1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

hình thức chia di sản thừa kế theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 thực tiễn áp dụng các trường hợp bị tước quyền nhận di sản thừa kế

19 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 172,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sau khi thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của người chết để lại và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế, nếu tài sản không còn thì khi đó không còn tài sản để chia thừa kế và như vậy thì

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU 1

PHẦN 2: NỘI DUNG 1

1 Hình thức chia di sản thừa kế theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 1

1.1 Khái niệm 1

1.2 Phân chia di sản thừa kế cho những người thừa kế 5

1.3 Các căn cứ phân chia di sản thừa kế 8

1.4 Các nguyên tắc phân chia di sản thừa kế 10

2 Thực tiễn áp dụng các trường hợp bị tước quyền nhận di sản thừa kế 12

2.1 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó (điểm a khoản 1 điều 621) 12

2.2 Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản (Điểm b khoản 1 điều 621). 13

2.3 Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng (điểm c khoản 1 điều 621). 14

2.4 Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản (điểm c khoản 1 điều 621). 16

PHẦN 3: KẾT LUẬN 16

PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 17

Trang 2

PHẦN 1: LỜI MỞ ĐẦU

Trong Bộ luật dân sự nước ta cũng như nhiều Bộ luật dân sự của các nước trên thế giới , các quy định về thừa kế giữ vai trò quan trọng, nó thường được cấu thành thành một cơ cấu riêng Trong giao lưu dân sự, vấn đề thừa kế càng có ý nghĩa quan trọng , đặc biệt là khi cùng với sự phát triển của nền kinh

tế thị trường , tài sản của thành viên trong xã hội cũng được tăng lên đáng kể cả

về số lượng và giá trị của nó Thừa kế theo di chúc và thừa kế theo pháp luật là hai hình thức đặc trưng cho hai loại thừa kế khác nhau Dù ở hình thức nào thì việc xác định khối di sản thừa kế và phân chia di sản là một trong những yếu tố pháp lí hết sức quan trọng Có thể nói : “ di sản thừa kế là yếu tố quan trọng hàng đầu trong các án kiện và thừa kế Phân chia di sản thừa kế là vô cùng phức tạp và có rất nhiều tình huống xảy ra Đó là lý do em chọn đề tài : “ Hình thức chia di sản thừa kế theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015 Thực tiễn áp dụng các trường hợp bị tước quyền nhận di sản thừa kế”

PHẦN 2: NỘI DUNG

1 Hình thức chia di sản thừa kế theo quy định của bộ luật dân sự năm 2015

1.1 Khái niệm

1.1.1 Khái niệm di sản thừa kế

Từ xa xưa người Việt Nam đã biết dành dụm, chắt chiu cho các thế hệ sau Để nói về những gì đời trước, người trước để lại cho đời sau, người sau, người ta dung thuật ngữ di sản

Trang 3

Di sản là toàn bộ tài sản có giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu truyền, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác,

từ đời này sang đời khác, được bảo hộ về mặt pháp lí

Thuật ngữ di sản được dung khả phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống, song trong mỗi lĩnh vực thuật ngữ này lại được hiểu theo những nghĩa khác nhau Trên lĩnh vực pháp luât, thuật ngữ “di sản” được các nhà làm luật sử dụng để chỉ di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Nó được hiểu là phần tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết để lại cho người sống

Ở Việt Nam chưa có văn bản nào định nghĩa về di sản thừa kế mà chỉ liệt

kê về di sản thừa kế Điều 634, Bộ luật dân sự năm 2005 quy định: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác” Như vậy di sản thừa kế là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết bao gồm tài sản riêng, phần tài sản trong khối tài sản chung, cũng như các quyền về tài sản mà người đó được các cơ quan thẩm quyền giao khi còn sống

Khi nói về di sản thừa kế vẫn có nhiều quan điểm khác nhau ở các thời kì cũng khác nhau, đây là một vấn đề hết sức phức tạp

Quan điểm thứ nhất cho rằng: di sản thừa kế bao gồm tài sản và các nghĩa

vụ tài sản mà người chết để lại Tức là người để lại di sản khi còn sống ngoài tài sản mà họ có thì còn có các khoản nợ (nghĩa vụ dân sự) khác Các nghĩa vụ tài sản của họ để lại khi chết sẽ được dịch chuyển cho những người thừa kế Người thừa kế sẽ phải thực hiện việc thanh toán nợ của người chết để lại kể cả trong trường hợp tài sản của người chết không đủ để trả nợ và phải chịu trach nhiệm

vô hạn với nghĩa vụ đó Quan điểm này đã không còn phù hợp với sự phát triển của đất nước, Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 đã xoát bỏ quy lệ bất công này

Trang 4

Quan điểm thứ hai cho rằng: di sản thừa kế bao gồm tài sản và nghĩa vụ tài sản trong phạm vi người chết để lại Theo quan điểm này, người thừa kế không phải thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản riêng của mình mà chỉ trong phạm vi di sản của người chết để lại Quan điểm này khác với quan điểm thứ nhất ở chỗ, người thừa kế không phải chịu trách nhiệm một cách vô hạn đối với những khoản nợ của người chết để lại

Quan điểm thứ ba cho rằng: di sản thừa kế chỉ bao gồm các tài sản của người chết để lại mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản Đây là quan điểm phù hợp với quy định của BLDS 1995 và BLDS 2005 Vì:

Khi còn sống, người để lại di sản có quyền sở hữu hợp pháp đối tài sản

mà họ có được, bên cạnh đó, có thể còn có những nghĩa vụ tài sản đối với các chủ thể khác Các nghĩa vụ này phát sinh từ các giao dịch dân sự hoặc các quan

hệ pháp luật khác mà người để lại di sản chưa kịp thực hiện, toàn bộ tài sản cũng như nghĩa vụ tài sản sẽ được để lại là tất yếu Tuy nhiên, tất cả các yếu này của người chết để lại, gọi là cái của người trước để lại, được xác định là di sản chứ không là di sản thừa kế

Về mặt ngữ nghĩa: thừa kế là thừa hưởng của cải của người đã khuất Theo từ điển Tiếng việt thì thừa kế được đinh nghĩa là “ hưởng của người chết

để lại cho” Với ý nghĩa này thì không thể nói, người thừa kế được hưởng nghĩa

vụ tài sản hay được hưởng các tài sản nợ Những giá trị này không mang lại lợi ích cho người tiếp nhận thì không được coi là di sản Vì vậy không thể coi các nghĩa vụ là được thừa kế

Về phương diện truyền thống đạo đức: Cha mẹ sinh con ra thì có nghĩa

vụ chăm lo, nuôi nấng con cái Họ luôn cố gắng để tạo tiền đề vững chắc cho con cái sau này Người con, người cháu sẽ hưởng di sản thừa kế để làm ăn, phát triển cuộc sống và để lại cho con cái đời sau Một điều dĩ nhiên là những tài sản

mà người chết để lại phải thuộc quyền sở hữa của họ và không trái với các quy

Trang 5

định của pháp luật Quyền thừa kế và quyền sở hữu có mối quan hệ mật thiết với nhau Do tính chất vĩnh viễn và tuyệt đối của quyền sở hữu mà nguyên tắc liên tục của việc đảm nhận tư cách sở hữu đối với tài sản được đặt ra “ thừa kế

là việc dịch chuyển tài sản của người chết sang cho những người con sống” Như vậy với ý nghĩa trên, di sản thừa kế chỉ tài sản của người chết mà không bao gồm các nghĩa vụ tài sản

Về phương diện pháp lí: theo quy định tại khoản 1 điều 637 BLDS 2005 “ những người thừa kế có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ về tài sản trong phạm vi

di sản do người chết để lại…” Ngoài việc nhận di sản thì người thừa kế phải có trách nhiệm thanh toán các khoản nợ do người chết để lại Ở đây người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản mà người chết để lại không phải với tư cách là một chủ thể mới, họ không thay thế vị trí của chủ thể, họ thực hiện nghĩa vụ tài sản bằng tài sản của người chết để lại, nợ của người chết không phải là nợ của người hưởng di sản Sau khi thanh toán toàn bộ nghĩa vụ của người chết để lại

và những chi phí liên quan đến di sản thừa kế, nếu tài sản không còn thì khi đó không còn tài sản để chia thừa kế và như vậy thì không có quan hệ nhận di sản thừa kế Nếu tài sản còn để chia cho người có quyền hưởng di sản thì phần di sản còn lại này mới được coi là di sản thừa kế

Tóm lại, Di sản thừa kế là phần di sản còn lại sau khi đã thanh toán nghĩa

vụ của người chết để lại và các chi phí liên quan đến di sản Di sản này sau khi tách phần di sản dùng vào việc thờ cúng và di tặng (nếu người để lại di sản có xác định)sẽ chia theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật cho những người thừa kế

1.1.2 Khái niệm phân chia di sản thừa kế

Hiện nay do sự phát triển của kinh tế xã hội, dẫn đến tài sản tích lũy của mỗi gia đình, cá nhân ngày càng nhiều Vì vậy các tranh chấp liên quan đến các vấn đề thừa kế ngày càng gia tăng Đích cuối cùng của tranh chấp thừa kế là xác

Trang 6

định di sản và phân chia di sản đúng để đảm bảo quyền và lợi ích của các chủ thể có liên quan

Thế nào là phân chia di sản thừa kế?Phân chia di sản thừa kế là tập hợp các hoạt động nhằm xác lập quyền sở hữu đối với phần di sản cho từng người một có quyền hưởng thừa kế trong khối di sản chung sau khi đã thực hiện nghĩa

vụ tài sản từ di sản Chấm dứt tình trạng nhiều người cùng có quyền được hưởng thừa kế từ một hoặc nhiều tài sản do người chết để lại

Khái niệm phân chia di sản chỉ đặt ra khi có ít nhất từ 2 người có quyền thừa kế trở lên còn nếu như chỉ có 1 người duy nhất có quyền hưởng di sản thì chỉ có mình họ phải thực hiện các nghĩa vụ tài sản của người chết để lại và cũng chỉ mình họ được sở hữu khối tài sản

1.2 Phân chia di sản thừa kế cho những người thừa kế

Kể từ thời điểm mở thừa kế, bất cứ lúc nào những người thừa kế cũng có quyền yêu cầu phân chia di sản Phụ thuộc vào sự thỏa thuận của những người thừa kế mà di sản có thể đem chia ngay lúc đó hoặc sau một thời gian Vì thế, việc cử người quản lí di sản để đảm bảo còn nguyên giá trị của di sản là rất quan trọng Ngoài ra còn phải xác định chính xác di sản thừa kế mà người chết để lại Việc xác định này căn cứ vào giấy tờ, tài liệu chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng hợp pháp đối với khối tài sản đó Đối với trường hợp di sản thừa kế thuộc

sở hữu chung thì việc xác định tài sản chung của người để lại di sản có thể dựa trên những thỏa thuận đã có từ trước hoặc căn cứ vào văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Việc phân chia di sản thừa kế có hai trường hợp

Đó là:

Thứ nhất, chia thừa kế theo di chúc

Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết

Trang 7

Hiện nay pháp luật công nhận 4 loại di chúc là di chúc: di chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc có người làm chứng, di chúc có chứng thực, di chúc có công chứng

Để đảm bảo di chúc có hiệu lực pháp luật, đảm bảo việc thực hiện di chúc thì di chúc phải đảm bảo các nội dung như sau:

– Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép Di chúc phải mang tính chất tự nguyện, đó là điều kiện để một giao dịch dân sự có hiệu lực pháp luật Vì lập di chúc là một giao dịch dân sự nên phải có sự tự nguyện của người lập di chúc Nếu di chúc không

có tính tự nguyện, mà việc lập di chúc bị áp đặt ý chí thông qua các hành vi cưỡng ép, ép buộc thì di chúc sẽ bị vô hiệu

– Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức, không trái với truyền thống văn hóa của dân tộc Hình thức của di chúc tuân theo quy định tại điều 628, 633, 634, 635 BLDS 2015

Theo quy định tại Điều 659 bộ luật dân sự 2015 về phân chia di sản theo

di chúc được thực hiện như sau:

– Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc; nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

– Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia

di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Trang 8

– Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.”

Về nguyên tắc, di sản thừa kế sẽ được phân chia theo ý chí của người để lại di chúc, trừ trường hợp quy định tại Điều 644 bộ luật dân sự 2015:

“Điều 644 Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1 Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động

2 Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.”

Do đó, trong trường hợp người lập di chúc không cho con chưa thành niên, cha,mẹ, vợ chồng hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động hưởng phần di sản hoặc cho những người này hưởng ít hơn hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật thì họ vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc

Thứ hai, chia thừa kế theo pháp luật:

Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định

Trang 9

Theo Điều 650 bộ luật dân sự 2015 quy định những trường hợp thừa kế theo pháp luật bao gồm:

“1 Thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp sau đây:

a) Không có di chúc;

b) Di chúc không hợp pháp;

c) Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;

d) Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không

có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

2 Thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với các phần di sản sau đây:

a) Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;

b) Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;

c) Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng

họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Việc phân chia di sản theo pháp luật được thực hiện theo quy định tại Điều 660 bộ luật dân sự 2015, theo đó:

– Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa

kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng

Trang 10

– Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận

về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia

Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản

1.3 Các căn cứ phân chia di sản thừa kế

1.3.1 Khái niệm căn cứ phân chia di sản thừa kế

Khi phân chia di sản thừa kế thì dù có phân chia theo di chúc hay phân chia theo pháp luật thì cũng đều phải căn cứ theo những quy định chung của pháp luật Trong bộ luật dân sự Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể về khái niệm căn cứ pháp lí phân chia di sản thừa kế Đây là một điều bất cập trong bộ luật dân sự Việt Nam Theo ý nghĩa của từ căn cứ trong từ điển Tiếng việt và theo những quy định của pháp luật hiện hành, chúng ta có thể hiểu: “ căn cứ phân chia di sản thừa kế là những sự kiện pháp lí mà trên cơ sở đó các chủ thể tiến hành việc phân chia di sản thừa kế”

1.3.2 Các căn cứ phân chia

- Theo sự thỏa thuận của những người thừa kế

Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích việc thỏa thuận, tự nguyện khi phân chia di sản thừa kế của những người thân quen trong gia đình Điều 4 BLDS 2005 đã ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận, thống nhất về cách chia thì đó

có thể là căn cứ để phân chia di sản thừa kế Tòa án chỉ tham gia giải quyết

Ngày đăng: 11/01/2022, 09:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w