Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng 40 – 43 Nguyên nhân của cuộc khởi Hai Bà TrưngNguyên nhân trực tiếp: Bất bình trước chế độ cai trị hà khắc của chính quyền đô hộ phương Bắc, đầy áp bức, b
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
- &&
& -BÀI TIỂU LUẬN GIỮA KÌ
HỌC PHẦN: CƠ SỞ KHOA HỌC XÃ HỘI
Giảng viên : TS Nguyễn Văn Ngọ
TS Nguyễn Ngọc Ánh Sinh viên : Lê Thị Phương Thảo
Mã sinh viên : 20010727
Lớp học phần : TMT 3026-1
Trang 2Câu 1: Anh/ Chị hãy kể tên 10 cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống giặc ngoại xâm từ năm 40 sau công nguyên đến năm 1858, lựa chọn một cuộc khởi nghĩa mà anh chị thấy tiêu biểu và nêu diễn biến, kết quả và ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa đó.
1.1 Những cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta chống giặc ngoại xâm từ năm 40 sau công nguyên đến năm 1858:
STT Tên cuộc khởi nghĩa Thời gian Người lãnh đạo
1 Khởi nghĩa Hai Bà Trưng 40 - 43 Trưng Trắc, Trưng Nhị
2 Khởi nghĩa Bà Triệu 248 Triệu Thị Trinh
3 Khởi nghĩa Lý Bí 542 - 602 Lý Bí
4 Khởi nghĩa Triệu Quang Phục 548 - 571 Triệu Quang Phục
5 Khởi nghĩa Mai Thúc Loan 713 - 722 Mai Hắc Đế
6 Khởi nghĩa Phùng Hưng 766 - 791 Phùng Hưng
7 Khởi nghĩa Dương Đình Nghệ 931 - 938 Dương Đình Nghệ
8 Khởi nghĩa Lam Sơn 1418 - 1427 Lê Lợi
9 Khởi nghĩa Phan Bá Vành 1821? - 1827 Phan Bá Vành
10 Khởi nghĩa Nông Văn Vân 1833 - 1835 Nông Văn Vân
1.2 Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 – 43)
Nguyên nhân của cuộc khởi Hai Bà
TrưngNguyên nhân trực tiếp:
Bất bình trước chế độ cai trị hà khắc của chính quyền đô hộ phương Bắc, đầy áp bức, bóc lột, chèn ép nhân dân cùng với các chính sách đồng hóa người Việt tại Giao Chỉ Quan Tô Định bất nhân: Sự tham lam, tàn bạo, tăng phụ dịch và thuế khóa đã khiến đời sống nhân dân lầm than Điều này dẫn đến sự mâu thuẫn giữa nhân dân, các quan viên người Việt với chế độ thống trị của nhà Hán ngày càng gay gắt hơn
Nguyên nhân gián tiếp:
Trang 3Sự việc gia đình của Trưng Trắc: Thi Sách - chồng của Trưng Trắc bị quan thái thú Tô Định giết để dập tắt ý định chống đối của các thủ lĩnh dân ta nhưng nó lại phản tác dụng làm cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ
Diễn biến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng:
Diễn biến cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng được chia ra làm 2 lần Đó là:
Lần 1: Năm 40, sau Công Nguyên
Hai Hà Trưng là Trưng Trắc và Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa vào mùa xuân năm 40 (tháng 3 dương lịch) tại Hát Môn (nay là xã Hát Môn – Phúc Thọ – Hà Nội) Tương
1
Trang 4truyền, ngày xuất quân, bà Trưng Trắc đã đọc lời thề với non sông, sau được viết thành 4 câu thơ:
“Một xin rửa sạch nước thù Hai xin đem lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng Bốn xin vẹn vẹn sở công lênh này.”
(Thiên Nam ngữ lục, áng sử ca dân gian thế kỉ XVII)
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng bùng nổ và thu hút được hào kiệt khắp nơi về gia nhập: Nguyễn Tam Trinh (Mai Động – Hà Nội) đã dẫn 5000 nghĩa binh, nàng Quốc (Gia Lâm) dẫn hơn 2000 tráng sĩ, Nghĩa quân “hùng dũng như gió cuốn” đã nhanh chóng đánh bại được quân nhà Hán, làm chủ Mê Linh, rồi tiến về Cổ Loa và Lụy Châu
Quan thái thú Tô Định hoảng hốt phải bỏ thành, cắt tóc, cạo râu, lẻn trốn về Nam Hải (Quảng Đông – Trung Quốc) Quân Hán ở các quận huyện khác cũng bị đánh tan Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 đến đây đã giành được thắng lợi hoàn toàn
Lần 2: Năm 42, sau Công Nguyên
Năm 42, nhà Hán tăng cường chi viện, Mã Viện được vua Hán phong làm Phục ba tướng quân, chỉ đạo cánh quân xâm lược gồm: 2 vạn quân tinh nhuệ, 2 nghìn xe, thuyền các loại và nhiều dân phu Tháng 4 năm 42, chúng tấn công quân ta ở Hợp Phố, nhân dân ở Hợp Phố đã anh dũng chống trả nhưng vẫn gặp thất bại trước quân Hán
Sau khi chiếm được Hợp Phố, Mã Viện đã chia quân thành 2 đạo thủy, bộ tiến vào Giao Chỉ
- Đạo quân bộ: đi men theo bờ biển, lẻn qua Quỷ Môn Quan để xuống Lục Đầu
- Đạo quân thủy: đi từ Hợp Phố vượt biển tiến thẳng vào sông Bạch Đằng, rồi
ngược lên vùng Lục Đầu
=> Hai cánh quân hợp lại ở Lãng Bạc
Trang 5Sau khi nhận được tin tức, Hai Bà Trưng kéo quân từ Mê Linh về nghênh chiến với địch tại Lãng Bạc Quân ta giữ vững được Cổ Loa và Mê Linh nhưng Mã Viện tiếp tục truy đuổi ráo riết, buộc quân ta phải lùi về Cẩm Khê (nay thuộc Ba Vì – Hà Nội) Tháng 3 năm 43, Hai Bà Trưng hy sinh oanh liệt trên đất Cẩm Khê Sau khi Hai Bà Trưng hi sinh, cuộc kháng chiến vẫn kéo dài đến tháng 11 năm 43 sau đó mới bị dập tắt
Kết quả cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng dành được thắng lợi lần 1 vào năm 40 nhưng lại gặp phải thất bại sau khi nhà Hán tăng cường chi viện vào năm 42 và cuộc kháng chiến kéo dài đến hết năm 43 mới kết thúc
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng tuy cuối cùng vẫn gặp phải thất bại nhưng cũng đã giành được thắng lợi to lớn, mang lại 3 năm độc lập cho người Việt tại vùng đất Giao Chỉ
Ý nghĩa của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng
Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng năm 40 đã khôi phục được nền độc lập của dân tộc, mở ra một trang mới trong lịch sử
2
Trang 6Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cũng là cuộc khởi nghĩa đầu tiên chống lại sự cai trị
1000 năm Bắc thuộc của nhân dân Việt Nam, mở đầu cho quá trình khởi nghĩa, đấu tranh giữ nước của nhân dân ta
Trong và sau thời gian diễn ra cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã cho thấy được tinh thần yêu nước, ý chí quyết đấu, quyết thắng của nhân dân trong việc giành lại độc lập chủ quyền của đất nước
Khẳng định vai trò của người phụ nữ kiên cường, mạnh mẽ, quật cường đấu tranh
“giặc đến nhà đàn bà cũng đánh"
Câu 2: Anh/ Chị hãy tóm tắt quá trình phát triển cách mạng Việt Nam từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến năm 1945.
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của cuộc đấu tranh dân tộc và giai cấp quyết liệt của nhân dân Việt Nam, là sự sàng lọc nghiêm khắc của lịch sử trên con đường đấu tranh trong mấy thập kỷ đầu của thế kỷ XX Đảng ra đời là sản phẩm của
sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam trong thời đại mới Việc thành lập Đảng là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử cách mạng Việt Nam Từ đây, cách mạng giải phóng dân tộc của nhân dân ta đặt dưới sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng có đường lối cách mạng khoa học và sáng tạo, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ đảng viên kiên trung, nguyện suốt đời hy sinh cho lý tưởng của Đảng, cho độc lập của dân tộc cho tự do của nhân dân Đảng ra đời là sự chuẩn bị tất yếu đầu tiên có tính quyết định cho những bước phát triển nhảy vọt mới trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam Sau khi ra đời, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành chính quyền với ba cao trào cách mạng có ý nghĩa to lớn đưa đến thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, đó là:
1 Phong trào cách mạng 1930 – 1935
1.1 Phong trào cách mạng 1930 – 1931 với đỉnh cao Xô viết Nghệ - Tĩnh Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng kinh tế diễn ra gay gắt và phong trào cách mạng dâng cao, ngay sau khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tổ chức và lãnh đạo phong trào đấu tranh của quần chúng công - nông diễn ra trên quy mô rộng lớn khắp cả nước, lôi cuốn
Trang 7đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú, quyết liệt và đầy triệt để - với đỉnh cao Xô viết Nghệ - Tĩnh
Phong trào cách mạng 1930 – 1931 chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn do bị thực dân Pháp khủng bố dã man, nhưng đã để lại ý nghĩa lịch sử to lớn Phong trào khẳng định đường lối đúng đắn của Đảng, quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân đối với cách mạng; để lại cho Đảng ta nhiều bài học quý báu về công tác tư tưởng, xây dựng khối liên minh công nông và trên mặt trận dân tộc thống nhất, về tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh Phong trào có ý nghĩa như Cuộc tập dượt đầu tiên của Đảng và quần chúng cho Tổng khởi nghĩa tháng Tám sau này
1.2 Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (10 – 1930)
Hội nghị quyết định đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, ra Ban Chấp hành Trung ương chính thức đo Trần Phú làm Tổng bí thư và thông qua Luận cương chính trị của Đảng
3
Trang 8Luận cương xác định những vấn đề chiến lược và sách lược của cách mạng Đông Dương Hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng là đánh đổ phong kiến và đánh đổ
đế quốc Động lực cách mạng là giải cấp công nhân và nông dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cùng với các hình thức, phương pháp đấu tranh phong phú Tuy nhiên, luận cương chưa nêu được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Đông Dương lúc bấy giờ là cần đưa ngọn cờ giải phóng lên hàng đầu; đánh giá không đúng khả năng cách mạng của các tầng lớp khác
1.3 Đại hội đại biểu lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương (3 – 1935)
Đại hội xác định ba nhiệm vụ chủ yếu của Đảng trong thời gian trước mắt là: củng cố
và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chống chiến tranh đế quốc Đại hội thông qua Nghị quyết chính trị, điều lệ Đảng, … Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đánh dấu một mốc quan trọng: Đảng đã khôi phục được hệ thống từ trung ương đến địa phương cũng như khôi phục được các tổ chức quần chúng
2 Phong trào dân chủ 1936 – 1939
2.1 Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Đông Dương tháng 7 -1936
Tháng 7/1936, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do
Lê Hồng Phong chủ trì ở Thượng Hải (Trung Quốc)
Hội nghị dựa trên Nghị quyết Đại hội lần thứ VII của Quốc tế Cộng sản và căn cứ vào tình hình cụ thể của Việt Nam để định ra đường lối và phương pháp đấu tranh Hội nghị xác định:
- Nhiệm vụ chiến lược là chống đế quốc và phong kiến; nhiệm vụ trực tiếp là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít, chống chiến tranh; dòi tự do, dân sinh, dân chủ, cơm áo và hòa bình
- Phương pháp đấu tranh là kết hợp giữa các hình thức công khai và bí mật, hợp pháp
và bất hợp pháp
Trang 9- Thành lập Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương.
Đảng Cộng sản Đông Dương kêu gọi các đảng phái chính trị, các tổ chức quần chúng và nhân dân hành động đấu tranh cho dân chủ Phong trào lan rộng khắp cả nước Hội nghị Trung ương các năm 1937 và 1938 đã bổ sung và phát triển nội dung cơ bản của Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 7 – 1936 Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương thành 3 – 1938, Mặt trận Thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương đổi thành Mặt trận Thống nhất dân chủ Đông Dương (Mặt trận Dân chủ Đông Dương)
2.2 Phong trào đấu tranh đòi các quyền tự do, dân sinh, dân chủ
Từ giữa năm 1936, được tin Quốc hội Pháp sẽ cử một phái đoàn sang điều tra tình hình Đông Dương, Đảng chủ trương vận động và tổ chức nhân dân họp bàn về các yêu cầu tự do, dân chủ đề thảo ra các bản “dân nguyện” gửi tới phái đoàn, tiến tới triệu tập Đông Dương đại hội (8 – 1936)
Đầu năm 1937, lợi dụng sự kiện phái viên của chính phủ Pháp sang điều tra tình hình Đông Dương, Đảng tổ chức quần chúng mít tinh “đón rước”, nhưng thực chất
là biểu dương lực lượng
Trong những năm 1937 – 1939, các cuộc mít tinh, biểu tình đòi quyền sống của các tầng lớp nhân dân vẫn tiếp tục được diễn ra Đặc biệt là cuộc đấu tranh ngày 1/5/1938,
4
Trang 10lần đầu tiên trong ngày Quốc tế Lao động, các cuộc mít tinh được tổ chức công khai ở
Hà Nội và nhiều nơi khác, thu hút đông đảo quần chúng tham gia
+ Bằng sức mạnh đoàn kết của quần chings, dưới sự lãnh đạo của Đảng đã buộc chính quyền thực dân phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ: quần chúng được giác ngộ về chính trị và trở thành lực lượng chính trị hùng hậu của cách mạng: Đảng đã tích luỹ được nhiều bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng Mặt trận Dân tộc Thống nhất, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo quần chúng đấu tranh công khai, hợp pháp Đồng thời, Đảng thấy được những hạn chế của mình trong công tác mặt trận, vấn đề dân tộc, … Có thể nói, phong trào dân chủ 1936-1939 nhưu một cuộc tập dượt, chuẩn bị cho Tống khởi nghĩa tháng Tám sau này
3 Phong trào giải phóng dân tộc và Tổng khởi nghĩa tháng Tám (1939 – 1945)
3.1 Phong trào giải phóng dân tộc từ tháng 9/1939 đến tháng 3 – 1945
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tháng 11 – 1939
Tháng 11 – 1939, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được triệu tập tại
Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định) do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ chủ trì
Hội nghị xác định nhiệm vụ, mục tiêu đấu tranh trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của bọn thực dân đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống
tô cao, lãi nặng Khẩu hiệu lập chính quyền Xô viết công nông binh được thay thế bằng khẩu hiệu Chính phủ dân chủ cộng hòa
Đảng quyết định chuyển từ đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ sang đấu tranh đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai; từ hoạt động hợp pháp nửa hợp pháp sang hoạt
Trang 11động bí mật Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939 đánh dấu bước chuyển hướng quan trọng – đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đưa nhân dân ta bước vào thời kỳ trực tiếp vận động cứu nước
Những cuộc đấu tranh mở đầu thời kỳ mới
a Khởi nghĩa Bắc Sơn (27 – 9 – 1940):
Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ địa phương, nhân dân Bắc Sơn đã nổi dậy chặn đánh quân Pháp, chiến đồn Mỏ Nhài Chính quyền địch ở Bắc Sơn tan rã, nhân dân làm chủ châu lị và các vùng lân cận Đội du kích Bắc Sơn được thành lập
b Khởi nghĩa Nam Kì (23 – 11 – 1940):
Tháng 11 – 1940, xảy ra cuộc xung đột giữa thực dân Pháp và Thái Lan Chính quyền thực dân bắt thanh niên Việt Nam và Cao Miên đi làm bia đỡ đạn Nhân dân Nam Kỳ
và binh lính đã nổi dậy đấu tranh
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng được triệu tập từ ngày 6 đến ngày 9 - 11 –
1940, đã đề ra chủ trương trong tình hình mới: xác định kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương là đế quốc Pháp – Nhật, duy trì đội du kích Bắc Sơn
5
Trang 12Quyết định hoãn khởi nghĩa Nam Kì của Trung ương Đảng chưa tới nơi, nhưng lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy đã đến các địa phương, cuộc khởi nghĩa vẫn nổ ra đúng thời gian quy định là đêm 22 rạng sáng 23 – 11 – 1940
c Binh biến Đô Lương (13 – 1 – 1941):
Ngày 13 - 1 - 1941, binh lính đồn Chợ Rạng (Nghệ An) dưới sự chỉ huy của Đội Cung
đã nổi dậy Nhưng quân Pháp biết được kế hoạch nên toàn bộ binh lính tham gia đã đều bị bắt
Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương (5 – 1941)
Ngày 28 - 1 - 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cách mạng Người chủ trì Hội lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó (Cao Bằng) từ ngày
10 đến ngày 19-5- 1941
Giải quyết mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ độc lập dân tộc và cách mạng ruộng đất, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu và nhấn mạnh là nhiệm vụ "bức thiết nhất"; tiếp tục tạm gác khẩu hiệu "cách mạng ruộng đất", chi thực hiện khẩu hiệu giảm tô, giảm tức, chia lại ruộng công
Quyết định thành lập ở mỗi nước Đông Dương một mặt trận riêng Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) là mặt trận đoàn kết dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, tầng lớp, dân tộc, tôn giáo tín ngưỡng
Để ra chủ trương khởi nghĩa vũ trang, coi chuẩn bị khởi nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng toàn dân; chi rô một cuộc tổng khởi nghĩa bùng nổ và thắng lợi phải có
đủ điều kiện chủ quan, khách quan và phải nổ ra đúng thời cơ, đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa
Công tác chuẩn bị
Chuẩn bị về lực lượng chính trị: “ Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng”, Đảng ta
tích cực, chủ động, xây dựng lực lượng chính trị: