều ước quốc tế (bao gồm cả những dự thảo điều ước quốc tế) và những tập quán quốc tế tồn tại vào thời điểm ban hành phán quyết
Sự kiện: Ngày 9-4-1984 Nicaragoa gửi đơn đến Tòa khởi kiện Mỹ về vụ
tranh chấp liên quan đến trách nhiệm của Mỹ trong việc tiến hành các hoạt động quân sự và bán quân sự tại Nicaragoa và chống lại Nicaragoa Đồng thời Nicaragoa cũng yêu cầu chỉ ra các biện pháp bảo đảm cần thiết Ngày 26-11-1984, Tòa đã ra phán quyết khẳng định Tòa có thẩm quyền xem xét vụ kiện và chấp nhận đơn khởi kiện của Nicaragoa Ngày 18-1-1985 Mỹ đưa ra tuyên bố tỏ rõ “không có
ý định tiếp tục tham dự bất cứ thủ tục nào liên quan đến vụ kiện”
Năm 1986, Tòa ra phán quyết về nội dung: bác bỏ lý do sử dụng quyền tự vệ tập thể chính đáng do mỹ đưa ra, kết luận Mỹ đã vi phạm các nghĩa vụ của luật tập quán quốc tế là không được can thiệp vào công việc nội bộ của các nước khác và không được sử dụng vũ lực chống lại một quốc gia khác xâm phạm đến chủ quyền của quốc gia khác và không được cắt đứt các hoạt động hàng hải thương mại hòa bình Nhưng cuối cùng, đến năm 1988 Tòa ra quyết định chấm dứt vụ kiện do Nicaragoa từ bỏ theo kiện
Phán quyết của tòa: Phía Mỹ đã vi phạm các nguyên tắc tập quán của Luật
quốc tế về cấm sử dụng vũ lực và đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế cũng như cấm can thiệp vào công việc nội bộ của một quố gia khác Tòa kêu gọi các bên nên hợp tác để tìm kiếm một giải pháp hòa bình phù hợp với nguyên tắc hòa bình các tranh chấp của luật tập quán và đã được khẳng định bởi Điều 33 Hiến chương Liên hợp quốc
Đánh giá: Phán quyết của Tòa đã góp phần quan trọng trong việc giải quyết
câu hỏi về quan hệ giữa các nguồn của luật quốc tế Tòa cũng đã khẳng định tính độc lập của Tòa án đối với luật Điều ước và làm sáng tỏ thêm nội dung các nguyên tắc của luật tập quán Tòa đã có những đóng góp nhất định trong việc xác định ranh giới giữa nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và quyền con người Giữa nguyên tắc cấm sử dụng vũ lực và quyền can thiệp nhân đạo…
KẾT LUẬN
Như vậy, trong việc xây dựng các nguyên tắc, quy phạm pháp luật quốc tế, Tòa án Công lý Quốc tế của Liên hợp quốc có vai trò làm sáng tỏ nội dung của một quy phạm pháp luật quốc tế hiện hành, tạo tiền đề pháp lý hình thành quy phạm mới của luật quốc tế và có tác động tích cực đến quan niệm, cách ứng xử của chủ thể quan hệ pháp luật quốc tế, đồng thời có tác dụng bổ sung nhất định những khiếm khuyết của các nguyên tắc, quy phạm pháp luật đó Thông qua một số phán
Trang 6quyết được nêu ra trong bài trên, chúng ta cũng thấy được vai trò này trong thực tế
đã và đang được chứng minh qua thời gian, các phán quyết của Tòa đang làm tốt vai trò bổ trợ cho nguồn luật quốc tế của mình và sẽ làm tốt hơn nữa trong tương lai, bên cạnh vai trò đảm bảo hòa bình thế giới và an ninh nhân loại
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 2
NỘI DUNG 2
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ INCOTERMS 2010 2
II PHÂN TÍCH MỘT ĐIỀU KIỆN CỦA INCOTERMS 2010 – CIF 2
III MỘT SỐ LƯU Ý ĐỐI VỚI THƯƠNG NHÂN VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN NÀY 5
KẾT LUẬN 6
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 7
Trang 7MỞ ĐẦU
Các hợp đồng mua bán hàng hoá thường hay chứa đựng những điều kiện cơ
sở giao hàng Những điều kiện cơ sở giao hàng này được sử dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế và nội dung thay đổi tùy thuộc vào luật điều chỉnh Nhóm điều kiện được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là những điều kiện được ICC tập hợp và xuất bản – INCOTERMS Để tìm hiểu về vấn đề này, em xin
chọn đề 8: “Phân tích một điều kiện cụ thể trong INCOTERMS 2010 và những vấn đề cần lưu ý đối với các thương nhân Việt Nam liên quan tới điều kiện này.” Để thực hiện bài tập kỳ môn Luật thương mại quốc tế của mình.
NỘI DUNG
I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ INCOTERMS 2010
INCOTERMS là những điều khoản thiết yếu trong hoạt động thương mại quốc tế, nó quy định chi tiết trách nhiệm của người bán, người mua và thời điểm chuyển giao rủi ro giữa người mua và người bán Incoterms 2010 là phiên bản mới nhất của Incoterm, được xuất bản bởi Phòng thương mại Quốc
tế (ICC) ở Paris, Pháp và có hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2011 Incoterms 2010 bao gồm 11 điều kiện được chia thành hai nhóm riêng biệt: Các điều kiện áp dụng cho mọi phương thức vận tải (EXW, FCA, CPT, CIP, DAT, DAP, DDP.) và các điều kiện áp dụng cho vận tải đường biển và đường thủy nội địa (FAS, FOB, CFR, CIF) Trong bài tập học kì của mình, em xin chọn phân tích điều kiện CIF
II PHÂN TÍCH MỘT ĐIỀU KIỆN CỦA INCOTERMS 2010 – CIF
Trang 8Điều kiện CIF bắt đầu bằng ‘C’ (‘Cost’ - nghĩa là ‘chi phí’), đi kèm với đó là điều kiện ‘I’ (‘Insurance’ nghĩa là ‘bảo hiểm’) và điều kiện ‘F’ (‘Freight’ -nghĩa là ‘cước phí tàu biển’) Theo đó, nếu áp dụng điều kiện này thì người mua chỉ có ít nghĩa vụ với hàng hoá, khi hàng hoá tới cảng đích hoặc điểm đích tại nước họ, đồng thời yêu cầu người bán thu xếp việc vận tải bằng đường biển tới cảng đích và chuyển giao chứng từ cần thiết, để người mua nhận hàng từ người chuyên chở, và có thể khiếu nại người bảo hiểm trong trường hợp mất hàng hoặc hàng bị thiệt hại CIF chỉ áp dụng cho vận tải biển
và vận tải thủy nội địa Điều kiện CIF phù hợp với hàng hóa là hàng rời, hàng lỏng hay hàng quá khổ Việc giao hàng được hiểu là giao đến khi hàng cặp cảng bốc hàng (port of loading), rủi ro người bán kết thúc tại cảng dỡ hàng, đồng thời hàng hóa bắt buộc phải được người bán mua bảo hiểm Ở điều kiện này người bán phải thu xếp phương tiện vận chuyển và cung cấp mọi chứng
từ có liên quan cho người mua Người bán trong trường hợp này thường giàu kinh nghiệm và có năng lực trong việc bốc xếp hàng hóa và vận chuyển hàng đến cảng dỡ hàng Song song đó, người bán cũng đòi hỏi có năng lực mua bảo hiểm với điều kiện phù hợp cho lô hàng
Sau đây là 10 nghĩa vụ của người bán (seller) và người mua (buyer) với điều kiện CIF quy định trong Incoterms 2010:
Người bán:
Cung cấp hàng hóa: Người bán giao hàng, cung cấp hóa đơn thương mại, hoặc chứng từ điện tử tương đương, cung cấp bằng chứng của việc giao hàng (vận đơn đường biển)
Giấy phép và thủ tục: Người bán cung cấp giấy phép xuất khẩu, hoặc giấy
ủy quyền từ địa phương cho lô hàng xuất khẩu
Hợp đồng vận chuyển và bảo hiểm: Người bán ký hợp đồng bảo hiểm cho hàng hóa ở điều khoản bảo hiểm thông thường và chịu chi phí vận chuyển hàng hóa đến cảng chỉ định trên con tàu chuyên đi biển (hoặc có thể tàu dùng trong đường thủy nội địa)
Trang 9 Giao hàng: Người bán có trách nhiệm giao hàng lên trên con tàu tại cảng chỉ định
Chuyển giao rủi ro: Rủi ro của bên bán chuyển sang bên mua khi hàng được giao qua lan can tàu
Cước phí: Người bán chịu mọi chi phí để đưa hàng hóa lên tàu, chi phí bốc hàng và cả chi phí vận chuyển hàng cho đến cảng dỡ, chi phí mua bảo hiểm, khai hải quan, nộp thuế xuất khẩu và các lệ phí khác tại nước xuất khẩu
Thông báo cho người mua: Khi hàng hóa bắt đầu được giao đi, người bán thông báo cho người mua về tình trạng hàng hóa sau thời điểm đó
Bằng chứng giao hàng, các chứng từ vận chuyển hoặc chứng từ điện tử tương đương: Khi bộ chứng từ gốc được in ra sau khi hàng được giao lên tàu, người bán bằng chi phí của mình có nghĩa vụ chuyển đầy đủ bộ chứng từ này cho người mua
Kiểm tra: Người bán chịu chi phí cho việc kiểm tra, quản lý chất lượng, đo lường, cân, kiểm đếm, đóng gói và ký hiệu hàng hóa Nếu cần phải đóng gói đặt biệt, người mua thông báo cho người bán chi phí tăng thêm và bên mua chịu phần chí phí phát sinh này
Nghĩa vụ khác: Người bán hỗ trợ trong việc lấy các chứng từ bổ sung được yêu cầu liên quan đến hàng hóa
Người mua:
Thanh toán: Người mua thanh toán tiền mua hàng cho người bán theo như quy định trong hợp đồng mua bán
Giấy phép và thủ tục: Người mua thực hiện thông quan và xin giấy phép nhập khẩu cho hàng hóa
Hợp đồng vận chuyển và bảo hiểm: Người mua không có nghĩa vụ ký kết các hợp đồng vận chuyển chính (main carriage) và bảo hiểm cho lô hàng Với CIF, nghĩa vụ này thuộc về người bán hàng
Nhận hàng: Khi người bán giao hàng đến thì người mua có trách nhiệm nhận hàng được giao đến tại cảng dỡ hàng chỉ định
Trang 10 Chuyển giao rủi ro: Người mua hoàn toàn chịu mọi rủi ro về thiệt hại và mất mát sau thời điểm hàng hóa được giao xong xuống boong tàu (on board)
Cước phí : Người mua chịu mọi chi phí liên quan đến hàng hóa phát sinh sau thời điểm hàng hóa được giao lên tàu Chi phí người mua phải chi trả còn liên quan đến việc dỡ hàng tại cảng đến, (trừ phi có quy định trong hợp đồng chi phí này do người bán chịu) ,phí nộp thuế nhập khẩu và làm thủ tục thông quan hàng hóa
Thông báo cho người bán: Người mua phải thông báo cho người bán thông tin liên quan đến thời hạn vận chuyển của lô hàng, tên cảng dỡ hàng được chỉ định
Bằng chứng giao hàng, chứng từ vận chuyển hoặc các chứng từ điện từ tương đương: Người mua chấp nhận các chứng từ vận chuyển của người bán dưới các hình thức phù hợp
Kiểm nghiệm: Trừ khi có các hàng rào kiểm dịch bắt buộc tại nước xuất khẩu, các chi phí cho kiểm tra, xét nghiệm phải do người mua chi trả trước
Nghĩa vụ khác: Hỗ trợ người bán cung cấp các chứng từ bổ sung khi được yêu cầu
III MỘT SỐ LƯU Ý ĐỐI VỚI THƯƠNG NHÂN VIỆT NAM LIÊN QUAN ĐẾN ĐIỀU KIỆN NÀY
Các điều kiện trong Incoterms 2010 đều không nói gì tới mức giá phải trả hay phương thức thanh toán và cũng không đề cập tới sự chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa và hậu quả của việc vi phạm hợp đồng Những vấn đề này thường được quy định trong các điều khoản khác của hợp đồng hoặc trong luật điều chỉnh hợp đồng Do đó các thương nhân nên biết rằng luật địa phương được áp dụng có thể làm mất hiệu lực bất kỳ nội dung nào của hợp đồng, kể cả điều kiện Incoterms
đã được chọn
Không cần áp dụng hoàn toàn quy tắc Incoterm vì đây chỉ là các quy tắc, thể hiện tập quán quốc tế, chứ không phải là luật Trong quá trình hai bên thảo thuận hợp đồng, vẫn có thể thay đổi nội dung Incoterm sao cho phù hợp và tất nhiên đối với CIF cũng vậy