Câu hỏi nghiên cứu Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu trên đây, nhiệm vụ quan trọng của đề tài nghiên cứu cần trả lời cho các câu hỏi sau đây: - Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý địn
Trang 1Nhóm sinh viên thực hiện : Nguyễn Hoài Thu
Vũ Xuân Hằng -18810000012 Nguyễn Bá Việt Anh - 18810000031
Đoàn Thu Hồng - 18810000002 (Nhóm trưởng)
Lê Anh Tú – 18810710190 Bùi Thế Hiệp – 18810710196
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU : NGHIÊN CỨU NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH SỬ DỤNG VIETTEL PAY CỦA SINH
VIÊN ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC.
1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
- Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng Viettel Pay của sinh viên trường Đại học Điện Lực
- Sự cần thiết, lợi ích của việc sử dụng Viettel Pay trong thanh toán học phí của sinh viên Đại học Điện Lực
- Đưa ra các khuyến nghị nhằm đưa Viettel Pay đến gần hơn với sinh viên trong việc thanh toán học phí
2 Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết các vấn đề nghiên cứu trên đây, nhiệm vụ quan trọng của đề tài nghiên cứu cần trả lời cho các câu hỏi sau đây:
- Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ thanh toán online là gì?
Trang 2- Các nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến quyết định
sử dụng dịch vụ ViettelPay của sinh viên trường Đại học Điện Lực trong thanh toán các khoản phí cho Nhà trường?
- Lợi ích của việc thanh toán bằng Viettel Pay đối với sinh viên ?
- Thực trạng sử dụng Viettel Pay trong thanh toán học phí của sinh viên trường đại học Điện Lực ?
- Nguyên nhân sinh viên đại học Điện Lực chưa có ý định sử dụng Viettel Pay trong thanh toán?
- Những khó khăn khi sử dụng Viettel Pay của sinh viên Điện Lực?
- Giải pháp tăng cường việc sử dụng Viettel Pay cho sinnh viên trường Đại học Điện Lực ?
Trang 3TỔNG QUAN VỀ THANH TOÁN ĐIỆN TỬ VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI.
2.1 Tổng quan về thanh toán điện tử
2.1.1 khái niệm về thanh toán điện tử.
Thanh toán điện tử (Tiếng Anh: E-payment, Electronic Payment) được định
nghĩa là bất kỳ hình thức chuyển tiền nào được thực hiện thông qua các thiết bị điện
tử Thanh toán bằng hệ thống này có thể được thực hiện qua Internet, hệ thống chuyển tiền điện tử (EFT - Electronic Funds Transfer), các hệ thống thanh toán bù trừ liên ngân hàng (Interbanking Clearing Systems) và hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử tài chính (Financial EDI) Hệ thống thanh toán điện tử Electronic Payment System - EPS) có thể chia làm hai loại chính: thanh toán bán sỉ (Wholesale EPS) và thanh toán bán lẻ (Retail EPS) Thanh toán điện tử đóng một vai trò quan trọng và việc thiếu một hệ thống thanh toán hiệu quả có thể cản trở sự thành công của sự phát triển thương mại điện tử nói chung Sự tăng trưởng vượt trội của internet đã kích thích các nhu cầu về hệ thống thanh toán điện tử Nó hỗ trợ cho hoạt động thương mại điện tử, giúp cho các giao dịch thanh toán hàng hóa trở nên nhanh hơn, tiện lợi hơn và an toàn hơn
2.2 Các hình thức thanh toán điện tử hiện có
2.2.1 Thanh toán bằng thẻ
Đây là hình thức thanh toán đặc trưng nhất, chiếm tới 90% trong tổng số các giao dịch thương mại điện tử Thẻ thanh toán (thẻ chi trả) là một loại thẻ có khả
Trang 4năng thanh toán tiền mua hàng hóa, dịch vụ tại một vài địa điểm, kể cả website mua hàng trực tuyến nếu chấp nhận tiêu dùng bằng thẻ đó Hoặc có thể dùng để rút tiền mặt trực tiếp từ các ngân hàng hay các máy rút tiền tự động Hiện nay, các loại thẻ thanh toán được chia làm 2 loại, có thể được phát hành bởi các ngân hàng, các tổ chức tài chính Đó là thanh toán bằng thẻ tín dụng hoặc ghi nợ quốc tế và thanh toán bằng thẻ ghi nợ nội địa
2.2.2 Thanh toán qua cổng
Cổng thanh toán về bản chất là dịch vụ cho phép khách hàng giao dịch tại các website thương mại điện tử Cổng thanh toán cung cấp hệ thống kết nối an toàn giữa tài khoản (thẻ, ví điện tử,…) của khách hàng với tài khoản của website bán hàng Giúp người tiêu dùng và doanh nghiệp thanh toán, nhận tiền trên internet đơn giản, nhanh chóng và an toàn Hiện cũng có một số ngân hàng triển khai cổng thanh toán Điển hình như:
Thanh toán qua cổng thanh toán điện tử F@st Mobipay: Đây là dịch vụ nằm trong giải pháp thanh toán của ngân hàng Techcombank Cho phép khách hàng mở tài khoản và thực hiện các giao dịch thanh toán hóa đơn bằng tin nhắn điện thoại gửi tới tổng đài 19001590 Để đảm bảo an toàn, bí mật cho khách hàng thì có thể thanh toán chuyển khoản bằng hệ thống Internet Banking rất tiện lợi
Thanh toán qua cổng thanh toán Đông Á: Từ năm 2007, Ngân hàng Đông Á cũng đã cho phép các chủ thẻ đa năng thanh toán trực tuyến trên “Ngân hàng Đông
Á điện tử” bằng Internet Banking, SMS Banking, Mobile Banking
Trang 52.2.3 Thanh toán bằng ví điện tử
Ví điện tử là một tài khoản online có thể dùng nhận, chuyển tiền, mua thẻ điện thoại, vé xem phim, thanh toán trực tuyến các loại phí trên internet như tiền điện nước, cước viễn thông, bạn cũng có thể mua hàng online từ các trang thương mại điện tử Người dùng phải sở hữu thiết bị di động thông minh tích hợp ví điện tử và liên kết với ngân hàng thì mới có thể thanh toán trực tuyến bằng hình thức này Hiện nay, tại Việt Nam có khoảng 20 ví điện tử được cấp phép và theo Ngân hàng nhà nước dự báo đến năm 2020 sẽ đạt ngưỡng 10 triệu người dùng
2.2.4 Qua Mobile Banking
Hình thức này đang dần trở nên phổ biến bởi hầu hết ai cũng đều sử hữu một chiếc điện thoại thông minh Chính vì vậy, khi đi mua sắm, khách hàng không cần phải mang theo tiền mặt, thay vào đó là thanh toán qua điện thoại với dịch vụ Mobile Banking Hệ thống thanh toán qua điện thoại được xây dựng trên mô hình liên kết giữa ngân hàng, các nhà cung cấp viễn thông, và người dùng
2.2.5 Qua QR Code
Tiến bộ công nghệ cũng là lý do khiến thanh toán bằng QR Code ngày càng được ưa chuộng Phương thức này khá đơn giản, gọn nhẹ, dễ sử dụng và thân thiện cho người tiêu dùng Tính năng QR Code hiện đang được tích hợp sẵn trên ứng dụng di động của các ngân hàng, các sản phẩm và dịch vụ của Google như Google Chart hay Google Map, trên bảng hiệu, xe buýt, danh thiếp, tạp chí, website, hàng hóa tại siêu thị, cửa hàng tiện lợi,
Trang 6Người dùng sử dụng camera điện thoại quét mã QR để thực hiện nhanh các giao dịch chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, mua hàng Chỉ với một lần quét, sau vài giây, bạn đã thanh toán thành công tại các nhà hàng, siêu thị, cửa hàng tiện lợi, taxi, thậm chí là các website thương mại điện tử hay trên bất cứ sản phẩm nào có gắn mã QR mà không cần sử dụng tiền mặt, thẻ, không lo lộ thông tin cá nhân tại các điểm thanh toán
2.3 Mô hình các nghiên cứu ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thanh toán điện tử:
2.3.1 Lý thuyết chấp nhận công nghệ TAM
Mô Hình Chấp Nhận Công Nghệ (TAM) của Davis và cộng sự được dựa trên
cơ sở của TRA và TPB với hai yếu tố nhận thức sự hữu ích và nhận thức dễ dàng sử dụng, TAM cung cấp góc nhìn sâu sắc để dự đoán các đặc tính hệ thống
có ảnh hưởng đến thái độ và hành vi sử dụng hệ thống thông tin
Hình 2.1: Mô hình chấp nhận công nghệ TAM
Trang 7Theo lý thuyết TAM, hai yếu tố liên quan đến hành vi chấp nhận của người tiêu dùng đối với một sản phẩm là: nhận thức về tính hữu dụng (Perceived Usefulness – PU) và nhận thức về tính dễ sử dụng (Perceived Ease of Use – PEU) Nhận thức về tính hữu dụng (PU) được hiểu là xác suất chủ quan của người
sử dụng tin rằng việc sử dụng các hệ thống đặc thù sẽ làm tăng hiệu quả hay năng suất làm việc của họ đối với một công việc cụ thể nào đó Nhận thức tính dễ sử dụng (PEU) là mức độ chủ quan mà người tiêu dùng tin rằng sử dụng hệ thống đặc thù được sử dụng rộng rãi làm họ dễ dàng không cần nỗ lực cao
Lý thuyết TAM được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng đối với các dịch vụ viễn thông, điện tử Giống như mô hình TRA, mô hình TAM thừa nhận rằng việc chấp nhận sử dụng sản phẩm, dịch vụ thông tin được quyết định bởi ý định sử dụng (BI – Behavior Intention) Tuy nhiên, khác với lý thuyết TRA, lý thuyết TAM cho rằng ý định sử dụng được quyết định bởi thái độ dẫn tới việc sử dụng (Attitude – A) Thái độ sử dụng bị tác động bởi hai yếu tố là nhận thức về tính hữu dụng (Perceived Utility – PU) và nhận thức về tính
dễ sử dụng (Perceived Ease of Use – PEU) Nhận thức về tính hữu dụng hay tính dễ
sử dụng của sản phẩm, dịch vụ phụ thuộc vào các tác nhân bên ngoài như kinh nghiệm, trình độ kiến thức, trình độ đào tạo, qui trình công nghệ, chất lượng hệ thống, dịch vụ lắp đặt, dịch vụ đào tạo ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định của người
sử dụng Đây điểm khác biệt chính của mô hình, khác với lý thuyết TRA, lý thuyết TAM nhấn mạnh vai trò tự quyết định của người tiêu dùng trong quá trình sử dụng
và quá trình tiêu dùng
Trang 8Hạn chế lý thuyết TAM: Thứ nhất, tính dễ sử dụng (PEU) liên quan đến việc kiểm soát hành vi bên trong như kỹ năng và ý chí Tuy nhiên, TAM chưa thể hiện được sự liên quan đến việc kiểm soát hành vi bên ngoài như thời gian, cơ hội và sự hợp tác của người khác Thứ hai, văn hóa có ảnh hưởng đến quá trình đưa ra quyết định sử dụng của người tiêu dùng Tuy nhiên, mô hình TAM chưa giải thích được
sự tham gia của các yếu tố văn hóa và xã hội cần thiết liên quan đến dự định sử dụng Cuối cùng, trong khi mô hình TPB là một mô hình mở linh hoạt bổ sung các biến cần thiết, khả năng áp dụng của TAM còn hạn chế và chưa linh hoạt trong các lĩnh vực khác nhau ngoài công nghệ thông tin
2.3.2 Lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thanh toán điện tử
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, mô hình lý thuyết chấp nhận công nghệ là nền tảng chủ yếu của các nghiên cứu với 2 yếu tố là nhận thức về tính hữu dụng và nhận thức về tính dễ sử dụng Trong đó, cả 2 nhân tố này đều tác động đến
sự hài lòng của người sử dụng đối với công nghệ và nhận thức về tính hữu dụng còn
có tác động trực tiếp đến ý định sử dụng Bên cạnh đó, các nghiên cứu trước đây còn cho thấy nhận thức về tính dễ sử dụng có tác động đến nhận thức về tính hữu dụng (Cheng và cộng sự, 2006; Nasri và Charfeddine, 2012)
Tính hữu dụng là một khái niệm khá trừu tượng để chỉ tính thích thú chủ quan, tính hữu ích hoặc một sự thỏa mãn do sử dụng dịch vụ.Tính hữu dụng là sự cảm nhận của một cá nhân về sự thỏa mãn nhu cầu hay sự thích thú của mình thông qua việc sử dụng một sản phẩm vật chất hay một dịch vụ điện tử nào đó Tính hữ dụng
Trang 9phụ thuộc vào lợi ích, công dụng và chất lượng của dịch vụ mang lại cho người sử dụng
Tính dễ sử dụng được thể hiện qua việc tiện ích của dịch vụ về thời gian cũng như công sức, Về mặt lý thuyết, tính dễ sử dụng được nhận thức khi người sử dụng cảm thấy hệ thống thanh toán điện tử không khó hiểu, dễ làm, học hỏi hay sử dụng
Vì lý do này, tính dễ sử dụng được coi là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng nhiều đến việc chấp nhận và sử dụng các công nghệ mới của người sử dụng Niềm tin được coi là bộ lọc lựa chọn thông tin cho mọi hành động Người sử dụng không nhất thiết phải tin những gì mình thấy, thường có xu hướng thấy những
gì họ đã tin Thể hiện bằng việc loại bỏ những thông tin trái ngược với những gì đã tin tưởng mà không xem xét liệu niềm tin và thành kiến của mình có dựa trên sự thật khách quan hay chỉ bởi cảm nhận chủ quan.Niềm tin xuất phát từ việc sử dụng tác động từ môi trường, thành quả, phổ biến rộng rãi, và nhận thức về dịch vụ khi đã
sử dụng
Chuẩn chủ quan chính là khi người sử dụng dịch vụ có quyết định lựa chọn sử dụng nữa hay không Phụ thuộc chính bởi các yếu tố bên ngoài tác động đến nhu cầu như việc truyền thông, môi trường xung quanh và các tác nhân khác tạo niềm tin về dịch vụ và thái độ khi sử dụng
Nhiều nghiên cứu cho thấy chuẩn chủ quan đóng vai trò quan trọng tác động đến ý định sử dụng dịch vụ của khách hàng (M.-C Lee, 2009; Nasri & Charfeddine, 2012; Taylor & Todd, 1995b) Vì vậy,nhóm tác giả vẫn đưa nhân tố này vào mô hình nghiên cứu để kiểm định mức độ tác động của chúng đến ý định sử dụng dịch
Trang 10vụ ngân hàng điện tử Dựa trên cơ sở lý thuyết về mô hình TRA-TAM-TPB; tham khảo tài liệu, các công trình nghiên cứu, các bài báo, hội thảo liên quan; Qua nghiên cứu định tính và thực tiễn, nhóm tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thanh toán điện tử theo 4 nhân tố là tính hữu dụng, tính dễ sử dụng, niềm tin và chuẩn chủ quan, cụ thể:
Các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất gồm: Tính hữu dụng sẽ có tác động đến ý định sử dụng TTDĐ của SV; Tính dễ sử dụng sẽ ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng TTDĐ của SV; Niềm tin sẽ có ảnh hưởng tích cực ảnh hưởng tích cực đến ý định sử dụng TTDĐ của SV và Chuẩn chủ quan sẽ ảnh hưởng đến ý định sử dụng TTDĐ của SV
2.4 Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến thanh toán ví điện tử
Thực tế đã có rất nhiều các nghiên cứu chỉ ra sự quan tâm đến các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thanh toán điện tử
Các nghiên cứu của Long Pham & Doan Ngoc Phi Anh, 2014 , Noel P.Sobejana & John Vianne B.Murcia, 2014 đều chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến quyết định thanh toán điện tử của người dùng gồm Chuẩn chủ quan (subjective norms), nhận thức về tính dễ sử dụng (perceived ease of use), niềm tin (trust), và nhận thức về tính hữu ích (perceived benefit).Tuy nhiên nghiên cứu của Noel P.Sobejana & John Vianne B.Murcia, 2014 Ngoài việc chỉ ra được các yếu tố quan trọng quyết định việc sử dụng của sinh viên và hành vi sử dụng; mối quan hệ bên ngoài; tính dễ sử dụng, tính hữu dụng, theo mô hình chấp nhận công nghệ TAM của Davis và Venkatesh (1996) Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật lấy mẫu nhiên liên quan
Trang 11đến 200 sinh viên từ 07 khoa của Đại học Mindanao thành phố Digos Nghiên cứu tiết lộ thêm rằng các biến số bên ngoài được sử dụng trong nghiên cứu (Chất lượng
hệ thống, Tiện lợi của khách hàng, Sáng tạo CNTT cá nhân, Ảnh hưởng xã hội vàChất lượng dịch vụ) được tìm thấy rất thỏa đáng theo cảm nhận của sinh viên.Hơn nữa, ba biến số bên ngoài được xác định là yếu tố quyết định quan trọng của sinh viên nhận thấy sự dễ sử dụng, tính hữu dụng và ý định trong mô hình nhân quả cuối cùng dẫn xuất
Ở Việt Nam , các nhà nghiên cứu cũng rất quan tâm đến thanh toán điện tử trong nước Nghiên cứu của Đặng Thị Ngọc Dung (2012) đã chỉ ra có 4 nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng thanh toán điện tử tại hệ thống xe điện Metro đó là Nhận thức sự hữu ích của Metro, Sự hấp dẫn của phương tiện cá nhân, Chuẩn chủ quan và Nhận thức về môi trường
Nghiên cứu của Bùi Văn Thịnh & Mai Hải Bình (2018) về “Các nhân tố ảnh
hưởng đến quyết định sử dụng dịch vụ ngân hàng điện tử của khách hàng tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội – chi nhánh Cần Thơ” đã tiến hành khảo sát 215
khách hàng đã và đang sử dụng dịch vụ internet banking tại Ngân hàng thương mại
cổ phần Sài Gòn – Hà Nội – chi nhánh Cần Thơ Các phương pháp phân tích thống
kê mô tả, kiểm định Cronbach’Alpha, phân tích nhân tố khám phá, phân tích nhân
tố khẳng định và phương pháp mô hình cấu trúc tuyến tính được sử dụng trong nghiên cứu này Kết quả nghiên cứu cho thấy có năm nhân tố công việc, hiệu quả, chuẩn chủ quan, rủi ro và pháp luật ảnh hưởng trực tiếp đến ý định chấp nhận internet banking và ý định chấp nhận ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định sử dụng