- Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người khác theo ý chí của người đó khi còn sống hoặc theo
Trang 1ĐỀ TÀI 6: Quyền thừa kế theo quy định của bộ luật Dân sự 2015 Việc áp dụng trường hợp người nhận di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung
Di chúc.
MỤC LỤC
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
PHẦN 2: NỘI DUNG 2
I Quyền thừa kế theo quy định của bộ luật Dân sự 2015 2
1 Các Khái niệm: 2
1.1 Khái niệm thừa kế 2
1.2 Khái niệm quyền thừa kế 2
2 Một số quy định chung về thừa kế 2
2.1 Người để lại di sản thừa kế: 3
2.2 Di sản thừa kế:( theo khoản 1 điều 637 - Bộ luật Dân Sự) 3
2.3 Người thừa kế: 3
2.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế 3
2.5 Người quản lý di sản, nghĩa vụ và quyền của người quản lý di sản 5
2.6 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế 7
2.7 Các hình thức thừa kế 9
II Việc áp dụng trường hợp người nhận di sản thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc 11
PHẦN 3: KẾT LUẬN 13
PHẦN 4: TÀI LIỆU THAM KHẢO 14
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
Trong bất kỳ chế độ xã hội có giai cấp nào, vấn đề thừa kế cũng có vị trí quan trọng trong các chế định pháp luật, là hình thức pháp lý chủ yếu để bảo vệ các quyền công dân Chính vì vậy thừa kế đã trở thành một nhu cầu không thể
Trang 2thiếu được đối với đời sống mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội Mỗi nhà nước dù có các xu thế chính trị khác nhau, nhưng đều coi thừa kế là một quyền cơ bản của công dân và được ghi nhận trong hiến pháp
Thừa kế tồn tại và phát triển cùng với xã hội loài người, thừa kế được hiểu là việc chuyển dịch tài sản (của cải) của người chết cho người còn sống theo truyền thống, phong tục tập quán của từng dân tộc Người hưởng tài sản có nghĩa vụ duy trì, phát triển giá trị vật chất, giá trị tinh thần và truyền thống, tập quán mà hệ trước để lại Trong xã hội có giai cấp, quan hệ thừa kế là đối tượng điều chỉnh của pháp luật, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt được những mục đích nhất định
Quan hệ thừa kế tồn tại song song với quan hệ sở hữu và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người Mặt khác, quan hệ sở hữu là quan hệ giữa người với người về việc chiếm hữu của cải vật chất trong xã hội, trong quá trình sản xuất, lưu thông phân phối của cải vật chất.Sự chiếm hữu vật chất này thể hiện giữa người này với người khác, giữa tập đoàn người này với tập đoàn người khác, đó là tiền đề để làm xuất hiện quan hệ thừa kế.Sở hữu cũng là một yếu tố khách quan xuất hiện ngay từ khi có xã hội loài người và cùng với thừa
kế, chúng phát triển cùng với xã hội loài người
PHẦN 2: NỘI DUNG
I Quyền thừa kế theo quy định của bộ luật Dân sự 2015.
1 Các Khái niệm:
1.1 Khái niệm thừa kế
Thừa kế là sự chuyển dịch tài sản của người chết cho những người còn sống
1.2 Khái niệm quyền thừa kế
- Theo nghĩa hẹp, quyền thừa kế là quyền của cá nhân để lại tài sản của mình sau khi chết cho người khác
Trang 3- Theo nghĩa rộng, quyền thừa kế là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người khác theo
ý chí của người đó khi còn sống hoặc theo một trình tự nhất định Mặt khác, các quy phạm pháp luật ghi nhận và quy định trình tự thực hiện và bảo vệ các quyền của người có tài sản, quyền của người thừa kế và các chủ thể khác trong quan hệ thừa kế
2 Một số quy định chung về thừa kế
2.1 Người để lại di sản thừa kế:
Là người mà sau khi chết có tài sản để lại cho người khác theo trình tự thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật
2.2 Di sản thừa kế:( theo khoản 1 điều 637 - Bộ luật Dân Sự)
- Di sản thừa kế bao gồm: tài sản riêng, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác, quyền sử dụng đất cũng thuộc di sản thừa
kế và được để lại thừa kế
- Tài sản riêng tức là những tài sản thuộc phần sở hữu riêng của ngườichết đứng tên lúc còn sống Tài sản chung với người khác là phần tài sản do lúc còn sống người chết đã đồng tạo ra cùng chung với một người khác, thì lúc chết phần tài sản đó cũng được đưa vào di sản của người chết 2.3 Người thừa kế:
- Nếu là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết Nếu là tổ chức thì phải tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế
- Người thừa kế nhận di sản của người chết thì phải thực hiện những nghĩa
vụ tài sản của người chết để lại
2.4 Thời điểm, địa điểm mở thừa kế
2.4.1 Thời điểm mở thừa kế:
Thời điểm mở thừa kế là thời điểm phát sinh quan hệ thừa kế Theo quy định tại khoản 1 Điều 611 Bộ luật dân sự 2015 (BLDS) quy định Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết Trường hợp Tòa
Trang 4án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được Tòa án xác định ngày chết của người bị tuyên bố là đã chết
Việc xác định thời điếm mở thừa kê rất quan trọng Kể từ thời điểm
đó, xác định được chính xác tài sản, quyền và nghĩa vụ về tài sản của người để lại thừa kế gồm cả những gì và đến khi chia di sản còn bao nhiêu Thời điểm mở thừa kế là căn cứ xác định những người thừa kế của người đã chết, vì người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm
mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kề nhưng đã thành thai trước khi người để lại dị sản chết,
Trong trường hợp Toà án đã tuyên bố một người là đã chết, thì tùy từng trường hợp tòa án xác định ngày chết của người đó; nếu không xác định được ngày chết, thì ngày quyết định của Toà án tuyên bố người đó đã chết có hiệu lực pháp luật được coi là ngày người đó chết
Ví dụ :Trong một tai nạn máy bay, lũ lụt… theo yêu cầu của thân nhân người bị tai nạn, đề nghị Toà án tuyên bố ngưởi chết, mà qua điều traa xác minh, nếu biết chính xác được ngày xảy ra tai nạn, thì Toà án có thể tuyên bố ngày chết của người bị tai nạn là ngày xảy ra tai nạn
2.4.2 Địa điểm mở thừa kế
Khoản 2 Điều 611 BLDS quy định: “Địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản; nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ di sản hoặc nơi có phần lớn di sản.”
Địa điểm mở thừa kế được xác định theo đơn vị hành chính cấp cơ
sở (xã, phường thị trấn)
Trang 5BLDS quy định địa điểm mờ thừa kế, vì ở nơi đó thường phải tiến hành những công việc như: Kiểm kê ngay tài sản của người đã chết (trong trường hợp cần thiết); xác định những ai là người thừa kế theo di chúc hoặc theo luật; người từ chối nhận di sản…
Ngoài ra, nếu có người trong diện thừa kế từ chấp nhận di sản, thì phải thông báo cho cơ quan Công chúng nhà nước hoặc UBND xã phường, thị trấn nơi mở thừa kế về việc từ chối nhận di sản Hơn nữa, trong trường bợp có tranh chấp thì Toà án nhân dân nơi mở thừa kế có thẩm quyền giải quyết
Trong thực tế, một người trước khi chết có thể ở nhiều nơi khác nhau, do đó, BLDS quy đinh địa điểm mở thừa kế là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản Trong trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng, thì địa điểm mở thừa kế là nơi có toàn bộ hoặc phần lớn di sản
2.5 Người quản lý di sản, nghĩa vụ và quyền của người quản lý di sản
2.5.1 Người quản lý di sản là Người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra (Khoản 1 Điều 616 Bộ luật Dân sự 2015)
Trường hợp di chúc không chỉ định và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản
Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 616 Bộ luật Dân sự thì di sản
do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý
2.5.2 Nghĩa vụ của người quản lý tài sản
Trang 6Theo quy định tại Điều 617 Bộ luật dân sự, người quản lí di sản thừa kế
có những nghĩa vụ cơ bàn sau:
- Lập danh mục di sản, thu hồi tài sản thuộc di sản của người chết mà người khác đang chiếm hữu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác
- Bảo quản di sản, không được bán, ttao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp và định đoạt tài sản bằng các hình thức khác nểu không được những người thừa kế đồng ý bằng văn bản
Người quản lí di sản thừa kế không phải là sở hữu chủ nên không có quyền định đoạt tài sản mà mình đang quản lí Việc định đoạt những tài sản đó thuộc về những người thừa kể, do đó nếu muốn bán, ttao đổi, tặng cho, cầm cố, thế chấp thì phải được tất cả những người thừa kế đồng ý bằng văn bản
Thông báo về tình trạng di sản cho những người thừa kế
Nếu có nhiều người thừa kế theo di chúc hoặc theo luật thì phải thông báo cho tất cả những người có quyền thừa kế để họ biết cụ thể về di sản thừa kế biết được quyền và nghĩa vụ của họ liên quan đến việc thừa kể
Bồi thường thiệt hại nếu vi phạm nghĩa vụ của mình mà gây thiệt hại Nghĩa vụ của người quản lí di sản là phải bảo quản tài sản, không làm hư hỏng, mất tài sản Trường hợp người quản lí di sản có lỗi để di sản bị hao hụt, mất thì phải bồi thường cho những người thừa kế
Giao lại di sản theo yêu cầu của người thừa kế
Người quản lí di sản có quyền quản lí trong một thời gian nhất định theo thoả thuận của những người thừa kế Trong trường hợp người lập di chúc chỉ định người quản lí di sản thì người này sẽ quản lí đến khi nào tất cả những người thừa kế yêu cầu chuyển di sản để họ chia nhau, người quản lí di sản phải giao lại theo yêu cầu của họ Mục đích cử người quàn lí di sản là để tránh sự mất mát,
hư hỏng và có người bảo quản tài sản khỉ chưa chia
Trang 72.5.3 Quyền của người quản lý tài sản Theo quy định tại khoản 1 Điều 618 Bộ luật dân sự năm 2015, người quản
lí di sản theo thoả thuận hoặc do người lập di chúc cử ra có các quyền sau:
Đại diện cho những người thừa kế ừong quan hệ với người thứ ba liên quan đển di sản thừa kế
Người quản lí di sản thực tế là người đại diện của những người thừa kế ữong việc thu hồi, bảo quản, thanh toán các nghĩa vụ liên quan đến tài sản đổi với người thứ ba
Được hưởng thù lao theo thóả thuận với những người thừa kể
Người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lí di sàn quy định tại khoản 2 Điều
616 của Bộ luật dân sự có các quyền sau:
- Được tiếp tục sử dụng di sản theo thoả thuận trong hợp đồng với người để lại di sản hoặc được sự đồng ý của những người thừa kế
- Được hưởng thù lao theo thoả thuận với những người thừa kế
- Được thanh toán chi phí bảo quản di sản
- Trường hợp không đạt được thoả thuận với những người thừa kế về mức thù lao thì người quản lí di sản được hưởng một khoản thù lao hợp lí
Quyền của người quản lí di sản theo quy định tại Điều 618 Bộ luật dân sự
đã bảo đảm quyền và lợi ích cơ bản của người quản lí di sản trong việc thanh toán chi phí bảo quản di sản Từ thời điểm mở thừa kế, cho đến khi di sản thừa
kế được chia cho những người thừa kế có quyền hưởng hoặc theo di chúc hoặc theo pháp luật là một khoảng thòi gian nhất định Vì vậy, việc quản lí di sản thừa kế chưa chia là cần thiết, tránh mất mát, hao hụt, hư hỏng Nhằm bảo quản
di sản thừa kế chưa chia, người quản ỉí di sản có thể tìm những giải pháp tốt nhất để bảo quản di sản như mua sắm vật liệu che mưa, che nắng, bảo quản tránh hư hỏng, hao hụt, tiêu huỷ theo thời gian trong môi trường cụ thể hoặc phải thuê kho, thuê mặt bằng để tập kết và bảo quản di sản là những động sản,
Trang 8xây dựng hàng rào để bảo quản nhà cửa, bảo vệ vật nuôi, bảo quản cây trồng và những tài sản thuộc di sản thừa kế Vì vậy, pháp luật quy định người quản lí di sản được hoàn trả chi phí hợp lí để bảo quản di sản (khoản 3 Điều 618 Bộ luật dân sự)
2.6 Thời hiệu khởi kiện về thừa kế
Trước đây, theo Bộ luật Dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế được quy định như sau: “Thời hiệu khởi kiện để người thừa kế yêu cầu chia di sản, xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa
kế của người khác là 10 năm kể từ thời điểm mở thừa kế Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản của người chết để lại là 3 năm,
kể từ thời điểm mở thừa kế”
Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, việc chia thừa kế vẫn phải theo thời hiệu
do pháp luật quy định Tuy nhiên, Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phân ra hai trường hợp cụ thể: thời hiệu khởi kiện đối với bất động sản là 30 năm, đối với động sản là 10 năm Điều đó có nghĩa là: đối với tài sản là bất động sản, thời hiệu này được kéo dài hơn so với BLDS năm 2005, điều này phù hợp với thực tế hơn, các quyền dân sự của công dân được bảo vệ triệt để hơn, các mâu thuẫn trong tranh chấp dân sự về di sản có điều kiện được giải quyết phù hợp và thỏa đáng hơn
Tại Điều 623 của BLDS năm 2015 quy định: “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể
từ thời điểm mở thừa kế Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó”
Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế
Trang 9Ngoài quy định về thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, BLDS năm 2015 còn quy định rất rõ phương án giải quyết hậu quả đối với những di sản thừa kế
đã hết thời hiệu khởi kiện 30 năm hoặc 10 năm, đó là: Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản thuộc về các chủ thể theo thứ tự như sau:
a) Nếu người đang quản lý di sản là người thừa kế thì di sản thuộc quyền
sở hữu của họ
b) Nếu người đang quản lý di sản không phải là người thừa kế thì phân chia thành hai trường hợp:
+ Nếu người đang quản lý di sản là người đang chiếm hữu, người được lợi
về tài sản không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai
và phù hợp với pháp luật thì di sản thuộc quyền sở hữu của người này + Trong trường hợp không có người chiếm hữu, người được lợi về tài sản thì di sản thuộc về Nhà nước
Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định như trên tạo cơ sở pháp lý cho cơ quan Nhà nước trong quá trình giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế, mặt khác
để bảo vệ các quyền dân sự nói chung, quyền tài sản nói riêng của người dân 2.7 Các hình thức thừa kế
Khái
niệm
Là thừa kế theo ý chí nguyện vọng của người để lại di sản trước khi chết
Là thừa kế theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế
do pháp luật quy định (Điều
649 BLDS 2015)
Đối
tượng
thừa kế
Những cá nhân, tổ chức được người lập di chúc đề cập là người nhận di sản trong di
– Các cá nhân có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng đối với người để lại di sản
Trang 10chúc và đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
(Điều 651) – Cha mẹ, vợ chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng mất khả năng lao động được pháp luật bảo vệ quyền thừa kế mà không phụ thuộc vào nội dung di chúc (Điều 664)
– Con riêng và bố dượng, mẹ
kế (Điều 654)
Hình
thức
Phải được lập bằng văn bản, nếu không lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc bằng miệng (Điều 627)
– Văn bản thỏa thuận có công chứng về việc phân chia di sản của các đồng thừa kế
– Nếu có tranh chấp thừa kế thì theo quyết định của tòa án
về phân chia di sản
Trường
hợp
được
thừa kế
Theo ý chí, nguyện vọng của
cá nhân khi lập di chúc, người thừa kế là cá nhân phải còn sống vào thời điểm mở thừa
kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm
mở thừa kế (Điều 613)
– Không có di chúc;
– Di chúc không hợp pháp; – Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
– Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc
mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản (Điều 650)
Thừa kế
thế vị Không có thừa kế thế vị
Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại
di sản thì cháu được hưởng