TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ Chuyên đề số 7 Trình bày các vấn đề đang tồn tại trong Hệ thống tiền
Trang 1TỔNG LIÊN ĐOÀN LAO ĐỘNG VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ
Chuyên đề số 7
Trình bày các vấn đề đang tồn tại trong Hệ thống tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2018- đến nay, các sự kiện hoặc chính sách Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng để hiệu chỉnh các chỉ số tiền tệ từ năm 2018- đến nay
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thành Nhân
Nhóm:
TPHCM, THÁNG 5, 2021
Trang 2Danh sách sinh viên thực hiện
1.Giang Quỳnh Nhi 22000358
2.Nguyễn Thị Yến 22000467
3 Nguyễn Thị Thu Uyên 22000438
4 Bùi Nguyễn Hương Giang 22000352
5 Lê Nguyễn Yến Vy 22000442
6 Lê Huỳnh Bảo Hân 22000358
7 Đỗ Thị Thu Thảo 22000461
8 Nguyễn Thị Phương Thảo 22000412
9 Trịnh Nguyễn Cát Tường 22000436
10 Trần Thị Huyền Thương 22000417
Trang 3ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
*************
ĐIỂM BÀI TIÊU LUẬN KINH TẾ VĨ MÔ 20%
HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2020– 2021
Tên bài tiểu luận 20% Trình bày các vấn đề đang tồn tại trong Hệ thống tiền tệ
Việt Nam giai đoạn 2018- đến nay, các sự kiện hoặc chính sách Ngân hàng Nhà nước đã áp
dụng để hiệu chỉnh các chỉ số tiền tệ từ năm 2018- đến nay
Nhóm thực hiện: ……3………ca: ………thứ …
Đánh giá:
điểm
Điểm
mục lục, bảng biểu,…)
tham khảo
Lời mở đầu: trình bày tóm tắt nội dung và cấu trúc tiểu
luận
1,0
Chương 2: Chuyên sâu phân tích đề tài
-Applied Previous studies (ISI/SCOPUS)
2,5 (+2,0)
Điểm chữ (làm tròn đến 1 số thập
phân)
Ngày ……….tháng năm 2021
Giảng viên chấm điểm
1 Giang Quỳnh Nhi Các vấn đề trong hệ thống tiền tệ 10%
2 Nguyễn Thị Yến Chính sách nhà nước 10%
3 Nguyễn Thị Thu Uyên Các vấn đề trong hệ thống tiền tệ 10%
4 Bùi Nguyễn Hương Giang Các vấn đề trong hệ thống tiền tệ 10%
5 Lê Nguyễn Yến Vy Các vấn đề trong hệ thống tiền tệ 10%
6 Lê Huỳnh Bảo Hân Làm word và pp 10%
7 Đỗ Thị Thu Thảo Nhận xét chung và đưa ra kiến nghị 10%
8 Nguyễn Thị Phương Thảo Nhận xét chung và đưa ra kiến nghị 10%
9 Trịnh Nguyễn Cát Tường Nhận xét chung và đưa ra kiến nghị 10%
10 Trần Thị Huyền Thương Chính sách nhà nước 10%
Trang 4ĐẠI HỌC TÔN ĐỨC THẮNG KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
*************
ĐIỂM THUYẾT TRÌNH KINH TẾ VĨ MÔ 20%
HỌC KỲ 2 NĂM HỌC 2020– 2021
Tên bài thuyết trình 20%: Trình bày các vấn đề đang tồn tại trong Hệ thống tiền tệ
Việt Nam giai đoạn 2018- đến nay, các sự kiện hoặc chính sách Ngân hàng Nhà nước đã áp
dụng để hiệu chỉnh các chỉ số tiền tệ từ năm 2018- đến nay
Nhóm thực hiện: …………3………ca: ………thứ …
Đánh giá:
điểm
Điểm
Điểm chữ (làm tròn đến 1 số thập
phân)
Ngày ……….tháng năm 2021
Giảng viên chấm điểm
Trang 5Mục Lục
BÁO CÁO NHÓM MÔN KINH TẾ VĨ MÔ 1
1.Các vấn đề trong Hệ thống tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2018-đến nay .5
2.Các chính sách Ngân hàng Nhà Nước đã áp dụng để hiệu chỉnh các chỉ số tiền tệ từ năm 2018
-đến nay .7
- Năm 2018 7
- Năm 2019 8
- Năm 2020 9
- Năm 2021 12
3.Cơ hội, thách thức và kiến nghị 13
- 3.1.Cơ hộ 13
- 3.2.Thách Th ứ c: 14
- 3.3.Ki ế n ngh ị 14
4.Các nguồn tài liệu tham khảo 16
Trang 61.Các vấn đề trong Hệ thống tiền tệ Việt Nam giai đoạn 2018-đến nay.
-Trong năm 2018, thị trường tiền tệ tín dụng hoạt động trong bối cảnh chính sách tiền
tệ được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và thận trọng, phối hợp với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế Việc điều hành chính sách tiền tệ thận trọng, kiên định với mục tiêu ổn định vĩ mô đã giúp thị trường có những điểm sáng như tăng trưởng tín dụng chậm lại, tỷ giá và mặt bằng lãi suất ổn định trong bối cảnh kinh tế thế giới nhiều biến động trái chiều Tuy nhiên, thị trường đang phải đối mặt với những vấn đề về thu hẹp thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, áp lực tăng lãi suất cho vay cao và dư địa thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ đã hẹp hơn so với đầu năm 2018 Bên cạnh đó, thị trường tiền tệ - tín dụng năm 2019 vẫn phải đối mặt với thách thức từ những biến động trên thị trường quốc tế, việc thực hiện theo đuổi đa mục tiêu kinh tế và xử lý các vấn đề bất cập nội tại của hệ thống ngân hàng
-Thị trường vào cuối năm 2018 phải đối mặt với những vấn đề về thu hẹp thanh khoản trong hệ thống ngân hàng, áp lực tăng lãi suất cho vay cao và dư địa thực hiện các công cụ của chính sách tiền tệ đã hẹp hơn so với đầu năm 2018 Cụ thể:
Thứ nhất, thách thức trong đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng:
Từ cuối tháng 7/2018, lãi suất liên ngân hàng bắt đầu tăng, đến cuối năm 2018, lãi suất bình quân kỳ hạn qua đêm đang ở mức 3,91%/năm, lãi suất của các kỳ hạn dài hơn đều đang ở mức cao nhất trong cả năm, lãi suất kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng đang ở mức cao nhất, chạm mốc 5,6% và 6,2% Lãi suất liên ngân hàng tăng cho thấy tính thanh khoản của hệ thống ngân hàng những tháng cuối năm
đã kém dồi dào hơn
Thứ hai, thách thức trong điều hành chính sách tiền tệ khi dư địa thực hiện các
công cụ chính sách đã thu hẹp lại
Thứ ba, thách thức từ áp lực tăng lãi suất cho vay đang có chiều hướng gia tăng.
Mặt bằng lãi suất huy động và lãi suất cho vay trong đà tăng, có thể gây cản trở tới duy trì tăng trưởng kinh tế cao vào năm 2019
Thứ tư, hiệu quả hoạt động, phân phối nguồn vốn của hệ thống tổ chức tín dụng
còn nhiều hạn chế
Trang 7-Trong năm 2019, thị trường tiền tệ, tín dụng sẽ phải đối mặt với không ít khó khăn thách thức do những vấn đề nội tại của thị trường tiền tệ - tín dụng Việt Nam và những tác động bất lợi của bối cảnh kinh tế - tài chính trong và ngoài nước Năm 2019, Chính phủ kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách các lĩnh vực trọng yếu cũng như đổi mới mô hình tăng trưởng nhằm đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
đã đề ra trong kế hoạch 2016 - 2020, hướng tới tăng trưởng bền vững NHNN sẽ tiếp tục điều hành linh hoạt, cẩn trọng, phối hợp hiệu quả với các chính sách vĩ mô, tăng cường hoạt động quản lý, thanh tra giám sát an toàn nhằm duy trì ổn định hệ thống ngân hàng, cải thiện môi trường kinh doanh, hỗ trợ tăng trưởng bền vững
- Năm 2020, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại giữa các nền kinh tế lớn gia tăng, cộng hưởng với đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu Quá trình “bình thường hóa” chính sách tiền tệ (CSTT) của các quốc gia nhanh chóng đảo chiều sang nới lỏng, các chương trình kích thích tài khóa quy mô lớn chưa từng có không cứu vãn được kinh tế toàn cầu chìm sâu vào suy thoái hơn cả Đại suy thoái 1930 với mức tăng trưởng kinh tế thế giới giảm sâu - 4,4% theo dự báo tháng 10.2020 của Quỹ tiền tệ quốc tế
thị trường thế giới diễn biến bất thường, đặc biệt đại dịch COVID-19 ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế và hệ thống ngân hàng trong nước, nên tín dụng tăng thấp hơn dự kiến; tăng trưởng kinh tế đạt thấp (mặc dù là số ít quốc gia có tăng trưởng dương); lạm phát vẫn chịu áp lực khó lường từ giá cả thế giới, thiên tai, dịch bệnh, áp lực nợ xấu hệ thống ngân hàng gia tăng từ tác động của đại dịch là những thách thức to lớn trong thời gian tới
-Hội Nghiên cứu Thị trường liên ngân hàng Việt Nam (VIRA) vừa công bố dự báo các chỉ tiêu chính trên thị trường tiền tệ tháng 4 và quý II/2021 Điểm nổi bật ở kỳ báo cáo này là tâm lý thị trường đang khá giao động, thể hiện qua chênh lệch dự báo khá lớn giữa các thành viên
Bối cảnh hiện tại, thị trường tiền tệ và điều hành chính sách cũng đang ở những lằn ranh nhạy cảm
Trước hết, tâm lý lạm phát quay trở lại đang thể hiện, không chỉ tại Việt Nam mà bao trùm toàn cầu Giá hàng hóa, nguyên vật liệu đã biến động mạnh, theo hướng tăng lên
Trang 8thời gian gần đây Tổng cầu đang hồi phục khi dịch Covid-19 được kiểm soát cùng lộ trình vaccine dần mở rộng Hiệu ứng dữ liệu đơn thuần trên nền tham chiếu thấp của cùng kỳ cũng là một yếu tố đáng chú ý
Việt Nam có nền kinh tế mở, mới nổi và nhạy cảm với chi phí đẩy nguyên vật liệu đầu vào Nhưng, lương thực thực phẩm là một trọng số có thể được bình ổn theo yếu tố mùa vụ và giúp kìm chỉ số CPI ngắn hạn
Điểm nhạy cảm hơn với Việt Nam hiện nay, bên cạnh tâm lý lạm phát, là tình huống
có “đảo chiều” chính sách tiền tệ hay không Lãi suất đang có dấu hiệu đã qua kỳ “tiền rẻ” và bật lại; Ngân hàng Nhà nước đang đứng giữa áp lực kiểm soát dấu hiệu lạm phát và bong bóng tài sản, trong khi vẫn cần hỗ trợ nền kinh tế phục hồi
2 Các chính sách Ngân hàng Nhà Nước đã áp dụng để hiệu chỉnh các chỉ số tiền
tệ từ năm 2018 - đến nay.
- Năm 2018 : Hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam có một năm 2018 thành công
Các giải pháp chính sách tiền tệ phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác góp phần kiểm soát hiệu quả lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô,
hỗ trợ tăng trưởng hợp lý
NHNN đã triển khai đồng bộ các giải pháp chính sách tiền tệ (CSTT) và hoạt động ngân hàng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô (KTVM) khác kiểm soát hiệu quả lạm phát, ổn định KTVM, hỗ trợ tăng trưởng hợp lý; đảm bảo an toàn hoạt động của các tổ chức tín dụng (TCTD)
NHNN đã thực hiện đồng bộ, linh hoạt các công cụ CSTT để ổn định thị trường tiền
tệ (TTTT), ngoại hối, góp phần kiểm soát lạm phát ở mức 3,54% (là năm thứ 5 liên tiếp lạm phát được kiểm soát ở mức dưới 4%) và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt 7,08%
Mặt bằng lãi suất được duy trì ổn định trong bối cảnh lãi suất thị trường quốc tế tăng Điều chỉnh giảm lãi suất chào mua trên thị trường mở (OMO) từ 5%/năm xuống 4,75%/năm để góp phần giảm chi phí vốn cho TCTD
Trang 9 Tăng trưởng tín dụng (TTTD) phù hợp với cân đối vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, gắn liền với nâng cao chất lượng, tập trung tín dụng vào sản xuất kinh doanh
Tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, thông suốt, NHNN tiếp tục mua ngoại tệ bổ sung dự trữ ngoại hối nhà nước
- Năm 2019 : Trên cơ sở các mục tiêu Quốc hội, Chính phủ và đánh giá KTVM, tiền tệ
trong năm 2019, NHNN tiếp tục điều hành CSTT chủ động, linh hoạt, thận trọng, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách KTVM khác nhằm kiểm soát lạm phát theo mục tiêu bình quân dưới 4%; duy trì ổn định KTVM, hỗ trợ tăng trưởng kinh
tế ở mức hợp lý, ổn định TTTT và ngoại hối
Bám sát diễn biến KTVM, thị trường tài chính, tiền tệ trong nước và quốc tế, điều hành chủ động, linh hoạt, thận trọng, đồng bộ các công cụ CSTT nhằm
ổn định TTTT và ngoại hối, kiểm soát tăng trưởng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng theo định hướng đề ra
Điều hành tín dụng phù hợp với chỉ tiêu định hướng, đi đôi với nâng cao chất lượng tín dụng; Thông báo chỉ tiêu TTTD đối với từng TCTD trên cơ sở đánh giá tình hình hoạt động và khả năng TTTD lành mạnh
Triển khai tích cực các biện pháp hạn chế tình trạng đô la hóa trên lãnh thổ, tăng niềm tin vào VND, góp phần ổn định thị trường ngoại tệ và KTVM
Phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành liên quan trong quản lý và điều hành KTVM trên cơ sở bám sát diễn biến KTVM, lạm phát nhằm thực hiện các mục tiêu đề ra
Về điều hành lãi suất, NHNN bám sát chỉ đạo của Chính phủ, diễn biến thị trường để triển khai tổng thể các biện pháp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn vay chi phí hợp lý, hỗ trợ sản xuất kinh doanh Từ ngày 16/09/2019, NHNN điều chỉnh giảm đồng bộ 0,25%/năm các mức lãi suất điều hành; từ ngày 19/11/2019 giảm 0,2-0,5%/năm trần lãi suất huy động các kỳ hạn dưới 6 tháng và 0,5%/năm trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên; giảm 0,75%/năm lãi suất nghiệp vụ thị trường mở Đồng thời, chỉ đạo TCTD chủ động cân đối nguồn vốn và năng lực tài chính để áp dụng lãi suất cho vay hợp lý; điều hòa thanh khoản ổn định thị trường, nhờ đó
Trang 10duy trì lãi suất thị trường liên ngân hàng phù hợp, tạo điều kiện hỗ trợ nguồn vốn chi phí hợp lý cho TCTD Kết quả sau các động thái điều hành của
NHNN, mặt bằng lãi suất thị trường có xu hướng giảm Lãi suất huy động các
kỳ hạn dưới 6 tháng giảm 0,2-0,5%/năm và lãi suất cho vay các lĩnh vực ưu tiên giảm 0,5%/năm Các TCTD có thị phần lớn chủ động giảm lãi suất cho vay đối với lĩnh vực ưu tiên, áp dụng chương trình cho vay ưu đãi đối với doanh nghiệp với nhiều đợt cắt giảm trong năm 2019
- Năm 2020 : Năm 2020, kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, căng thẳng thương mại giữa
các nền kinh tế lớn gia tăng, cộng hưởng với đại dịch COVID-19 tác động tiêu cực đến nền kinh tế toàn cầu NHNN chủ động triển khai quyết liệt, kịp thời, góp phần quan trọng trong việc đạt mục tiêu kiểm soát lạm phát, củng cố nền tảng vĩ mô, duy trì môi trường kinh doanh lành mạnh, hỗ trợ đà phục hồi tăng trưởng kinh tế
Lạm phát được kiểm soát ổn định đã tạo lập nền tảng vững chắc, duy trì niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đối với môi trường kinh doanh Việt Nam, góp phần thu hút đầu tư nước ngoài (Lạm phát cơ bản bình quân ổn định ở mức 2,31% (năm 2019 là 2,01%))
Ngày 01/10/2020, NHNN tiếp tục giảm đồng bộ 0,5%/năm các mức lãi suất điều hành, giảm 0,25%/năm trần lãi suất tiền gửi VND từ 1 đến dưới 6 tháng và giảm 0,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên) NHNN đã điều chỉnh giảm 1,5-2,0%/năm lãi suất điều hành, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản, tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp từ NHNN; giảm 0,6-1,0%/năm trần lãi suất tiền gửi VND các kỳ hạn dưới 6 tháng, giảm 1,5%/năm trần lãi suất cho vay ngắn hạn VND đối với các lĩnh vực ưu tiên để hỗ trợ giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp, người dân
Mức giảm lãi suất điều hành của một số NHTW châu Á tính chung trong năm
2020 và 2 tháng đầu năm 2021: Philippines: -2%; Thái Lan: -0,75%; Malaysia:
1,25%; Indonesia: 1,5%; Ấn Độ: 1,15%; Trung Quốc: 0,3%; Việt Nam: -2,1% So với các nước trong khu vực, Việt Nam là một trong các quốc gia có mức giảm lãi suất điều hành mạnh nhất
Trang 11 NHNN đã ban hành Thông tư số 01/2020/TT-NHNN ngày 13/3/2020 quy định
về việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ, tạo hành lang pháp lý, cơ chế đột phá
để các TCTD tháo gỡ khó khăn về vốn vay cho khách hàng Đồng thời liên tục
tổ chức các hội nghị kết nối Ngân hàng - Doanh nghiệp trên toàn quốc, khảo sát thực địa, tiếp nhận và giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của người dân, doanh nghiệp
Đến 22/02/2021, hệ thống các TCTD đã: (1) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 265.191 khách hàng bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 với dư nợ 366.309 tỷ đồng; (2) Miễn, giảm, hạ lãi suất cho 625.064 khách hàng với dư nợ 1.061.522
tỷ đồng; (3) Cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ 23/01/2020 đến 22/02/2021 đạt 2.655.887 tỷ đồng cho 426.134 khách hàng Ngoài ra, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) đã thực hiện gia hạn nợ cho 169.770 khách hàng với dư nợ 4.230 tỷ đồng, cho vay mới đối với 2.258.413 khách hàng với
số tiền 81.000 tỷ đồng
Hình 1:Kết quả các giải pháp tín dụng ứng phó dịch Covid-19
Trang 12 NHNN đã chỉ đạo các TCTD tập trung mọi nguồn lực, cải thiện quy trình, thủ tục cho vay để nâng cao khả năng tiếp cận vốn của nền kinh tế, giảm lãi suất cho vay và lợi nhuận để hỗ trợ khách hang NHNN chủ động thường xuyên rà soát để điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các TCTD có khả năng mở rộng tín dụng an toàn, lành mạnh Đến cuối năm 2020, dư nợ tín dụng toàn hệ thống tăng 12,17% so với cuối năm 2019, ngày 08/3/2021 tiếp tục tăng 0,61%
so với cuối năm 2020 Cơ cấu tín dụng tiếp tục có sự điều chỉnh tích cực, tín dụng có xu hướng tập trung vào các lĩnh vực có đóng góp và là động lực của tăng trưởng kinh tế :
+ Lĩnh vực sản xuất kinh doanh: Đến tháng 12/2020, tín dụng đối với ngành công nghiệp tăng 11,18% so với cuối năm 2019, chiếm 18,85% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống; tín dụng đối với ngành xây dựng tăng 6,47%, chiếm
9,29%; tín dụng đối với ngành dịch vụ tăng 13,9%, chiếm 63,43%
+ Lĩnh vực ưu tiên: Đến tháng 12/2020, tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 11,52%, chiếm 24,78% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 13,56%, chiếm 19,8%; tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 13,66%, chiếm 2,96%; tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 5,26%, chiếm 0,35%
+ Lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro: Đến cuối tháng 12/2020, dư nợ tín dụng đối với lĩnh vực bất động sản (bao gồm cả mục đích kinh doanh và mục đích tự sử dụng) tăng 11,89% so với cuối năm 2019, chiếm 19,56% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống
NHNN thường xuyên trao đổi thông tin, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành trong công tác điều hành CSTT, giá hàng hóa dịch vụ, dự báo lạm phát Đồng thời, phối hợp chặt chẽ với Bộ Tài chính trong trao đổi thông tin
về tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại hệ thống ngân hàng, qua đó
ổn định thanh khoản hệ thống, kiểm soát tiền tệ, tạo điều kiện để giảm lãi suất trái phiếu chính phủ khoảng 0,78 - 1,41%/năm ở các kỳ hạn 5 - 30 năm
so với cuối năm 2019 và kéo dài kỳ hạn phát hành (tập trung ở kỳ hạn 10 -
15 năm, chiếm khoảng 80% khối lượng phát hành) trong năm 2020