1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI

15 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 400,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tuấn Anh Giá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA: LÍ LUẬN CHÍNH TRỊ

……….o0o………

TIỂU LUẬN TRIẾT HỌC

PHÉP BIỆN CHỨNG VỀ MỐI LIÊN HỆ PHỔ BIẾN VÀ VẬN DỤNG PHÂN TÍCH MỐI LIÊN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI CÔNG BẰNG XÃ HỘI

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Tuấn Anh

Giáo viên hướng dẫn : TS Đào Thị Trang

Hà Nội, 2021

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến 3

1 Phép biện chứng 3

2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến 4

a Khái niệm 4

b Các tính chất của mối liên hệ phổ biến 4

3 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến 5

a Quan điểm toàn diện 6

b Quan điểm lịch sử - cụ thể 6

II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 7

1 Khái quát 7

a Tăng trưởng kinh tế 7

b Công bằng xã hội 7

c Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội 7

2 Hiện trạng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 8

3 Hậu quả 10

4 Giải pháp 11

KẾT LUẬN 13

THAM KHẢO 14

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Trong thế giới này, mọi vật đều có muôn hình vạn trạng khác nhau; những

sư vật, hiện tượng xảy ra trong cuộc sống đều mang tính đa dạng, phong phú; thế nhưng, chúng có điểm chung nhất định: đều là dạng tồn tại cụ thể của thế giới vật chất Chúng tồn tại song hành với nhau trong cuộc sống, không độc lập, tách rời;

mà có mối liên hệ, tương tác chặt chẽ với nhau Chính vì vậy, ta có thể nói tăng trưởng kinh tế và sự công bằng xã hội cũng có mối liên hệ mật thiết với nhau

Phát triển là một điều không thể thiếu đối với bất kì xã hội nào, và việc phát triển kinh tế, về mặt tích cực, nó khiến cho cuộc sống của nhân dân được cải thiện, nâng cao rất nhiều; tuy nhiên, khi xét đến mặt tiêu cực, sụ phát triển kinh tế

vô hình trung đã tạo nên một sự mất cân bằng giữa người với người trên xã hội khi mà khoảng cách giữa tầng lớp giàu nghèo đang trở nên quá lớn; và cách người ta đối xử với người giàu và người nghèo là vô cùng khác biệt Trong khi

đó, dù giàu hay nghèo, đều là con người, và con người là yếu tố mật thiết tạo nên

sự phát triển kinh tế và đều cần được đối xử, được hưởng lợi ích từ sự phát triển

đó như nhau Do vậy, sự công bằng trong xã hội là một điều vô cùng cần thiết và đúng đắn

Để giải quyết vấn đề xuất phát từ thực tế nêu trên, việc sử dụng triết học Mác – Lênin với phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến sẽ là cơ sở lí luận

đúng đắn và chính xác nhất Do đó, tôi quyết đinh lựa chọn đề tài: “Phép biện

chứng về mối liên hệ phổ biến và vận dụng phân tích môi liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội” để nghiên cứu Khi nghiên cứu đề tài này,

tôi hi vọng sẽ tìm được cái nhìn khái quát hơn về mối liên hệ giữa sự bình đẳng trong xã hội với cuộc cách mạng xây dựng kinh tế; nhờ đó, góp một phần công sức nhỏ để tìm ra phương hướng, giải pháp thiết thực nhất có thể nhằm phát triển nền kinh tế một cách hiệu quả đồng thời duy trì được sự công bằng trong xã hội này

Trang 4

NỘI DUNG

I Phép biện chứng về mối liên hệ phổ biến

1 Phép biện chứng

Biện chứng là khái niệm dung để chỉ phương pháp xem xét những sự vật,

hiện tượng và những phản ánh của chúng trong tư tưởng trong mối quan hệ qua lại lẫn nhau của chúng, trong sự ràng buộc, vận động, phát triển và suy vong của chúng

Biện chứng gồm hai loại: biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan

Nếu biện chứng khách quan là biện chứng của các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất khách quan thì biện chứng chủ quan lại là những phản ảnh hiện thực khách quan vào ý thức, đầu óc con người

Phép biện chứng là phương thức khái quát những mối liên hệ phổ biến và

những qui luật chung nhất của mọi quá trình vận động, chuyển hóa, tương tác, phát triển của sự vật, hiện tượng trong đời sống xã hội và tư duy, qua đó trở thành công cụ hữu hiệu giúp ích cho quá trình nhận thức và thực tiễn

Trong quá trình phát triển của mình, phép biện chứng có đã trải qua ba

giai đoạn: phép biện chứng tự phát cổ đại, phép biện chứng duy tâm và phép biện

chứng duy vật

Phương pháp biện chứng duy vật là kết quả của việc kế thừa có chọn lọc

những tinh hoa của các nhà biện chứng đi trước, cụ thể nhất là Hêghen của Mác

và Ăngghen Họ đã gạt bỏ tính duy tâm, tính thần bí trong những cái tinh túy ấy Đồng thời, C Mác và Ph Ăngghen cũng chịu ảnh hưởng từ chủ nghĩa duy vật Phoiơbắc, thế nhưng họ đã khắc phục được tính siêu hình cứng nhắc của nó và dựa trên những thành quả khoa học đương thời Ở phương pháp biện chứng duy vật, ta có thể nhận ra sự thống nhất giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng Chưa hết, phương pháp biện chứng duy vật vì được kế thừa từ thành quả của nhiều nhà biện chứng đi trước nên nó được trình bày trên cơ sở của duy vật, trên nền tảng vững chắc của khoa học tự nhiên; do đó, nó phản ánh chính xác

sự liện hệ, sự vận động, sự phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Và cũng qua

Trang 5

đó, nó đã khắc phục được hạn chế của phép biện chứng tự phát thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại Phép biện chứng duy vật đã trở thành một học thuyết thực sự khoa học, một phương pháp luận đỉnh cao, hữu ích giúp nhận thức và cải tạo thế giới

2 Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến

a Khái niệm

Mối liên hệ là thuật ngữ chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, qui định và ảnh

hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong cùng 1 đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau

Mối liên hệ phổ biến là thuật ngữ dùng để chỉ tính phổ biến của các mối

liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trên thế giới (bao gồm cả tự nhiên, xã hội và

tư duy), không chừa ra bất kì sự vật, hiện tượng hay lĩnh vực nào Không những vậy, phạm vi của mối liên hệ phổ biến còn được mở rộng sang cả liên hệ giữa các đối tượng tinh thần và giữa chúng với đối tượng vật chất sinh ra chúng

Cơ sở của mối liên hệ phổ biến là tính thống nhất vật chất của thế giới

Mối liên hệ phổ biến có vô số mức độ và phạm vi, trong đó phép biện chứng duy vật với tư cách là khoa học triết học sẽ nghiên cứu các mối liên hệ phổ biến nhất, lấy đó làm tiền đề cho việc nghiên cứu các mối quan hệ cụ thể có thể

kể đến như: cái chung – cái riêng, bản chất – hiện tượng hay nguyên nhân – kết quả… Lấy ví dụ, mối liên hệ giữa cung và cầu chính là mối liên hệ phổ biến, tức cũng là mối liên hệ chung, nhưng mối liên hệ đó khi được thể hiện cụ thể thì lại rất khác nhau, có tính chất đặc thù tùy theo từng loại thị trường hàng hóa hay thời điểm cụ thể nào đó Khi nghiên cứu sâu vào một loại thị trường hàng hóa, không thể bỏ qua những chất riêng, chất đặc thù đó Nhưng cho dù khác nhau như thế nào, chúng vẫn tuân theo nguyên tắc chung của mối quan hệ cung – cầu

b Các tính chất của mối liên hệ phổ biến

Theo quan điểm của các nhà duy vật biện chứng, mối liên hệ gồm ba tính

chất cơ bản đó chính là: tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng, phong

phú

Trang 6

Thế giới này chính là một thể thống nhất mà trong đó các sự vật, hiện tượng

có sự liên hệ, sự tác động, tương tác qua lại lẫn nhau Các mối liên hệ, tác động

đó chính là yếu tố biểu hiện cho tính khách quan Sự quy định, tương tác với

nhau và làm chuyển hóa lẫn nhau đó chính là cái vốn có, cái bản chất của sự vật, hiện tượng và nó tồn tại một cách độc lập không phụ thuộc vào ý chí con người, con người chỉ có thể cảm nhận được sự vật thông qua các mối liên hộ vốn có của

nó và vận dụng các mối liên hệ đó vào trong các hoạt động thực tiễn của mình

Tính phổ biến trong các mối liên hệ được phản ảnh ở chỗ: trong tự nhiên, xã

hội và tư duy, các sự vật, hiện tượng không tồn tại một cách độc lập mà rang buộc lẫn nhau, luôn tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình vận động, phát triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong một hệ thống, chúng đều có mối liên hệ với nhau, không sự vật, hiện tượng nào nằm ngoài hệ thống đó Ví dụ, cùng trong môi trường Trái Đất, con người sinh sống, tồn tại và phát triển là nhờ việc khai thác, tác động vào giới tự nhiên; mặt khác, giới tự nhiên với vai trò là nơi sống của con người, cũng tác động lên cọn người: con người khai thác thiên nhiên quá đà thì thiên nhiên sẽ trả lại bằng giông tố, lũ lụt… đe dọa trực tiếp đến tuổi thọ của con người

Quan điểm biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin chỉ ra tính đa dạng, phong

phú của mối liên hệ được thể hiện qua: giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau đều

tồn tại các mối liên hệ cụ thể khác nhau, mang vai trò khác nhau đối với sự phát triền của nó Chưa hết, tuy cùng một mối liên hệ nhất định nhưng trong những điều kiện cụ thể khác nhau, ở những thời điểm khác nhau trong quá trình vận động, phát triển của sự vật, hiện tượng thì mối liên hệ đó sẽ có vai trò và tính chất khác biệt nhau Theo nghiên cứu, mối liên hệ có các loại sau: mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bên ngoài; mối liên hệ chủ yếu - thứ yếu, mối liên hệ trực tiếp - gián tiếp, mối liên hệ bản chất - không bản chất, mối liên hệ tất yếu - ngẫu nhiên

3 Ý nghĩa phương pháp luận về mối liên hệ phổ biến

Từ việc nghiên cứu nguyên lí về mối liên hệ phổ biến, chúng ta có thể rút

ra ý nghĩa phương pháp luận như sau:

Trang 7

a Quan điểm toàn diện

Đối với quan điểm biện chứng, mọi sự vật, hiện tượng, quá trình trên thế giới này không tồn tại riêng lẻ, độc lập mà giữa chúng có sự tác động qua lại, có

sự qui định, chuyển hóa lẫn nhau Đây chính là đặc điểm cơ bản vốn có của thế giới khách quan, đa dạng và mang tính phổ biến Do đó, để nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng con người phải tôn trọng quan điểm toàn diện, chống cách xem xét phiến diện, chiết trung và ngụy biện

Quan điểm toàn diện đòi hỏi con người phải có sự nhận thức về sự vật trong mối liên hệ giữa các yếu tố, các mặt và các bộ phận của chính sự vật và trong sự tương tác qua lại của sự vật đó đối với các sự vật khác Không những vậy, chúng ta còn cần phải biết phân loại từng mối quan hệ, xem xét có trọng tâm, trọng điểm và làm nổi bật đặc tính cơ bản nhất của sự vật, hiện tượng Chưa hết, quan điểm toàn diện còn đòi hỏi ta sau khi rút ra được mối liên hệ bản chất của sự vật, ta lại cần đặt mối liên hệ đó trong tổng thế các mối liên hệ của sự vật

được xem xét cụ thể trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể, rõ ràng

b Quan điểm lịch sử - cụ thể

Bởi một trong các tính chất của mối liên hệ phổ biến đó chính là tính đa dạng, phong phú nên sự vật, hiện tượng được đặt ở trong từng không gian, thời gian khác nhau thì các mối liên hệ sẽ được biểu hiện một cách khác nhau Chính

vì vậy, trong các hoạt động thực tiễn của mình, con người phải tôn trọng quan điểm lịch sử - cụ thể Đối với quan điểm này, nó đòi hỏi chúng ta khi đánh giá,

xử lí các sự vật, hiện tượng trong thực tiễn không được bỏ qua điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể trong đó sự vật, hiện tượng đó sinh ra, tồn tại, và phát triển như thế nào? Với mỗi sự vật, hiện tượng khi đặt trong hoàn cảnh khác nhau sẽ có đặc điểm khác nhau, vì vậy, cần phải dùng các biện pháp khác nhau để xử lí hiệu quả và đúng đắn

Trang 8

II Mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1 Khái quát

a Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc qui mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định

Tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở sự thay đồi về lượng của nền kinh tế Thế nhưng, sự bất bình đẳng kinh tế vẫn đang tồn tại ở một số nơi trên thế giới: người dân vẫn phải sống trong điều kiện túng quẫn, khó khăn, nghèo khổ dù thu nhập bình quân đầu người là cao Tốc độ tăng trưởng kinh tế được tính theo đơn

vị %, tính bằng cách lấy chênh lệch giữa quy mô kinh tế hiện tại so với qui mô kinh tế kỳ trước chia cho qui mô kinh tế kì trước

b Công bằng xã hội

Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế được thừa nhận khá thống nhất, đối với khái niệm công bằng xã hội vẫn còn nhiều ý kiến tranh luận cách họ diễn giải về khái niệm này cũng khác nhau Có nơi cho rằng công bằng xã hội là

"công bằng trong các cơ hội cho mọi người” Có chỗ thì lại nói công bằng xã hội

là công bằng trong các quan hệ “giữa cá nhân và xã hội, và giữa các cá nhân về cống hiến, hưởng thụ; về quyền lợi, nghĩa vụ” Lại có người khác thì nhấn mạnh công bằng xã hội: “là các giá trị định hướng cho quan hệ giữa các thành viên trong cộng đồng về cả vật chất và tinh thần”

Thế nhưng, chung qui lại, điều mà công bằng xã hội luôn hướng đến các thành viên đều có và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của bản thân phù hợp với các giá trị xã hội để khuyến khích tối đa khả năng đóng góp và hạn chế tối thiểu khả năng gây hại của mỗi cá nhân cho xã hội trong dài hạn

c Mối liên hệ giữa phát triển kinh tế với công bằng xã hội

Có một điều rõ ràng là: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là hai yếu tố cần thiết của một quá trình phát triển kinh tế Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất để thực hiện công bằng xã hội Ngược lại, công bằng xã hội tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Công bằng xã hội tồn tại khách quan, độc

Trang 9

lập, thế nhứng việc thi hành, thực hiện công bằng xã hội lại do con người điều khiển, chi phối Tăng trưởng kinh tế cũng vậy, nó sỉnh ra, tồn tại và phát triển đều phụ thuộc vào con người, chính vì nguyên do này nên nó tồn tại một cách chủ quan

Mối quan hệ giữa tăng trường kinh tế và công bằng xã hội được thể hiện rất rõ ràng rằng: Tăng trưởng kinh tế tạo điều kiện vật chất để con người thực hiện công bằng xã hội Không có tăng trưởng kinh tế thì cũng không có của cải

để thực hiện công bằng xã hội về phân phối, tăng thêm thu nhập, cải thiện phúc lợi và giảm nghèo Ngược lại, công bằng xã hội sẽ thúc đẩy con người, cho con người động lực để tạo ra tăng trưởng trong nền kinh tế Ví dụ, khi việc phân chia tiền công, khối lượng làm việc là công bằng giữa các nguồn lực lao động, cụ thể

là con người thì nó sẽ tự tạo ra động lực để thu hút và thúc đẩy công nhân làm việc hiệu quả, từng bước tạo ra tăng trưởng trong kinh tế

2 Hiện trạng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Để một quốc gia có thể thể vươn lên trong một thế giới phát triển sôi động như hiện nay thì việc phát triển nhanh và bền vững là một điều tất yếu Công bằng xã hội có quan hệ mật thiết với sự phát triển bền vững được xác định trên

cơ sở đóng góp tối đa và gây hại tối thiểu của mỗi thành viên trong xã hội đó

Sau hơn hai thập kỷ đổi mới, kinh tế Việt Nam với tốc độ tăng trưởng khá

ấn tượng đã đưa đời sống xã hội của nhân dân lên một vị trí mới So với 177 quốc gia và vùng kinh tế trên thế giới, GDP/đầu người của Việt Nam chỉ đạt thứ hạng 122, thế nhưng các chỉ số xã hội quan trọng đều ở vị trí khá cao: HDI ở thứ 105; tuổi thọ đạt hạng 56 và trình độ học vấn đứng thứ 57

Số liệu của Tổng cục Thống kê (GSO) cho thấy trong hơn hai thập kỷ vừa qua, khoảng cách giàu - nghèo của Việt Nam đã có sự giãn rộng ra Nguyên cớ của việc này là do xuất phát điểm từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, việc phân phối hiện vật mang tính bình quân, để rồi khi chuyển sang cơ chế thị trường, chênh lệch giàu - nghèo tăng là tất yếu Chênh lệch giàu - nghèo hiện ở mức trên 8 lần Đây được coi là khoảng chênh lệch là khá thấp trên thế giới và

còn trong khoảng có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng

Trang 10

Bên cạnh một số dấu hiệu khá khả quan nên trên, các dấu hiệu của ảnh hưởng tiêu cực bắt đầu xuất hiện Điểm nổi bật là trong hơn hai thập kỷ phát triển vừa qua, có tình trạng một số người nghèo lại trở nên nghèo hơn Cụ thể là, theo UNDP nhận định, người nghèo ở Việt Nam hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế chỉ bằng 76,6% so với mức bình quân của xã hội, trong khi người giàu hưởng lợi tới 115%, hay theo một bảng khảo sát thu nhập của dân chúng từ 1995-2004, nhóm dân giàu nhất tăng gấp 2,28 lần trong quãng thời gian 10 năm trong khi đó cùng thời gian thì nhóm nghèo nhất tăng 1,91 lần Hay theo số liệu về nghèo đói và bất bình đẳng qua nghiên cứu do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công bố cũng cho thấy nơi mà sự chênh lệch giàu - nghèo hiện hữu rõ nhất tập trung chủ yếu tại ba khu vực Tây Bắc, Đông Bắc và Tây Nguyên.Theo UNDP nhận định, người nghèo ở Việt Nam hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế chỉ bằng 76,6% so với mức bình quân của xã hội, trong khi lợi ích người giàu được hưởng lại lên tới con

số 115% Sự đầu tư và sự hưởng thụ về giáo dục, sức khỏe và các dịch vụ khác ngày càng nghiêng về phía người có nhiều tiền sống ở thành thị, trong khi những

gì tiêu cực lại đổ dồn về phía người ngheo, những nông dân nghèo

Bên cạnh đó, thu nhập bình quân đầu người ở nước ta còn thấp, đến năm năm 2018 mới đạt 2.600 USD (bằng 1/3 Trung Quốc và 1/4 Malaysia) Thu ngân sách nhà nước không đủ chi: tỷ trọng bình quân trong GDP giai đoạn 2011-2015 thu 22,3%/năm, chi 29,4%/năm; đến năm 2018 thu 25,7% nhưng chi tới 27,4%, quy mô thu ngân sách lại có xu hướng giảm Nguồn ngân sách chủ yếu phải dành cho chi thường xuyên và trả nợ, chi đầu tư phát triển thấp, chỉ trong khoảng 20% trong tổng dự toán chi ngân sách nhà nước hằng năm

Chưa hết, việc phát triển kinh tế yêu cầu vô vàn những yếu tố và môi trường cũng là một trong số đó Việc tác đông đến môi trường một cách tiêu cực

vô hình trung ảnh hưởng trực tiếp đến nhóm những người nghèo Lấy ví dụ đó chính là hiện tượng ô nhiễm do các nhà máy; ô nhiễm là một thủ phạm góp phần tăng tỷ lệ đói nghèo khi tiêu hao khả năng lao động của nhiều lao động chính trong gia đình hoặc là nguyên nhân trực tiếp làm chết đi cây trồng, vật nuôi của

bà con nông dân, những thứ làm mang lại cơm áo gạo tiền cho họ và gia đình

Ngày đăng: 11/01/2022, 10:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w