Phân loại các loại nguồn pháp luật: Tùy vào căn cứ phân biệt mà “Nguồn của Pháp” Source of law gồm có: nguồnnội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu nguồn cơ bản và nguồn thứ yếu.Khi x
Trang 1TIỂU LUẬN CUỐI KÌ MÔN: NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP
LUẬT ĐẠI CƯƠNG.
Đề tài: Nêu và cho ví dụ minh họa về các loại nguồn pháp
luật ở Việt Nam
Trang 2QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI VIỆT NAM – LÀO GIAI ĐOẠN
khuôn mẫu Nó là một hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước đặt ra có tính
quy phạm phổ biến, tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức và tính bắt buộc
Trang 3chung, thể hiện ý chí của giai cấp nắm quyền lực của nhà nước và được nhànước đảm bảo thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội Vậy là một côngdân Việt Nam chắc hẳn chúng ta cần phải biết pháp luật có nguồn gốc từ đâu, và
có các loại nguồn pháp luật nào ở Việt Nam! Đó chính là lí do tôi chọn đề tàinày
2 Mục đích nghiên cứu
Với đề tài “Nêu và cho ví dụ minh họa về các loại nguồn pháp luật ở Việt Nam”này sẽ khái quát một cách chân thực và dễ hiểu nhất về nguồn pháp luật, giúpngười đọc có được những hiểu biết cơ bản về nguồn pháp luật nói chung và cácloại nguồn pháp luật ở Việt Nam nói riêng
3 Nội dung chính
- Tổng quát về nguồn pháp luật
-Phân loại các loại nguồn pháp luật ở Việt Nam và nêu ví dụ minh họa
C NỘI DUNG
1 Khái niệm nguồn pháp luật, phân loại các loại nguồn pháp luật ở Việt Nam:
1.1 Khái niệm nguồn pháp luật:
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm “nguồn pháp luật” chẳng han như là:
- “Nguồn của pháp luật là tất cả những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền sửdụng làm cơ sở để xây dựng, thực hiện pháp luật, cũng như áp dụng để giảiquyết những vụ việc pháp lí xảy ra trong thực tiễn”
- “Nguồn của pháp luật là tất cả các yếu tổ chứa đựng hoặc cung cẩp căn cứpháp lí đế các chủ thể thực hiện hành vi thực tế.”
=> Nói theo cách đầy đủ nhất thì “nguồn của pháp luật” nói chung là “tất cảnhững căn cứ được các chủ thể sử dụng làm cơ sở để xây dựng, giải thích, thựchiện pháp luật cũng như để áp dụng pháp luật vào việc giải quyết các vụ việc
Trang 4pháp lý xảy ra trong thực tế Hiểu theo nghĩa này thì nguồn của pháp luật gồm
có nguồn nội dung và nguồn hình thức” 1
1.2 Phân loại các loại nguồn pháp luật:
Tùy vào căn cứ phân biệt mà “Nguồn của Pháp” (Source of law) gồm có: nguồnnội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu (nguồn cơ bản) và nguồn thứ yếu.Khi xét về nguồn của pháp luật ở Việt Nam hiện nay thì:
- Nguồn nội dung: “là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật bởi vì nó được cácchủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành và giải thích phápluật”
- Nguồn hình thức của pháp luật được hiểu “là phương thức tồn tại của các quyphạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các quyphạm pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó
để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế” Tuy nhiên, sự phân chianày chỉ có tính chất tương đối; trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lí,vấn đề về nguồn nội dung nhìn chung không có nhiều ý nghĩa, ngược lại nguồnhình thức lại luôn được quan tâm
2 Liệt kê và phần tích các loại nguồn Pháp luật ở Việt Nam:
2.1 Nguồn hình thức:
Là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơichứa đựng, nơi có thể cung cấp các quy phạm pháp luật, tức là những căn cứ màcác chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ratrong thực tế
Trang 5¿ Văn bản quy phạm pháp luật:
• Khái niệm:
- Quy phạm pháp luật là những quy tắc xử sự chung được nhà nước đặt ra đểthực hiện ý chí của mình, được sử dụng nhiều lần trên thực tế và trên phạm vi cảnước
- Văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là văn bản chứa đựng quy phạm phápluật do các chủ thể có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức dopháp luật quy định, trong đó có chứa đựng các quy tắc xử sự chung đế điềuchỉnh các mối quan hệ xã hội”
- Văn bản quy phạm pháp luật vừa là nguồn, vừa là hình thức pháp luật quantrọng bậc nhất Đây là hình thức pháp luật thành văn, thể hiện rõ nét nhất tínhxác định về hình thức của pháp luật; chứa đựng bộ quy tắc xử sự chung, đó làkhuôn mẫu ứng xử cho một nhóm đối tuợng chung nhất định, trong điều kiệnhoàn cảnh nhất định Pháp luật của mọi nhà nước hiện đại đều quỵ định cụ thể
về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành đối với từng loại văn bản quy phạmpháp luật cụ thể
• Các cơ quan ban hành: Các cơ quan có thẩm quyền và được quyền lực nhànước bảo đảm thực hiện, bao gồm những chủ thể sau:
- Quốc Hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướngchính phủ, Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhândân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhànước, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, hội đồng nhân dân các cấp, uỷban nhân dân các cấp
- Ngoài ra còn một số cơ quan thuộc nhà nước quản lý như: Đoàn chủ tịch Uỷban trung ương mặt trận tổ quốc Việt Nam phối hợp với Uỷ ban Thường vụQuốc Hội hoặc Chính Phủ
Trang 6-Vì có tính chất là mang tính quy phạm được sử dụng nhiều lần trên thực tế nênchủ thể ban hành là những cơ quan đầu não của nhà nước Như vậy mới đảmbảo được tính chính xác của nội dung đi vào thực tế có hiệu quả nhất.2
• Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật:
Theo quy định tại Văn bản hợp nhất 23/VBHN-VPQH hiện hệ thống văn bảnquy phạm pháp luật tại nước ta gồm có:
- Hiến pháp
- Bộ luật, luật (sau đây gọi chung là luật), nghị quyết của Quốc hội
- Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; nghị quyết liên tịchgiữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặttrận Tổ quốc Việt Nam; nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội,Chính phủ, Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước
- Nghị định của Chính phủ; nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủtịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
- Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
- Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Thông tư của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thông tư của Viện trưởngViện kiểm sát nhân dân tối cao; thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quanngang bộ; quyết định của Tổng Kiểm toán nhà nước Thông tư liên tịch giữaChánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao,Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Khôngban hành thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ
2 Văn b n quy ph m pháp lu t là gì? – Nguyễễn Hoàng Phi ả ạ ậ
Trang 7- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sauđây gọi chung là cấp tỉnh)
- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương ở đơn vị hành chính– kinh tế đặc biệt
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh,thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấphuyện)
- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp huyện
- Nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung làcấp xã)
- Quyết định của Ủy ban nhân dân cấp xã
• Ưu điểm của văn bản quy phạm pháp luật: có các ưu điểm như: chính xác, rõràng, minh bạch, có tính thống nhất, đồng bộ của cả hệ thống pháp luật, dễ ápdụng, dễ phổ biến vì vậy nó trở thành nguồn quan trọng hàng đầu của pháp luậtViệt Nam
•Đặc điểm:
- Nhìn chung, trong hệ thống pháp luật của các quốc gia đều bao gồm khá nhiềuloại văn bản quy phạm pháp luật khác nhau do các chủ thể khác nhau có thẩmquyền ban hành, với hiệu lực pháp lí ở mức độ khác nhau
- Là văn bản do các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền banhành ban hành theo thủ tục, trình tự luật định
- Văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành được gọi là vănbản luật, các văn bản quy phạm pháp luật khác được gọi là văn bản dưới luật
Trang 8- Là văn bản có chứa đựng các quy phạm pháp luật Các quy phạm này là nhữngkhuôn mẫu của hành vi mà mọi thành viên xã hội, các nhân, tổ chức, cơ quannhà nước và tổ chức có liên quan phải xử sự theo.
- Được thực hiện nhiều lần trong thực tế cuộc sống và trong mọi trường hợp khi
có các sự kiện pháp lý tương ứng với nó xảy ra cho đến khi nó hết hiệu lực
- Tên gọi, nội dung, trình tự và thủ tục ban hành được quy định cụ thể trongpháp luật
- Có thể được dùng để ban hành, sửa đối, bố sung, thay thế hoặc bãi bỏ các quyphạm và văn bản quy phạm pháp luật khác
• Cách nhận biết:
- Dựa vào số liệu
- Dựa vào cơ quan ban hành và loại văn bản
• Trong hệ thống pháp luật ở nước ta có nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật
do các chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành Văn bản có hiệu lực pháp lýcao nhất là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thứ hai là vănbản luật, sau đó là các văn bản quy phạm pháp luật của nguyên thủ quốc gia,các văn bản quy phạm pháp luật do chính phủ, thủ tướng chính phủ ban hành,cuối cùng là các văn bản quy phạm pháp luật do chính quyền địa phương banhành
• Ví dụ về văn bản quy phảm pháp luật:
- Ngày 30/12/2019, Nghị định 100/2019/NĐ-CP được Chính phủ ban hành Nghịđịnh 100/2019/NĐ-CP Nghị định này là văn bản mới nhất quy định về hành vi
vi phạm hành chính; hình thức, mức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quảđối với từng hành vi vi phạm hành chính; thẩm quyền lập biên bản, …
- Bộ luật dân sự 2015 và các nghị định, thông tư hướng dẫn
Trang 9- Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 và cá thông tư liên tịch giữa Tòa
án và Viện kiểm sát, Bộ Công An
- Luật Hành chính có nguồn là Luật xử lý vi phạm hành chính
=> Đánh giá: văn bản quy phạm pháp luật là nguồn quan trọng, được sử dụngnhiều và mang đặc điểm của luật dân sự, coi trọng văn bản pháp luật
* Tiền lệ pháp: điển hình là án lệ:
• Tiền lệ pháp:
- Khái niệm: “là một hình thức của pháp luật, theo đó Nhà nước thừa nhậnnhững bản án, quyết định giải quyết vụ việc của tòa án (trong các tập san án lệ)làm khuôn mẫu và cơ sở để đưa ra phán quyết cho những vụ việc hoặc trườnghợp có tình tiết hay vấn đề tương tự sau đó Tiền lệ pháp còn là quá trình làmluật của toà án trong việc công nhận và áp dụng các nguyên tắc mới trong quátrình xét xử”.3
- Nguồn gốc: xuất hiện từ hoạt động của cơ quan hành pháp và tư pháp
=> dễ tạo ra sự tùy tiện, không phù hợp với nguyên tắc pháp chế đòi hỏi phảitôn trọng nguyên tắc tối cao của luật và phải phân định rõ chức năng, quyền hạncủa các cơ quan trong bộ máy nhà nước trong việc xây dựng và thực hiện phápluật
- Chỉ có thể được hình thành từ hoạt động xét xử của cơ quan tư pháp, chứkhông phải từ cơ quan lập pháp hay hành pháp
- Tiền lệ pháp hình thành từ các cơ quan tư pháp được gọi là án lệ
• Án lệ:
Trang 10Khái niệm: Án lệ là những vụ việc đã xảy ra từ trước đó, được giải quyết quanội dung của bản án, quyết định của Tòa án và được lưu giữ lại, có tính chấtmẫu mực, được coi là nguồn của pháp luật, dùng để tham khảo cho quá trình xử
lý các vụ việc có tính chất tương tự Hay nói cách khác án lệ là đường lối giảithích và áp dụng luật pháp của các Tòa án về một điểm pháp lý, đường lối này
đã được coi như một tiền lệ, khiến các thẩm phán sau đó có thể noi theo trongcác trường hợp tương tự
- Ở các nước theo hệ thống pháp luật Common Law thì án lệ được coi là mộtnguồn luật chính thức và quan trọng trong quá trình xét xử
- Ở Việt Nam có thừa nhận các án lệ nhưng trên thực tế thì không được áp dụngquá nhiều mà chủ yếu là căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành Nước
ta có 43 án lệ được chia thành 5 đợt, cơ sở pháp lí hình thành là hiến pháp 2013,luật tổ chức tòa án 2014,…
- Không phải bất cứ bản án, quyết định nào của Tòa án cũng đều được trở thành
án lệ
o Cơ sở hình thành:
Cơ sở hình thành chính là những khuyết điểm của hệthống pháp luật Khi có những khuyết điểm, Tòa án sẽviện dẫn những căn cứ pháp luật được coi là hợp lý đểđưa ra phán quyết có tính đột phá, bản án được đưa ra này
sẽ được Tòa tối cao công bố là án lệ để áp dụng chungcho các trường hợp tương tự có khiếm khuyết quy phạmhoặc chưa có dẫn chiếu quy phạm rõ ràng
o Tiêu chí và quy trình lựa chọn án lệ:
- Tiêu chí: Theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP củaHội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao
- Quy trình: gồm các bước sau:
Trang 11+ Bước một: Đề xuất quyết định, bản án để phát triểnthành án lệ.
+ Bước hai: Lấy ý kiến đối với quyết định, bản án được
đề xuất lựa chọn, phát triển thành án lệ
+ Bước ba: Thành lập Hội đồng tư vấn án lệ
+ Bước bốn: Lấy ý kiến Hội đồng tư vấn án lệ
+ Bước năm: Thông qua án lệ
+ Bước cuối cùng: Công bố án lệ
o Giá trị của án lệ:
- Làm rõ quy định về vấn đề pháp lí, nguyên tắc pháp lí
- Mang tính chuẩn mực, thực tiễn cao
- Có khả năng khắc phục được những lỗ hổng pháp luậtmột cách kịp thời và nhanh chóng
- Thể hiện tính công bằng và khách quan
đã bị dị ứng da do hóa chất có trong quần áo gây ra
Trang 12bồithường và yêu cầu áp dụng quy tắc tiền lệ của vụviệc cô Donoghue Các thẩm phán của hội đồng xét xửcủa Ủy ban tư pháp của Vương quốc Anh (PrivyCouncil) đã đưa ra những lý lẽ riêng của mình và tranhluận rất quyết liệt để xác minh vụ việc này giống haykhác với vụ Donoghue v Steveson 1932 Chẳng hạnthẩm phán Greene lập luận dựa vào thuật ngữ control(kiểm soát) để phân biệt vụ việc này với vụ việcDonoghue v Steveson Sản phẩm mà cô Donoghue sửdụng là lon nước gừng đục, khác hang không thể vàkhông có khả năng phát hiện khiếm khuyết của sảnphẩm, điều này dẫn đến trách nhiệm của nhà sản xuất
là tất yếu Trong khi đó, sản phẩm trong vụ Grant vAustralia Kntiting Mills là quần áo, khách hang có thểphát hiện những khiếm khuyết của sản phẩm hoặc cónhững biện pháp an toàn khác khi sử dụng nhưgiawtjtr]ơcs khi mặc vào Vụ việc Donoghue vSteveson trong quá trình tranh luận, có lẽ có thể đã đưa
ra qyt tắc lien quan đến trách nhiệm của nhà sảnxuất(‘liability of manufacturers’) có thể bị nghi ngờ là
đi quá xa hay là tính khá quát của quy tắc này quá cao4
Trang 13được Nhà nước bảo đảm thực hiện Được xem như mộtnguồn bổ trợ, nhất là khi nhiều quan hệ xã hội chưađược điều chỉnh bởi văn bản pháp luật.
- Cơ sở pháp lí là Bộ Luật dân sự điều 13, 14
- Thứ tự ưu tiên và điều kiện để áp dụng tập quán pháp:+Giữa các bên không có thỏa thuận
+ Không có pháp luật điều chỉnh trực tiếp
- Nhà nước thường chỉ thừa nhận những tập quán khôngtrái với những giá trị đạo đức xã hội và trật tự côngcộng
- Ví dụ:
+ Theo khoản 2 Điều 26 Bộ Luật Dân sự năm 2015:
“Họ của cá nhân được xác định là họ của cha đẻ hoặc
họ của mẹ đẻ theo thỏa thuận của cha mẹ; nếu không
có thỏa thuận thì họ của con được xác định theo tậpquán Trường hợp chưa xác định được cha đẻ thì họ củacon được xác định theo họ của mẹ đẻ.”5
+ Điều 121 Bộ Luật Dân Sự năm 2015 “Giao dịch dân
sự có nội dung không rõ ràng, khó hiểu, được hiểu theonhiều nghĩa khác nhau và không thuộc quy định tại
Trang 14khoản 2 Điều này thì việc giải thích giao dịch dân sự
đó được thực hiện theo thứ tự sau đây:
\ Theo ý chí đích thực của các bên khi xác lậpgiao dịch
\ Theo nghĩa phù hợp với mục đích của giaodịch
\ Theo tập quán nơi giao dịch được xác lập”.6
Đánh giá:
- Ưu điểm: xuất phát từ những thói quen, quy tắc ứng xử
từ lâu đời nên đã ngấm sâu vào tiềm thức của ngườidân và được người dân tự giác tuân thủ => tạo nênpháp luật và nâng cao hiệu quả của pháp luật; Gópphần khắc phục tình trạng thiếu pháp luật, khắc phụccác lỗ hổng của pháp luật thành văn
- Nhược điểm: tại dưới dạng bất thành văn nên thườngđược hiểu một cách ước lệ, nó thường có địa phương,khó có thể được hiểu và thực hiện thống nhất trongphạm vi rộng
Nguồn điều ước quốc tế:
o Khái niệm:
- Điều ước quốc tế là văn bản pháp lý quốc tế, do cácquốc gia và chủ thể khác của luật quốc tế thoả thuậnxây dựng nên, nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứtquyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau, thông qua các quyphạm gọi là quy phạm điều ước Điều ước quốc tế có
6 Điều 21 – bộ luật Dân sự 2015