1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ *********** BÁO CÁO TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG CỦA CHẤT THẢI NHỰA, CÁCH XỬ LÝ CHẤT THẢI NHỰA
Trang 11
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
***********
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG CỦA CHẤT THẢI NHỰA, CÁCH XỬ LÝ CHẤT THẢI NHỰA CỦA NGƯỜI DÂN Ở KHU DÂN CƯ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI NHỰA
Giảng viên hướng dẫn : THS HỒ BÍCH LIÊN
Bình Dương, tháng 12 năm 2020
Trang 22
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA KHOA HỌC QUẢN LÝ
***********
BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: ĐÁNH GIÁ NHẬN THỨC VỀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG CỦA CHẤT THẢI NHỰA, CÁCH XỬ LÝ CHẤT THẢI NHỰA CỦA NGƯỜI DÂN Ở KHU DÂN CƯ VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP HIỆU QUẢ TRONG XỬ LÝ CHẤT THẢI NHỰA
Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin được cam đoan: Đề tài “Đánh giá nhận thức về tác hại đối với môi trường của chất thải nhựa, cách xử lý chất thải nhựa của người dân ở khu dân
cư và đề xuất biện pháp hiệu quả trong xử lý chất thải nhựa” được tiến hành công khai, dựa trên sự cố gắng, nỗ lực của mình, dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của Ths Hồ Bích Liên
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung thực và hoàn toàn không sao chép hoặc sử dụng kết quả của đề tài nghiên cứu nào tương tự Ngoài
ra, trong bài báo cáo có sử dụng một số nguồn tài liệu tham khảo, giúp đỡ cho việc xây dựng cơ sở lý luận đều đã được trích dẫn nguồn và ghi nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Bình Dương, ngày 25 tháng 11 năm 2020 Sinh viên
Phạm Thị Ngọc Thịnh
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô ở Khoa Quản Lý- Trường Đại học Thủ Dầu Một đã truyền đạt vốn kiến thức quý báu cho chúng em trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt trong học kì này em xin gửi lời cám ơn đến cô Hồ Bích Liên, người đã tận tình hướng dẫn em hoàn thiện bài báo cáo tốt nghiệp này
Em xin chân thành cảm ơn các bác các cô, chú, anh, chị tại thị xã Tân Uyên và thành phố Thủ Dầu Một đã hết lòng giúp em thực hiện phiếu khảo sát
Do thời gian và địa bàn khảo sát khá rộng với vốn kiến thức nhất định của
em nên khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiết sót, em rất mong nhận được ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô
Em xin chân thành cảm ơn!
Bình Dương, ngày 25 tháng 11 năm 2020 Sinh viên
Phạm Thị Ngọc Thịnh
Trang 5iii
TÓM TẮT BÁO CÁO TỐT NGHIỆP
Đề tài “Đánh giá nhận thức về tác hại đối với môi trường của chất thải nhựa, cách xử lý chất thải nhựa của người dân ở khu dân cư và đề xuất biện pháp hiệu quả trong xử lý chất thải nhựa” được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 09/2020 đến tháng 11/2020
Đề tài bao gồm các nội dung chính sau:
Chương Mở Đầu: giới thiệu nội dung, ý nghĩa và mục tiêu nghiên cứu đề tài
Chương 1: Nêu lên một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu, nguồn gốc phát sinh rác thải nhựa, mối quan hệ giữa môi trường và rác thải nhựa, thực trạng về rác thải nhựa hiện nay, các vấn đề về rác thải nhựa liên quan đến sức khỏe con người và các nghiên cứu về rác thải nhựa tại Việt Nam Chương 2: Giới thiệu về đối tượng phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của đề tài
- Hoạt động giảm thiểu rác thải tại địa phương do người dân tổ chức
- Từ đó đề tài đã tìm đưa ra các đề xuất giải pháp giảm thiểu rác thải nhựa cho địa phương như giảm sử dụng đồ nhựa, xử lý rác thải nhựa bằng phương pháp thích hợp, tái chế sử đồ nhựa đã qua sử dụng
Trang 6iii
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 7
iv
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 8
v
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 ĐẶT VẤN ĐỀ 1
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 3
1.1.1 Khái niệm về nhựa 3
1.1.2 Khái niệm rác thải nhựa 3
1.1.3 Ô nhiễm rác thải nhựa 3
1.1.4 Khái niệm về nhận thức 3
1.2 NGUỒN GỐC PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA 4
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ RÁC THẢI NHỰA 5
1.4 THỰC TRẠNG VỀ RÁC THẢI NHỰA HIỆN NAY 5
1.4.1 Vấn đề ở Việt Nam 5
1.4.2 Vấn đề trên thế giới 7
1.5 ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI NHỰA ĐỐI VỚI MÔI TRƯỜNG SINH THÁI, SỨC KHỎE CON NGƯỜI VÀ KINH TẾ XÃ HỘI 9
1.5.1 Tác động đến môi trường đất 9
1.5.2 Tác động đến môi trường không khí 9
1.5.3 Tác động đến môi trường nước 9
1.5.4 Tác động đến sức khỏe con người 14
1.5.5 Tác động đến kinh tế xã hội 14
1.6 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM 15
1.6.1 Nhận thức và quan điểm về chất thải nhựa tại các tỉnh thành 15
Trang 9vi
1.6.2 Nhận thức về việc sử dụng, thải loại, phân loại và thu gom chất thải rắn
và rác thải nhựa 17
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.1 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 20
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 20
2.1.2 Phạm vi nghiên cứu 20
2.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp 20
2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp 20
2.2.3 Phương pháp lập phiếu khảo sát 20
2.2.4 Phương pháp xử lý số liệu 21
2.3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 21
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 24
3.1 HIỆN TRẠNG RÁC THẢI NHỰA TẠI ĐỊA PHƯƠNG 24
3.1.1 Tình hình sử dụng rác thải nhựa 24
3.1.2 Vấn đề xử lý rác thải nhựa tại địa phương 25
3.2 HIỂU BIẾT CỦA NGƯỜI DÂN VỀ RÁC THẢI NHỰA 26
3.2.1 Hiểu biết của người dân về ô nhiễm rác thải nhựa 26
3.2.2 Mức độ ảnh hưởng của ô nhiễm rác thải nhựa đến sức khỏe và môi trường xung quanh 28
3.2.3 Mức độ nhận thức của người dân về giảm thiểu rác thải nhựa 32
3.2.4 Những hoạt động của người dân về công tác giảm thiểu rác thải nhựa, công tác tuyên truyền của tỉnh 35
3.3 SO SÁNH MỨC ĐỘ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN TẠI INDIA VÀ NGƯỜI DÂN TẠI TỈNH BÌNH DƯƠNG VỀ RÁC THẢI NHỰA 38
3.4 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP 42
3.4.1 Tái sử dụng đồ nhựa 42
3.4.2 Phân loại từ đầu nguồn để tái chế 42
3.4.3 Ngăn ngừa tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa 42
Trang 10vii
3.4.4 Hạn chế tối đa việc đốt rác thải tại nhà 43
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44
4.1 KẾT LUẬN 44
4.2 KIẾN NGHỊ 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46
PHỤC LỤC 1 47
Trang 11viii
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Loại sản phẩm nhựa mà các hộ gia đình sử dụng 24 Bảng 3.2 Tỷ lệ các cách xử lý rác thải nhựa của hộ gia đình 25 Bảng 3.3 Nhận thức của người dân về môi trường sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ chất thải nhựa 27 Bảng 3.4 Nhận thức của người dân về phần lớn rác thải nhựa sau khi bị thải bỏ
sẽ đi về đâu 28 Bảng 3.5 Mức độ lo lắng của người dân đối với tác hại của chất thải nhựa 30 Bảng 3.6 Mức độ thường xuyên trong việc hạn chế rác thải nhựa của người dân 32 Bảng 3.7 Ý kiến của người dân trong các hoạt động giảm sử dụng đồ nhựa 33
Trang 12ix
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1 Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải nhựa 4
Hình 1.2 Rác thải nhựa tràn ngập tại ven bờ biển của Việt Nam 6
Hình 1.3 Rác thải nhựa bị quá tải tại bãi thu gom 7
Hình 1.4 Top 12 quốc gia xả thải nhựa ra biển nhiểu nhất thế giới 8
Hình 1.5 Tình trạng rác thải nhựa của một số nước trên thế giới 8
Hình 1.6 – 1.10 Số năm phân hủy của các loại rác thải nhựa 13
Hình 1.11 Hiểu biết của cộng đồng về nhựa và rác thải nhựa năm 2019 16
Hình 1.12 Tỷ lệ hiểu biết về quy định pháp lý về quản lý rác thải và bảo vệ môi trường của cộng đồng năm 2019 16
Hình 1.13 Cảm nhận của cộng đồng về hiện trạng xả thải và thu gom rác thải nhựa năm 2019 17
Hình 1.14 Thói quen xả thải hàng ngày của hộ gia đình và hộ kinh doanh tại các tỉnh thành năm 2019 18
Hình 1.15 Số lượng túi nilon và đồ nhựa sử dụng một lần thải hàng ngày của hộ gia đình tại các tỉnh thành năm 2019 18
Hình 1.16 Thói quen phân loại của hộ gia đình tại các tỉnh thành năm 2019 19
Hình 3.1 Nguồn gốc các sản phẩm nhựa hộ gia đình sử dụng 24
Hình 3.2 Nhận thức của người dân về ảnh hưởng xấu của rác thải nhựa khi bị thải bỏ 27
Hình 3.3 Các bệnh liên quan đến ô nhiễm rác thải nhựa 29
Hình 3.4 Ý kiến của người dân về trách nhiệm giảm thiểu rác thải nhựa 34
Hình 3.5 Tỷ lệ quy định giảm thiểu rác thải nhựa tại nơi sống của người dân 35
Hình 3.6 Các kênh tìm kiếm thông tin của người dân 36
Hình 3.7 Thông tin người dân mong muốn nhận được 36
Hình 3.8 Sự ủng hộ những hoạt động để giảm thiểu rác thải nhựa tại địa phương 37
Hình 3.9 Nhận thức về các nguy cơ sức khỏe do ô nhiễm nhựa 39
Trang 13x
Hình 3.10 Phương pháp xử lý nhựa 40 Hình 3.11 Nhận thức của người dân về tác hại của ô nhiễm rác thải nhựa 40 Hình 3.12 Lý do sử dụng túi nilon 41
Trang 15do rác thải nhựa là điều không thể tránh khỏi Nguyên nhân của vấn đề rác thải nhựa đang ngày càng tăng cao là do thói quen lạm dụng nhựa sử dụng 1 lần Năng lực quản lý yếu kém: Lượng rác thải nhựa quá lớn, trong khi năng lực quản lý chất thải ở Việt Nam còn rất nhiều hạn chế Điều này càng làm tăng gánh nặng cho môi trường và sức khỏe cộng đồng Công tác phân loại rác, xử
lý rác thải còn hạn chế Ý thức người dân còn kém: người dân có ý thức kém, chưa nhận thức đúng về mức độ nguy hiểm của ô nhiễm rác thải nhựa đối với môi trường, đặc biệt là môi trường biển.Bên cạnh đó, ô nhiễm do rác thải nhựa mang lại đang ngày càng gia tăng và trở thành vấn đề nhức nhối của xã hội Bảo vệ môi trường cần có sự chung tay và góp sức của toàn xã hội Ngoài việc đưa ra các biện pháp công nghệ kỹ thuật, pháp luật để bảo vệ, phục hồi môi trường thì việc giáo dục, nâng cao nhận thức cho người dân về tác hại của chất thải nhựa đối với môi trường cũng là một việc làm vô cùng quan trọng
Là quốc gia đang phát triển, Việt Nam phải đối mặt với nhiều vấn đề về suy thoái, ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, đặc biệt là ô nhiễm do rác thải nhựa hay còn gọi là “ô nhiễm trắng” Lượng rác thải nhựa đang ngày càng gia tăng nếu chúng ta không có các giải pháp hữu hiệu, kịp thời thì những tác động tiêu cực từ rác thải nhựa sẽ trở nên rất nghiêm trọng
Xuất phát từ tình hình trên, nhằm tìm hiểu nhận thức của người dân tại các khu dân cư trên địa bàn tỉnh Bình Dương từ đó tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây ra Vì
vậy, tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá nhận thức về tác hại đối với môi
Trang 162
trường của chất thải nhựa, cách xử lý chất thải nhựa của người dân ở khu dân cư và đề xuất biện pháp hiệu quả trong xử lý chất thải nhựa”
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Đánh giá nhận thức của người dân về tác hại của chất thải nhựa đối với môi trường
- Xác định thành phần và khối lượng chất thải nhựa thải bỏ trên ngày theo
hộ gia đình tại địa phương
- Xác định phương pháp xử lý chất thải nhựa phổ biến của người dân
- Đề xuất một số giải pháp quản lý, xử lý rác thải nhựa nhằm góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường và mỹ quan đô thị
3 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Khảo sát điều kiện tự nhiên – kinh tế - xã hội tại Bình Dương
- Thực trạng sử dụng và thải bỏ nhựa của các hộ dân trên địa bàn
- Nhận thức về tác hại của chất thải nhựa của người dân
- Các phương pháp xử lý chất thải nhựa của người dân
- Đua ra các biện pháp xử lý hiệu quả chất thải nhựa
4 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Nâng cao kiến thức kỹ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế phục
vụ cho công tác sau này
- Vận dụng và phát huy các kiến thức đã học tập và nghiên cứu rèn luyện
về kỹ năng tổng hợp và phân tích số liệu
- Đánh giá được nhận thức của người dân tại địa bàn tỉnh Bình Dương về tác hại của chất thải nhựa tới môi trường
- Đề xuất được các biện pháp quản lý, xử lý rác thải để đạt được hiệu quả tốt nhất
Trang 173
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1.1 Khái niệm về nhựa
- Nhựa (plastic) không có trong thiên nhiên mà do con người chế tạo ra
- Nhựa là các chất dẻo hoặc các hợp chất cao phân tử được tổng hợp từ dầu hỏa hoặc các chất từ khí tự nhiên
- Nhựa là tên gọi chung cho rất nhiều loại chất dẻo, mỗi loại có những đặc tính và chức năng khác nhau [1]
1.1.2 Khái niệm rác thải nhựa
Rác thải nhựa là những chất không được phân hủy trong nhiều môi trường Bao gồm nhiều loại chai lọ, túi đựng hay đồ chơi cũ… Chất thải ni lông gồm các bao bì bằng nhựa polyethylene (PE) sau khi sử dụng trở thành rác thải Trong rác thải sinh hoạt còn có các loại nhựa khác cũng có chứa các loại nhựa phế thải Rác thải ni lông thực chất là một hỗn hợp nhựa, trong đó chiếm phần lớn là nhựa PE [1]
Những sản phẩm làm bằng nhựa đã qua sử dụng hoặc không được dùng đến và bị đem bỏ thì đều được gọi chung là rác thải nhựa Một vài rác thải nhựa thường gặp là: túi nhựa, chai nhựa, ống hút nhựa, cốc nhựa,… Điểm chung của các sản phẩm này là chúng có thời gian phân hủy vô cùng lâu, một vài loại tốn mất vài trăm đến vài nghìn năm mới có thể hoàn toàn phân hủy
1.1.3 Ô nhiễm rác thải nhựa
Ô nhiễm rác thải nhựa (hay ô nhiễm chất dẻo) là hiện tượng các loại rác thải nhựa được xả bừa bãi ra môi trường tích tụ lại, gây ra những ảnh hưởng xấu đến với môi trường, sức khỏe của con người và các loại động vật khác Hiện tượng ô nhiễm rác thải nhựa còn được gọi là ô nhiễm trắng Đây là cụm từ mà các nhà khoa học dùng để chỉ tình trạng ô nhiễm do túi nilon gây ra cho môi trường
1.1.4 Khái niệm về nhận thức
- Quá trình và kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó [2]
Trang 184
- Nhận thức là quá trình biện chứng của sự phản ánh thế giới khách quan trong ý thức con người, nhờ đó con người tư duy và không ngừng tiến đến gần khách thể [2]
- Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong sạch, phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khai thác sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ đa dạng sinh học [2]
1.2 NGUỒN GỐC PHÁT SINH RÁC THẢI NHỰA
Chất thải nhựa sinh hoạt phát sinh từ hoạt động sinh hoạt hằng ngày của con người Hàng ngày chất thải nhựa sinh hoạt ở các đô thị được phát sinh từ các nguồn sau:
- Chất thải sinh hoạt của người dân, khách vãng lai, du lịch, thực phẩm dư thừa nilon, nhựa, chai nước nhựa, các chất thải nguy hại
- Chất thải nhựa từ các chợ, tụ điểm buôn bán, nhà hàng, khách sạn, khu vui chơi giải trí, khu văn hóa
- Chất thải nhựa sinh hoạt từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học
- Chất thải nhựa sinh hoạt của công nhân trong các công trình xây dựng, cải tạo và nâng cấp
- Chất thải nhựa sinh hoạt của công nhân trong nhà máy, xí nghiệp, khu công nghiệp [1]
Hình 1.1 Sơ đồ nguồn phát sinh rác thải nhựa
Rác thải nhựa
Công nhân
công trình
Nhà hàng, khách sạn
Nhà má xí nghiệp
Khu vui chơi giải trí
Cơ quan,
trường học
Khu dân cư, khách du lịch
Trang 195
1.3 MỐI QUAN HỆ GIỮA MÔI TRƯỜNG VÀ RÁC THẢI NHỰA
Môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi rác thải nhựa Gây nên ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí… Để cải thiện môi trường, chúng ta nên nhận thức được trách nhiệm và ý thức của bản thân mỗi người Vì vậy, mọi người nên thực hiện quản lý môi trường
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phương hướng
và mục đích của chủ thể (con người, địa phương, quốc gia, tổ chức quốc tế) đối với một đối tượng nhất định (môi trường sống) nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người trong khoảng thời gian nhất định 1.4 THỰC TRẠNG VỀ RÁC THẢI NHỰA HIỆN NAY
Tại Việt Nam, thống kê bình quân, mỗi hộ gia đình sử dụng khoảng 1 kg túi nilon/tháng Riêng Hà Nội và TP Hồ Chí Minh trung bình mỗi ngày thải ra môi trường khoảng 80 tấn nhựa và nilon Đáng chú ý, lượng chất thải nhựa và túi nilon cả nước chiếm khoảng 8-12% trong chất thải rắn sinh hoạt Nếu trung bình khoảng 10% lượng chất thải nhựa và túi nilon không được tái sử dụng mà thải bỏ hoàn toàn thì lượng chất thải nhựa và túi nilon thải bỏ xấp xỉ khoảng 2,5 triệu tấn/năm, đây là gánh nặng cho môi trường, thậm chí dẫn tới thảm họa
"ô nhiễm trắng" [3]
Theo đánh giá của Bộ TN&MT, lĩnh vực tái chế chất thải nhựa của Việt Nam vẫn chưa phát triển Tỷ lệ phân loại chất thải tại nguồn rất thấp, hầu như các loại chất thải được dồn chung với nhau và được thu gom bởi các xe chở chất thải Đơn cử như Thành phố Hồ Chí Minh, mỗi năm, có khoảng 250.000 tấn chất thải nhựa được tạo ra; trong đó, 48.000 tấn được chôn trong các bãi chôn lấp (đa số là nhựa có giá trị thấp) chiếm 19,2%; còn lại hơn 200.000 tấn chất thải nhựa được tái chế hoặc thải trực tiếp ra môi trường [3]
Trang 206
Công nghệ tái chế nhựa được sử dụng ở các thành phố lớn của Việt Nam
đã lỗi thời, hiệu quả thấp, chi phí cao và gây ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, hoạt động tái chế chất thải nhựa chưa được tổ chức với quy mô lớn, chủ yếu được thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ nên hiệu quả thấp Trong khi đó thói quen của người dân dùng túi nilon, đồ dùng nhựa một lần ngày càng gia tăng Đáng lo ngại người dân vẫn chưa có thói quen phân loại rác sinh hoạt hàng ngày, việc lẫn các loại chất thải nhựa, đặc biệt là nilon tương đối phổ biến Điều này càng khiến việc xử lý rác thải nhựa thêm khó khăn [3]
Hình 1.2 Rác thải nhựa tràn ngập tại ven bờ biển của Việt Nam
Với 112 cửa biển, 80% lượng rác thải biển của Việt Nam xuất phát từ các hoạt động trên đất liền Hơn 50% lượng nhựa được tiêu thụ mỗi ngày nằm trong những sản phẩm nhựa dùng một lần Có nghĩa rằng trong hàng triệu tấn nhựa sản xuất ra mỗi năm quá nửa trong số đó chỉ đem lại cho chúng ta cảm giác tiện ích trong ít phút như cốc nhựa, ống hút, túi nilon…Sau đó, những thứ này bị vứt ra môi trường và trở thành những thứ đồ nhựa vô dụng Nó tồn tại trong môi trường tự nhiên và trở nên vô cùng nguy hại [3]
Không chỉ là vấn đề môi trường hay sức khỏe con người, việc khắc phục
ô nhiễm rác thải nhựa cũng gây tổn thất nặng nề cho kinh tế do phải tiêu tốn cho công tác làm sạch và tẩy độc Ước tính, chỉ có 9% số rác thải nhựa được tái chế, khoảng 12% được đốt cháy, còn lại 79% vẫn đang tồn đọng trong các bãi chôn lấp, bãi rác và trong môi trường tự nhiên [3]
Trang 21- Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng mặt: Trong 50 năm qua lượng nhựa được sử dụng tăng 20 lần, dự báo có thể gấp đôi trong 20 năm nữa
Thống kê từ các tổ chức như WHO, EPA cho thấy trong số 6,3 tỷ tấn rác thải nhựa đang tồn tại trong môi trường thì chỉ có:
- 9% rác thải nhựa được tái chế
- 12% rác thải nhựa được đốt
- 79% còn lại tồn tại trong môi trường tự nhiên, bao gồm cả môi trường biển
Dự báo năm 2025 sẽ có hơn 13 tỷ tấn rác thải nhựa được chôn lấp hoặc xả thẳng ra đại dương Con số này đang cho thấy việc xử lý, tái chế rác thải nhựa chưa mang lại hiệu quả cao Chính thực trạng này đã khiến việc ô nhiễm rác thải nhựa trở nên báo động trên toàn cầu
Hình 1.3 Rác thải nhựa bị quá tải tại bãi thu gom
Trang 228
Hiện chưa có thống kê nào về tổng số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải ra môi trường Tuy nhiên một báo cáo cơ quan môi trường EPA (Mỹ) đã thống kê được số lượng rác thải nhựa mỗi quốc gia thải ra biển.Trung Quốc và Indonesia lần lượt là hai quốc gia xả nhiều rác thải nhựa ra biển nhất hiện nay với 8,8 triệu tấn và 3,2 triệu tấn mỗi năm Việt Nam hiện đứng thứ 4 sau Philippines với 1,8 triệu tấn rác thải nhựa
Hình 1.4 Top 12 quốc gia xả thải nhựa ra biển nhiểu nhất thế giới
Nhiều khu vực biển trên khắp thế giới cũng đang phải đối mặt với tình trạng ô nhiễm rác thải nhựa nghiêm trọng Chính quyền tại Hawaii đã phải đưa
ra lời cảnh báo, khi phát hiện nhiều hòn đảo nổi lớn gồm toàn những rác thải bằng chất dẻo tiến sát bờ biển từ phía Tây Bắc
Hình 1.5 Tình trạng rác thải nhựa của một số nước trên thế giới
Trang 23Khi rác thải nhựa tồn tại trong đất, thời gian phân hủy của chúng có thể từ
50 năm, hàng trăm năm cho đến hàng nghìn năm Do lượng thời gian tồn tại trong đất quá lâu, rác thải nhựa sẽ làm cản trở sự phát triển của cây cối, nếu các loài động vật ăn phải sẽ dẫn đến ngộ độc, ngoài ra chất thải nhựa trong quá trình phân hủy cũng gây độc cho đất, làm đất kém màu mỡ [3]
1.5.2 Tác động đến môi trường không khí
Đốt chất thải nhựa được xem là một giải pháp đơn giản để làm giảm tải lượng rác thải nhựa Tuy nhiên, phương pháp này cực kì gây hại cho sức khỏe cũng như môi trường xung quanh [3]
Chất thải nhựa chứa khí carbon và hydro, hai loại khí này cùng với clorua thường được tìm thấy trong thức ăn thừa Hỗn hợp này khi bị đốt sẽ thải ra khí độc hại cho sức khỏe con người [3]
Trưởng khoa Khoa học Môi trường thuộc Đại học Indonesia, ông Emil Budianto cho biết khi chất thải nhựa và thức ăn thừa được đốt lên chúng sẽ sản sinh ra chất dioxin và furan – hai loại hóa chất độc hại nhất được biết đến hiện nay trong khoa học Hai chất độc này dù tiếp xúc chỉ một lượng nhỏ cũng có thể gây tử vong Nếu hít phải dioxin ngay lập tức sẽ gây ho, khó thở và chóng mặt Nếu bị phơi nhiễm dioxin trong thời gian dài sẽ dẫn tới ung thư [3] Một tác hại khác của việc đốt chất thải nhựa là gây ô nhiễm môi trường Khí thải phát ra từ việc đốt rác thải nhựa có thể phá hủy tầng ozon và gây ra tác hại như hiệu ứng nhà kính [3]
1.5.3 Tác động đến môi trường nước
Lượng rác thải nhựa trên biển đang ngày càng gia tăng, gây tác hại cho môi trường biển và các loài động vật biển Do đặc điểm cấu trúc là các polyme tổng hợp nhân tạo (polystyrene, polyester, polyethylene…), nhựa là một dạng chất thải có tốc độ phân hủy trong môi trường biển rất chậm Những mảnh rác
Trang 2410
thải nhựa lớn sẽ bị phân nhỏ dưới các tác động cơ học thành các hạt nhựa nhỏ
có kích thước dưới 5mm và phải mất hàng trăm năm, thậm chí hàng nghìn năm
để một mảnh rác nhựa có thể phân hủy trong điều kiện tự nhiên [3]
Theo Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), với đặc tính bền vững trong tự nhiên, rác thải nhựa (chai nhựa, túi ni lông, hộp đựng đồ ăn, cốc…) là nguyên nhân gây tử vong cho nhiều loài sinh vật biển như rùa, cá heo,
cá voi Do các dòng hải lưu, các mảnh (hạt) nhựa vụn di chuyển trên khắp đại dương, trở thành mồi cho các loài chim biển, cá, giun và động vật biển Khi các động vật nuốt phải các mảnh (hạt) nhựa vụn bị mắc trong khí quản gây ngạt thở, hoặc làm tắc hệ tiêu hóa, gây nguy hại cho các loài động vật, thậm chí dẫn đến tử vong Nhưng đáng lo ngại là những hạt nhựa siêu vi (rất nhỏ) đến từ 2 nguồn do rác thải nhựa phân hủy và từ những hạt nhựa siêu nhỏ có trong mỹ phẩm như sữa rửa mặt, kem đánh răng có thể xâm nhập và phá hủy tế bào trong cơ thể của các loài sinh vật biển Ngoài ra, chúng có thể làm tích tụ các loại hóa chất nguy hiểm, bao gồm thuốc trừ sâu DDT và PCB (Polychlorinated biphenyl - trong nhóm các hóa chất hữu cơ khó phân hủy gây ung thư) [3] Mới đây, một nhóm các nhà khoa học thuộc Đại học California (Mỹ) và Đại học Indonesia đã thu gom những con cá được bán ở các chợ thuộc vịnh Half Moon và Princeton (bang California, Mỹ) và biển Makassar (Inđônêxia)
về để phân tích Họ phát hiện ra rằng, ở Indonesia, 28% tổng số cá thể cá và 55% loài động vật biển được lấy mẫu có rác thải nhựa trong dạ dày và đường ruột Tại Mỹ, rác thải nhựa được tìm thấy trong 25% cá thể cá và 67% các loài động vật biển được lấy mẫu Các hạt nhựa nhân tạo cũng được tìm thấy trong 33% mẫu cá thể động vật có vỏ (tôm, cua, sò, ốc…) [3]
Theo tờ báo khoahoc.tv, thời gian để một sản phẩm nhựa phân hủy có thể
từ 10, 100 năm thậm chí đến hàng nghìn năm Cụ thể:
Trang 2511
Trang 2612
Trang 2713
Hình 1.6 – 1.10 Số năm phân hủy của các loại rác thải nhựa
Ảnh hưởng vật lý của rác thải nhựa đến môi trường bao gồm các tác động: gây phá hủy hoặc suy giảm đa dạng sinh học; làm chết các sinh vật bởi vướng vào lưới ma (ghost nets - lưới đánh cá bị mất hoặc bị bỏ lại trên đại dương); gây chết sinh vật qua con đường ăn uống; thay đổi cấu trúc, thành phần loài của các HST bao gồm việc chuyên chở các sinh vật ngoại lai từ nơi khác đến Các tác động về mặt hóa học sẽ tăng lên khi các rác thải nhựa giảm kích cỡ Hơn
260 loài sinh vật biển đã được ghi nhận là bị vướng hoặc ăn phải các mảnh nhựa trên biển Trong một nghiên cứu về cá ở Bắc Thái Bình Dương cho thấy, trung bình có 2,1 mảnh nhựa trong mỗi con cá Việc nhầm lẫn nhựa với thức
ăn cũng được ghi nhận ở các động vật bậc cao hơn như rùa, chim, động vật có
vú, đã có nhiều trường hợp gây ra tử vong liên quan đến việc ăn nhựa Chim hải âu nhầm lẫn mảnh nhựa có mầu đỏ với mực, rùa biển nhầm lẫn túi nilông với sứa… Các hạt nhựa bị nuốt vào có thể gây tắc nghẽn hoặc hư hại thành ruột, làm giảm khả năng hấp thụ thức ăn của sinh vật Các mảnh nhựa trôi nổi cũng cung cấp “phương tiện di chuyển” cho các sinh vật làm gia tăng nguy cơ ảnh hưởng của sinh vật ngoại lai đến HST [3]
Tác động hóa học đầu tiên của các mảnh nhựa đó là nguy cơ ảnh hưởng của các chất phụ gia trong nhựa Những chất phụ gia này là chất độc, chất xúc
Trang 2814
tác sinh học tác động đến môi trường Một số chất trong sản xuất nhựa như nonylphenol, phthalates, bisphenol A (BPA) và monome styrene có thể tác động tiêu cực lên sinh vật Các tác động của những chất này liên quan đến hệ thống nội tiết và điều hòa hormone trong cơ thể sinh vật Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, các chất này đã có ảnh hưởng nhất định trong đất hoặc HST nước ngọt Do vậy, các nhà khoa học lo ngại những những hợp chất này có tác động không tốt đến HST biển [3]
Tác động tiếp về mặt hóa học của rác thải nhựa đó là các hạt vi nhựa có lẫn trong nước biển có khả năng hấp phụ các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy có sẵn trong nước biển và trầm tích biển Các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy (PBTs) bao gồm các chất như: Polychlorinated biphenols (PCBs), hydrocacbon đa hình (PAHs), hexachlorocyclohexan (HCH) và thuốc trừ sâu DDT được đề cập trong Công ước Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy Các chất này có tác dụng làm gián đoạn nội tiết tố sinh sản, tăng tần suất đột biến trong phân bào dẫn đến nguy cơ ung thư Các nhà khoa học lo ngại rằng, các sinh vật biển ăn phải các hạt vi nhựa sẽ làm tăng nguy cơ các sinh vật bậc cao (bao gồm cả con người) có thể bị ảnh hưởng bởi các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân hủy, dẫn đến nhiều bệnh lý như vô sinh, ung thư… [3]
1.5.4 Tác động đến sức khỏe con người
Rác thải nhựa cùng với các chất gây ô nhiễm môi trường biển khác khi các hải sản biển ăn vào sẽ bị nhiễm độc và chất độc này lại được chuyển sang con người khi con người ăn các hải sản biển đó, vấn đề này tương tự đối với những con vật trên cạn Việc tích lũy sinh học và khuếch đại sinh học của các hóa chất, hậu quả của chúng đối với sức khỏe con người sẽ ngày càng tệ hơn nếu lượng rác thải nói chung và rác thải nhựa nói riêng ngày càng tăng cao [3]
1.5.5 Tác động đến kinh tế xã hội
Rác thải nhựa tác động trực tiếp lên những hoạt động kinh tế trên biển Tác động rõ nhất là những hỏng hóc, tổn thất do rác thải nhựa lên các thiết bị như lưới đánh cá bị cuốn vào chân vịt, rác chặn các cửa hút nước hoặc rác vướng vào lưới đánh cá… Tổn thất do rác thải nhựa trên biển đến ngành công nghiệp đánh cá Scotland trung bình khoảng từ 15-17 triệu USD/năm tương đương 5% tổng doanh thu Đồng thời, rác thải nhựa trên biển cũng là nguyên nhân của các vụ hỏng hóc trên biển của các chân vịt tàu thủy, năm 2008, tại
Trang 29tỷ USD cho các hoạt động dọn dẹp luồng hàng hải và sửa chữa tàu thuyền [3] Rác thải nhựa cũng có khả năng gây thương tích thậm chí gây tử vong đối với con người Các mảnh nhựa bị vỡ có cạnh sắc gây nguy hiểm tương tự như kính vỡ, có nhiều trường hợp người bơi lội bị chết do cuốn phải các mảnh lưới trong nước biển [3]
Theo UNEP, tình trạng vứt bỏ rác thải nhựa ra đại dương gây thiệt hại kinh tế lên đến 13 tỷ USD, đe dọa cuộc sống của các loài động thực vật biển, làm giảm sút lượng khách du lịch và nhất là tác động tiêu cực đến hoạt động đánh bắt thủy hải sản Vì thế, chúng ta cần sớm tìm ra giải pháp để quản lý, tái chế rác thải nhựa hiệu quả và người dân cần hiểu rõ những tác hại để tránh vứt rác thải nhựa ra biển [3]
1.6 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN Ở VIỆT NAM
1.6.1 Nhận thức và quan điểm về chất thải nhựa tại các tỉnh thành
Theo như kết quả điều tra được 21% hộ gia đình biết nhựa thông thường được tạo ra từ dầu mỏ, khí đốt Con số đặc biệt thấp với đối tượng thu gom (3%) Trong đó, chiếm phần lớn từ 63-65% đối tượng thu gom và hộ gia đình biết nhựa có tác động tiêu cực với môi trường (khó phân hủy) và ảnh hưởng đến sức khỏe con người Con số thấp hơn đáng kể đối với hộ kinh doanh chỉ chiếm 26% [8]
Từ 15-22% biết nhựa bị thất thoát ra môi trường sau khi sử dụng Một phần lớn không nhỏ chiếm 51% là hộ kinh doanh không biết cả ba khía cạnh nói trên, cho thấy mức độ hiểu biết của nhóm này còn rất hạn chế [8]
Trang 3016
Hình 1.11 Hiểu biết của cộng đồng về nhựa và rác thải nhựa năm 2019
(Nghiên cứu khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam)
Chỉ 24% hộ gia đình được khảo sát không biết bất cứ một quy định nào về rác thải rắn hay bảo vệ môi trường Trong đó, có 48% biết một quy định về bảo
vệ môi trường và 29% biết từ hai quy định trở lên Các quy định được biết đến nhiều nhất bao gồm: 56% biết bỏ rác đúng nơi quy định, 19% biết nội dung phân loại rác, 30% biết tổng vệ sinh khu vực định kì.Trên 60% cộng đồng nói chung không biết và biết một quy định về quản lý rác thải và bảo vệ môi trường Con số này đặc biệt cao so với nhóm hộ kinh doanh [8]
Hình 1.12 Tỷ lệ hiểu biết về quy định pháp lý về quản lý rác thải và bảo
vệ môi trường của cộng đồng năm 2019
(Nghiên cứu khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam)
Trang 3117
Có 34% hộ gia đình có cảm nhận không ổn về tình hình phát sinh rác thải nhựa và xả thải bừa bãi xung quanh nơi ở của họ Chiếm 50% hộ gia đình đánh giá phương tiện thu gom thô sơ hoặc không hợp vệ sinh Từ kết quả điều tra, đối tượng thu gom có xu hướng ít phàn nàn hơn về tình trạng vệ sinh môi trường trong khi đó hộ kinh doanh lại có thái độ thờ ơ đến vấn đề môi trường như xả thải bừa bãi hay tình trạng của các phương tiện thu gom [8]
Hình 1.13 Cảm nhận của cộng đồng về hiện trạng xả thải và thu gom rác
thải nhựa năm 2019
(Nghiên cứu khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam)
1.6.2 Nhận thức về việc sử dụng, thải loại, phân loại và thu gom chất thải rắn và rác thải nhựa
Có 91% hộ gia đình tập kết rác tại nơi quy định, trong số đó vẫn còn hiện tượng xả rác ra môi trường dẫn đến tỉ lệ đổ ra bãi rác chung lên đến 11% Hộ kinh doanh tập kết rác ở nơi quy định chiếm 95%, còn lại 4,5% thải ra môi trường [8]
Trung bình, khoảng 5-10% cộng đồng trong khu vực khảo sát vẫn còn thói quen xả rác trực tiếp ra môi trường Con số này phù hợp với nghiên cứu của Ngân hàng thế giới năm 2018 về công tác quản lý chất thải rắn, theo đó tỷ lệ đổ rác bừa bãi ở mức 9% [8]
Trang 3218
Hình 1.14 Thói quen xả thải hàng ngày của hộ gia đình và hộ kinh doanh
tại các tỉnh thành năm 2019
(Nghiên cứu khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam)
Chiếm 43% hộ gia đình thải từ 2-4 túi nilon mỗi ngày trở lên Tương đương từ 60-120 túi nilon mỗi tháng Có tới 31% số hộ thải từ 150 túi nilon mỗi tháng trở lên Có 46% hộ gia đình thải từ 2-4 chai nhựa và hộp xốp, tương đương khoảng tối đa 60-120 chai nhựa và hộp xốp mỗi tháng [8]
Hình 1.15 Số lượng túi nilon và đồ nhựa sử dụng một lần thải hàng ngày
của hộ gia đình tại các tỉnh thành năm 2019
(Nghiên cứu khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam)
Trang 3319
Có khoảng 31% hộ gia đình có phân loại rác tại nhà trước khi đem đi thải
bỏ tại các bãi rác tập trung Việc phân loại rác của người dân còn chưa đồng
bộ, vẫn còn mang tính tự phát và không triệt để [8]
Ý thức tự giác trong việc bảo vệ môi trường thông qua việc phân loại rác của nhiều hộ gia đình còn chưa cao Nhiều hộ gia đình chưa thực sự quan tâm đến vấn đề phân loại rác thải tại nguồn Điều này gây nhiều khó khăn cho bộ phận thu gom khi phải thu gom một lượng lớn rác thải khó tách và khó sử dụng rác để tái chế [8]
Hình 1.16 Thói quen phân loại của hộ gia đình tại các tỉnh thành năm
2019
(Nghiên cứu khảo sát hiện trạng chất thải nhựa tại Việt Nam)