Đánh giá rủi ro tại nơi làm việc là một quá trình diễn ra liên tục cần đượcthực hiện thường xuyên để xác định các mối nguy về sức khỏe và an toàn đồng thờixem xét tính hiệu quả và phù hợ
Trang 1BÙI VĂN QUÝ
ĐÁNH GIÁ RỦI RO VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT VÁN SÀN GỖ TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU
HẠN EIDAI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ AN TOÀN VÀ
SỨC KHỎE NGHỀ NGHIỆP
MÃ SỐ: 834 04 17
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS LÊ VÂN TRÌNH
HÀ NỘI, NĂM 2021
Trang 2Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sĩ “Đánh giá rủi ro và đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong phân xưởng sản xuất ván sàn
gỗ tại công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam” là công trình nghiên
cứu độc lập do tác giả thực hiện dưới sự hướng dẫn của GS.TS Lê Vân Trình Luận văn chưa được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào.
Các số liệu nội dung được trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, hợp lệ và đảm bảo tuân thủ các quy định về quyền sở hữu trí tuệ.
Tôi xin chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung của luận văn thạc sĩ.
Tác giả luận văn
Bùi Văn Quý
Trang 3Những kết quả thành công của luận văn theo hướng chăm sóc sức khỏe cholực lượng lao động trong các ngành nghề ở Việt Nam trong quá trình công nghiệphóa và hiện đại hóa; ngoài sự nổ lực của bản thân, là nhờ sự hỗ trợ của các cơ quan,
tổ chức và cá nhân
Trước hết tôi xin cảm ơn Trường Đại học Công đoàn đã tạo điều kiện tốt nhấtcho tôi được học tập và nghiên cứu Trong thời gian được đào tạo, tôi xin hết sứcbiết ơn các giáo sư, phó giáo và tiến sĩ đã truyền đạt những kiến thức và kinhnghiệm cho tôi; đặc biệt các cán bộ Khoa sau Đại học đã hết lòng giúp đỡ và tạo cácđiều kiện để tôi có thể triển khai các mục tiêu của đề tài trong thời gian sớm nhất
Tôi bày tỏ lòng biết ơn GS.TS Lê Vân Trình đã động viên và trực tiếp hướngdẫn cho tôi cụ thể các bước thực hiện luận văn và tạo mọi điều kiện thuận lợi đểluận văn của tôi được tốt nhất
Luận văn này không thể thành công nếu không được sự ủng hộ tích cực vànhiệt tình của Ban Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam đã tạođiều kiện cho tôi khảo sát, triển khai và thực hiện Vì vậy tôi rất cảm ơn và coi đây
là thành quả chung đã đạt được
Các số liệu và tư liệu trong luận văn tôi đã thu thập từ rất nhiều nguồn tư liệutrong và ngoài nước Tôi xin cảm ơn các tác giả, các cơ quan đã cho tôi cơ hội đượctrích dẫn trong luận văn
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình và bạn bè thân thiết đãđộng viên giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện Luận văn
Tôi mong rằng kết quả của nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần vào côngcuộc nâng cao sức khỏe người lao động nói chung; đặc biệt là ngành sản xuất và chếbiến gỗ nói riêng
Trang 4Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục bảng, biểu đồ, sơ đồ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Phương pháp nghiên cứu 3
4 Tính mới của đề tài 3
5 Kết cấu luận văn 3
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG 4 1.1 Khái niệm chung về đánh giá rủi ro 4
1.1.1 Mục đích của đánh giá rủi ro 4
1.1.2 Thuật ngữ 4
1.1.3 Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro 5
1.1.4 Thời điểm thực hiện đánh giá rủi ro 5
1.1.5 Những điều cần lưu ý khi đánh giá rủi ro 5
1.2 Các bước đánh giá rủi ro 6
1.3 Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm 9
1.3.1 Khái niệm chung 9
1.3.2 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm cơ học 11
1.3.3 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm điện 11
1.3.4 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm nổ 12
1.3.5 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm nhiệt 13
Trang 5hiểm hóa chất 13
1.4 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý rủi ro trong sản xuất 16
1.4.1 Đặt vấn đề 16
1.4.2 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài 16
1.4.3 Tổng quan các nghiên cứu trong nước 33
Tiểu kết chương 1 36
Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN EIDAI VIỆT NAM 37
2.1 Vài nét về về Công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam 37
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 37
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam 39
2.2 Thực trạng công tác tổ chức quản lý an toàn vệ sinh tại công ty trách nhiệm hữu hạn EIDAI Việt Nam 40
2.2.1 Bộ máy tổ chức công tác an toàn, vệ sinh lao động 40
2.2.2 Tình hình lao động tại cơ sở 42
2.2.3 Chế độ chính sách của công ty về An toàn, vệ sinh lao động 45
2.2.4 Lập kế hoạch An toàn, vệ sinh lao động hàng năm 47
2.2.5 Công tác tự kiểm tra An toàn vệ sinh lao động 48
2.2.6 Thực trạng kiểm soát rủi ro An toàn, vệ sinh lao động tại Công ty 52
2.2.7 Thực trạng công tác về trang bị bảo vệ cho người lao động 53
2.2.8 Thực trạng công tác tuyên truyền, huấn luyện An toàn vệ sinh lao động 54
2.2.9 Thực trạng công tác văn hóa An toàn, vệ sinh lao động tại Công ty 55
2.3 Tình hình môi trường, điều kiện làm việc, tai nạn lao động và bệnh tật tại Xưởng sản xuất Ván sàn gỗ tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam 57
2.3.1 Thông tin chung về Xưởng sản xuất ván sàn Gỗ 57
2.3.2 Tình hình tai nạn lao động tại Phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ 58
2.3.3 Tình hình vệ sinh lao động tại Phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ 59
Trang 7DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ATVSLĐ
HĐ ATVSLĐ BHLĐ
BNN BPKS ĐKLĐ ĐBNNĐHNH MTKK
MTLĐ NLĐ NNĐHNH NSDLĐ PTBVCN
TNLĐ TNHH
2.3.6 Đánh giá nguy cơ rủi ro cho phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ 66
2.4 Đánh giá chung 92
Tiểu kết chương 2 95
Chương 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG TRONG PHÂN XƯỞNG SẢN XUẤT VÁN SÀN GỖ TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN EIDAI VIỆT NAM 96
3.1 Các giải pháp kỹ thuật cải thiện điều kiện làm việc cho phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ 96
96 110 115 3.2 Giải pháp nâng cao tổ chức các phong trào quần chúng 116
3.3 Các giải pháp khác 119
Tiểu kết chương 3 120
KÊT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 121
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124
PHỤ LỤC
Trang 8Hội đồng an toàn, vệ sinh lao độngBảo hộ lao động
Bệnh nghề nghiệp
Biện pháp kiểm soát
Điều kiện lao động
Đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểmMôi trường không khí
Môi trường lao động
Trang 9Bảng 1.1 Bậc điểm chỉ số an toàn theo nguy cơ gây tai nạn lao động 10
Bảng 1.2 Phân loại an toàn sản xuất (G) theo mức (L) 11
Bảng 1.3 Bảng xác định độc cấp tính của hóa chất theo GHS 15
Bảng 1.4 Phân loại mức nguy hiểm của hóa chất tiếp xúc 15
Hình 2.1 Toàn cảnh công ty và một số vị trí làm việc 37
Bảng 2.1 Số liệu lực lượng Cơ cấu lao động của công ty 42
Bảng 2.2 Số liệu về lao động phân theo độ tuổi năm 2018 43
Bảng 2.3 Số liệu về lực lượng lao động phân theo trình độ chuyên môn năm 2018 44
Bảng 2.4 Chế độ trợ cấp 46
Bảng 2.5.Thống kê kết quả quan trắc môi trường lao động năm 2018 60
Bảng 2.6 Xác định tần suất xuất hiện rủi ro 66
Bảng 2.7 Xác định khả năng thương tích 66
Bảng 2.8 Xác định mức độ thương tích 67
Bảng 2.9 Xác định mức độ rủi ro 68
Bảng 2.10 Áp dụng đánh giá rủi ro cho các công đoạncủa phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ Công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam 69
Bảng 2.11 Các vị trí có mức rủi ro cao (Mức độ IV) 92
Bảng 2.12 Các vị trí có mức rủi ro trung bình (Mức độ III) 93
Bảng 2.13 Các vị trí có mức rủi ro thấp (Mức độ II) 94
Bảng 3.1 Giải pháp kinh tế-kỹ thuật giảm thiểu nguy cơ tại các vị trí rủi ro mức độ IV 97
Bảng 3.2 Giải pháp kinh tế kỹ thuật giảm thiểu nguy cơ tại các vị trí rủi ro mức độ III 110
Trang 10Biểu đồ 2.1 Lực lượng lao động phân theo giới tính năm 2018 42Biểu đồ 2.2 Lực lượng lao động phân theo tuổi năm 2018 43Biểu đồ 2.3 Lực lượng lao động phân theo trình độ chuyên môn năm 2018 44Biểu đồ 2.4 Tai nạn lao động tại Phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ giai đoạn
2012 – 201858Biểu đồ 2.5 Thống kê kết quả quan trắc môi trường lao động năm 2018 61
Sơ đồ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của công ty 39
Sơ đồ 2.2 Hội đồng an toàn vệ sinh lao động Công ty trách nhiệm hữu hạn
Eidai Việt Nam 40
Sơ đồ 2.3 Mô hình tác động kinh tế của văn hóa an toàn đến hoạt động của
Sơ đồ 2.4 Tổ chức sản xuất Phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ 57
Sơ đồ 2.5 Quy trình công nghệ sản xuất ván sàn gỗ 65
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình lao động, con người phải tiếp cận và chịu sự ràng buộc bởinhiều yếu tố của điều kiện lao động Chính những điều kiện lao động đã tạo nên mộtphần tính cách và có ảnh hưởng nhất định đến đời sống của mỗi người lao động Vìvậy, mỗi người sử dụng lao động đều có nhiệm vụ chung là đảm bảo sự an toàn vàsức khỏe cho người lao động trong mọi khía cạnh liên quan đến công việc của họ
Để thực hiện được các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo an toàn và bảo vệ sứckhỏe cho người lao động thì người sử dụng lao động cần thiết phải kiểm tra đánhgiá những điều gì có thể gây hại tới người lao động Quá trình đó giúp người sửdụng lao động ước lượng mức độ của rủi ro có từ các mối nguy, có xem xét các biệnpháp kiểm soát hiện có và quyết định xem rủi ro đó có thể chấp nhận được haykhông
Đánh giá rủi ro rất quan trọng và là một phần không thể thiếu của kế hoạchnhằm đảm bảo sức khỏe cho người lao động của doanh nghiệp Công tác kiểm tra,đánh giá nguy cơ gây ra rủi ro giúp người lao động và người sử dụng lao động nhậnthức được các mối nguy và mức độ rủi ro của những mối nguy ấy đồng thời cũngđịnh hướng những hành động, chương trình cần thiết để kiểm soát mối nguy Mụctiêu của quá trình đánh giá để kiểm soát mối nguy dẫn đến rủi ro, sau đó loại bỏ mốinguy đó hoặc giảm thiểu mức độ rủi ro của nó bằng cách bổ sung các biện phápkiểm soát nhằm tạo ra một nơi làm việc an toàn và lành mạnh hơn
Đánh giá rủi ro đó là một quá trình có hệ thống nhằm xác minh các mối nguy
và đánh giá mọi rủi ro liên quan tại nơi làm việc, sau đó thực hiện các biện phápkiểm soát hợp lý để loại bỏ hoặc giảm thiểu chúng
Đánh giá rủi ro tại nơi làm việc là một quá trình diễn ra liên tục cần đượcthực hiện thường xuyên để xác định các mối nguy về sức khỏe và an toàn đồng thờixem xét tính hiệu quả và phù hợp của các biện pháp kiểm soát hiện có, bổ sung cácbiện pháp mới nhằm giảm các tổn thất về tài chính (tiền phạt, hành động dân sự,v.v.), thời gian sản xuất, hư hỏng thiết bị, thời gian đào tạo nhân viên thay thế và dưluận tiêu cực
Hiện nay, Luật an toàn vệ sinh lao động yêu cầu các doanh nghiệp sử dụnglao động bắt buộc cần nghiên cứu, xây dựng kế hoạch để để kiểm tra, đánh giá nguy
Trang 12cơ gây ra rủi ro dẫn tới tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp ở vị trí làm việc củangười lao động, để kiểm soát các mối nguy bằng biện pháp kỹ thuật để cái tiến, bảo
hộ lao động, tuyên truyền, đào tạo, huấn luyện để kiểm soát, phòng ngừa, loại bỏ,thay thế với mục đích không gây nguy hiểm, không gây hại, đe dọa đến tính mạngngười lao động Muốn thực hiện được quy định này, tại mỗi doanh nghiệp phải thựchiện đánh giá rủi ro nhằm phân tích, phát hiện nguy cơ và đề ra các biện pháp kiểmsoát Nội dung này được quy định rất rõ trong điều 77 của luật An toàn, vệ sinh laođộng
Với những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “Đánh giá rủi ro và đề xuất giải pháp đảm bảo an toàn vệ sinh lao động trong phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ tại công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam” làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý an toàn và Sức khoẻ nghề nghiệp Bởi mỗi con người với giá trị
không thể thay thế là một con người với nhân cách riêng, không có ai lại đươngnhiên phải chịu tai nạn, chịu hy sinh bản thân rồi phải chịu nỗi đau về thể xác, tâmhồn trong cuộc sống hàng ngày Để không cho phép tai nạn với bất cứ ai tại nơi làmviệc, hoạt động công tác an toàn, vệ sinh lao động cần phải đẩy mạnh phong tràophòng chống tai nạn để toàn thể cán bộ, công nhân viên trong doanh nghiệp đượcđảm bảo sức khỏe bởi sức khoẻ là linh hồn, là gốc rễ của sự phát triển bền vững củamỗi doanh nghiệp Việt Nam hay mọi quốc gia trên thế giới
Đánh giá rủi ro gắn liền với mỗi công việc để nhằm phòng ngừa, xóa bỏ tainạn đề cao “lý tưởng” tôn trọng con người không chỉ đơn thuần là lý tưởng tinhthần Đó còn là “phương pháp” thực thi và triển khai lý tưởng đó một cách cụ thể, là
“thực hành” vận dụng phương pháp đó trong thực tế nhằm đáp ứng mong muốn củamỗi người lao động hay chính bản thân của chúng ta cảm thấy vui vẻ khi làm việchướng tới một tương lai giữa người lao động và người sử dụng lao động luôn luônhòa hợp xích lại gần gũi với nhau cùng phát triển Văn hóa an toàn của người sửdụng lao động luôn luôn quan tâm, chăm lo sức khỏe cho người lao động, cải thiệnmôi trường làm việc, đảm bảo môi trường làm việc đảm bảo sức khỏe cho người laođộng thì đáp lại người lao động muốn làm việc lâu dài và có nhiều đóng góp cải tiếnchất lượng và năng xuất trong quá trình sản xuất luôn được đảm bảo một cách bềnvững, người lao động luôn cảm thấy được thỏa mãn
Trang 132 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động và các nguy cơ rủi rocủa ảnh hưởng đến người lao động làm việc tại Phân xưởng sản xuất ván sàn gỗcông ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam
- Đề xuất được một số giải pháp giảm thiểu rủi ro nhằm đảm bảo an toàn chongười lao động
3 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hồi cứu tài liệu: các công trình nghiên cứu trong nước và các tài liệu có liên quan
+ Khảo sát môi trường và điều kiện làm việc của NLĐ tại công ty
+ Sử dụng bảng hỏi để phỏng vấn người lao động tại Phân xưởng ngẫu nhiên
- Phương pháp phân tích tổng hợp
4 Tính mới của đề tài
- Góp phần đánh giá được thực trạng công tác an toàn vệ sinh lao động củamột số doanh nghiệp chế biến và gia công vật liệu xây dựng ván sàn gỗ ở Việt Namtrong thời gian vừa qua;
- Giúp các cơ quan quản lý Nhà nước và các cấp Công đoàn xây dựng chươngtrình quản lý công tác đảm bảo an toàn vệ sinh lao động, phòng chống TNLĐ, BNN
và đảm bảo an toàn cho người lao động; Là tài liệu tham khảo cho cán bộ làm côngtác ATVSLĐ trong lĩnh vực chế biến và gia công vật liệu xây dựng ván sàn gỗ
ở Việt Nam
5 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về công tác an toàn, vệ sinh lao động
Chương 2: Thực trạng công tác an toàn, vệ sinh lao động tại công ty trách nhiệm hữu hạn Eidai Việt Nam
Chương 3: Đề xuất giải pháp nhằm hạn chế tác hại đến người lao động trong phân xưởng sản xuất ván sàn gỗ công ty trách nhiệm hữu hạn Việt Nam
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC AN TOÀN VỆ SINH LAO ĐỘNG
1.1 Khái niệm chung về đánh giá rủi ro
1.1.1 Mục đích của đánh giá rủi ro
Mục đích của việc đánh giá rủi ro là cung cấp các số liệu kỹ thuật để xâydựng một hệ thống đánh giá rủi ro nhằm kiểm soát mức độ nguy hiểm có thể chấpnhận, từ đó phòng ngừa các thảm hoạ công nghiệp
1.1.2 Thuật ngữ
- Biến cố: Một sự kiện không mong muốn làm cho một rủi ro có thể, hoặc đãtrở thành một tai nạn gây thiệt hại về vật chất và/hoặc con người như chấn thương,bệnh tật, và thiệt hại về tài sản Sự kiện này bao gồm cả những tình huống gần như
là tai nạn nhưng không gây mất mát về người hoặc vật chất
- Tai nạn: Hình thành do không thể xóa bỏ hoàn toàn một mối nguy hiểm vàtạo ra một nguy cơ có thể dẫn đến những hậu quả không mong muốn Đây là một sựviệc, sự kiện bất ngờ, có thể gây ra tử vong, chấn thương, bệnh tật, hoặc các thiệt hại về tài chính khác
- Mối nguy hiểm: Tác nhân gây hại/nguy hiểm tiềm tàng, có thể là một hoặcmột tổ hợp các nhân tố (yếu tố), gây ra các thương tổn cho con người, thiệt hại vềvật chất, hoặc hư hại môi trường Cần có một tác nhân kích thích để trở thành một
vụ tai nạn Các tác nhân này bao gồm các sự cố về máy móc, điều kiện hệ thốnghoặc tác nhân con người, và do các nguyên nhân về vật lý, hoá học, sinh học, tâm lý
và hành vi
- Xác định mối nguy hiểm: Việc xác định các tác nhân vật lý và hoá họcnguy hiểm tiềm tàng trong một hệ thống gây ra các tổn thương cho con người, cácthiệt hại về môi trường hoặc tài sản
- Nguy cơ: Tình trạng lâm vào một mối nguy hiểm
- Rủi ro: Xét sự trầm trọng hoặc mức độ nguy hiểm Khi một mối nguy hiểmxuất hiện trong một tình huống nguy hiểm, khả năng (xác suất) mối nguy hiểm đótrở thành mộbiến cố kết hợp với mức độ nghiêm trọng của hậu quả của nó (mức độ thiệt hại) được gọi là một rủi ro
Trang 15- Đánh giá Rủi ro: Là phương thức đánh giá nguy cơ một cách khoa học và
hệ thống, cho phép đánh giá mức độ rủi ro tiềm tàng của một mối nguy hiểm trởthành một vụ tai nạn (tức là, xác suất xảy ra và mức độ thiệt hại) Khi một rủi rovượt quá mức có thể chấp nhận, các phương pháp giảm rủi ro sẽ được tính toán vàmức rủi ro sẽ được giảm xuống ở mức có thể chấp nhận
- Rủi ro có thể chấp nhận: Là một rủi ro nằm dưới mức có thể chấp nhận nhưquy định từ trước theo các yêu cầu về an toàn của luật pháp và hệ thống
- An toàn: Mặc dù thuật ngữ này có thể được hiểu là "không còn mối nguyhiểm" nhưng trên thực tế, đây là điều không thể thực hiện được trong một hệ thốngxây dựng và trên công trường Do vậy, thuật ngữ "An toàn" được định nghĩa mộtcách thực tế là việc quản lý rủi ro tiềm tàng của một mối nguy hiểm ở mức có thểchấp nhận
1.1.3 Tầm quan trọng của việc đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro nhằm:
- Phòng ngừa tai nạn và tổn hại sức khoẻ
- Dự đoán được các tai nạn và thảm hoạ tiềm tàng
- Quản lý an toàn lao động một cách hiệu quả
- Xây dựng hệ thống quản lý an toàn lao động tại nơi sản xuất
1.1.4 Thời điểm thực hiện đánh giá rủi ro
- Trước khi bắt đầu một công việc mới
- Khi cần thay đổi hoạt động xây dựng
- Khi sử dụng phương thức xây dựng hoặc vật liệu mới
- Khi đánh giá định kỳ mức độ rủi ro của một loại hình công việc trước đó
- Khi xảy ra tai nạn hoặc thảm hoạ nghiêm trọng
1.1.5 Những điều cần lưu ý khi đánh giá rủi ro
Để tính toán mọi rủi ro tại nơi sản xuất, cần thiết lập trước một danh sáchmục tiêu đánh giá, và mọi điều kiện không an toàn, các hoạt động và việc thực hiệnquản lý của mỗi mục tiêu đều phải được đánh giá
Việc đánh giá do những người giám sát thực hiện có thể không đầy đủ Do
đó, nhóm đánh giá phải bao gồm cả người lao động tiếp xúc trực tiếp với các nguyhiểm tại các vị trí sản xuất
Trang 16Quy trình xác định mối nguy hiểm có thể được thực hiện thông qua mộtphiên thảo luận lấy ý kiến giữa các thành viên trong nhóm Tuy nhiên, để đưa ranhững kinh nghiệm thực tế về một tình huống gần như là tai nạn hoặc một tìnhhuống nguy hiểm, đặc biệt là từ một người lao động tiếp xúc trực tiếp với nguy cơnày thì cần có một báo cáo về một tình huống gần như là tai nạn thực sự.
Xác xuất (khả năng xảy ra) và cường độ (mức độ nghiêm trọng của tai nạnhoặc mức độ thiệt hại) cũng như mức rủi ro có thể chấp nhận phải được nhóm đánhgiá rủi ro quyết định trước phù hợp với quy mô sản xuất và loại hình công việc đượcthực hiện
Tất cả các dữ liệu liên quan đến nguy cơ của quá trình tổ chức phải đượccung cấp cho những người đánh giá Nếu không thu thập đủ dữ liệu cho việc đánhgiá thì cần phải có sự tư vấn của chuyên gia
Các phương pháp giảm rủi ro phải được tính toán trên cơ sở đảm bảo tiêuchuẩn hợp lý thấp nhất có thể sau khi đã tính đến hiệu quả kinh tế và kỹ thuật
1.2 Các bước đánh giá rủi ro
Chia công việc thành từng bước tiến hành
Phải chia nhỏ công việc sẽ tiến hành thành những bước thực hiện nhỏ hơn,theo trình tự trước sau Các bước chia không nên quá chi tiết mà bỏ qua những bướcchính, những bước cần thiết hoặc các hành động phát sinh.Các bước tiến hành thực
sự rành rọt và liên quan cụ thể trực tiếp tới từng diễn biến cũng như mức độ nguyhiểm đang, sẽ và có thể xảy ra khi tiến hành công việc
Nhận diện những mối nguy hiểm, xác định mức độ rủi ro
+ Mối nguy: Bất cứ cái gì, điều gì có thể gây thương tích cho con người, làm
hư hỏng tài sản và hủy hoại môi trường đều là mối nguy hiểm Các mối nguy hiểm
có thể hiện hữu hoặc không hiện hữu Thông thường các vật dụng, đồ dùng, dụng
cụ, máy móc vv chúng đều là những mối nguy hiểm
+ Phân loại mối nguy: Để tiện phân tích, người ta chia mối nguy thành ba
loại - mối nguy vật chất, mối nguy đạo đức và mối nguy tinh thần
Mối nguy vật chất: Tình trạng vật chất yếu kém làm tăng khả năng xảy ra mất mát
Trang 17Tình trạng đường giao thông ở Việt Nam ta là ví dụ sống động về mối nguyvật chất Một số nơi đèn đường không đủ sáng, có ổ gà, việc phân luồng phân tuyếncho xe chạy không hợp lý là những mối nguy làm cho tai nạn xảy ra thường xuyênhơn.
Mối nguy đạo đức: Sự không trung thực của một cá nhân nào đó làm tăng khả năng xảy ra mất mát
Ví dụ có người mua bảo hiểm cho căn nhà của mình rồi gây hỏa hoạn để lấytiền bồi thường, hay một người biết mình bị ung thư nhưng vẫn khai là sức khỏe củamình tốt để mua bảo hiểm và được bồi thường
Mối nguy tinh thần: Sự bất cẩn hay thờ ơ của một cá nhân dẫn đến mất mát
vì người này chủ quan cho rằng mình đã mua bảo hiểm
Ví dụ, một người cứ nghĩ mình đã có bảo hiểm nên cứ phóng xe ào ào giữa phố đông người mặc dù thỉnh thoảng trong người có hơi men
+ Mức độ nguy hiểm: Nếu so sánh giữa một chiếc xe máy chạy trên đường
với vận tốc 50km một giờ và một chiếc ô tô cùng vận tốc thì rõ ràng chiếc ô tô gây
ra một mức độ nguy hiểm cao hơn chiếc xe máy Hoặc so sánh cùng một chiếc ô tô
ở 2 vận tốc khác nhau thì ta thấy chiếc xe nào chạy nhanh hơn sẽ có mức độ nguyhiểm cao hơn Mặt khác nếu một chiếc xe chở nhiều người gây ra tai nạn thì mức độthiệt hại sẽ cao hơn so với chiếc xe đó gây tai nạn khi chỉ chở ít người
Mức độ nguy hiểm chính là hậu quả gây ra bởi một sự cố hoặc tai nạn nào đó
+ Tần suất nguy hiểm: Khi tôi đi qua một đoạn đường vắng thì chắc chắn tôi
sẽ an toàn hơn đi qua một đoạn đường đầy xe lưu thông Lượng xe càng nhiều thìkhả năng va chạm của tôi càng cao Cũng như thế nếu như tôi làm việc gì đó nhiềulần trong một khoảng thời gian nhất định, khả năng gặp nguy hiểm sẽ tăng lên
Tần suất nguy hiểm tỷ lệ thuận với những lần tiếp xúc với các thiết bị làm việc hoặc những mối nguy hiểm trong công việc đó
+ Rủi ro: Rủi ro chính là sự kết hợp giữa mức độ nguy hiểm và tần xuất xảy
ra hoặc có thể xảy ra
Rủi ro = Mức độ nguy hiểm x Tần suất có thể xảy ra
Theo nhiều nhà phân tích, rủi ro chỉ phát sinh khi có một sự không chắc chắn
về mất mát sẽ xảy ra.Với khái niệm về rủi ro này, nếu xác suất mất mát là 0 hoặc 1,thì không có rủi ro
Trang 18Nói đến rủi ro không thể bỏ qua khái niệm về xác suất hay là khả năng xảy ramất mát Xác suất khách quan - còn gọi là xác suất tiên nghiệm được xác định bằngphương pháp diễn dịch.
Ví dụ như đồng tiền sấp hay ngửa thì xác suất của nó là 50%
Ngoài xác suất khách quan, có thể kể thêm xác suất chủ quan là ước tính củatừng cá nhân đối với khả năng xảy ra mất mát
Trong khi đó, mối nguy được xem là tác nhân làm tăng khả năng xảy ra mấtmát.Nếu như hỏa hoạn được xem là hiểm họa thì dầu lửa trong khu vực hỏa hoạnđược xem là mối nguy
Những câu hỏi thường dùng trong quá trình đánh giá rủi ro:
Một quy tắc rất chung là xác định các thông tin: Ai? Làm gì ? Ở đâu ? Khi nào? và Làm như thế nào ?
- Có thực sự cần thiết tiến hành công việc này hay không?
- Công việc này đã từng được thực hiện hay chưa?
- Có cách nào khác thực hiện công việc này hay không?
- Ai tham gia làm việc này?
- Có yêu cầu đặc biệt gì về thể chất, điều kiện sức khỏe cho người tiến hành công việc không?
- Dụng cụ và thiết bị nào sẽ liên quan tới quá trình thực hiện?
- Khi nào bắt đầu công việc, và khi nào kết thúc công việc?
- Điều kiện thời gian và thời tiết có ảnh hưởng gì đến quá trình thực hiệnhay không?
- Có công việc nào cùng thực hiện tại địa điểm đó?
- Yêu cầu kỹ thuật nào cho công việc này?
- Các cách liên lạc cũng như trao đổi thông tin?
- Điều gì sẽ xảy ra nếu thay đổi tiến trình công việc?
- Những mối nguy hiểm nào đang hiện hữu tại khu vực sẽ tiến hành công việc?
- Những mối nguy hiểm nào có thể xảy ra khi công việc đang tiến hành?
- Những mối nguy hiểm tiềm ẩn nào có thể xuất hiện khi bị tác động bởi những hành vi có thể liên quan?
Trang 19- Mức độ tác động của các mối nguy hiểm tới công việc, người thực hiện công việc và môi trường làm việc?
- Làm thế nào để cách ly những mối nguy hiểm đã được nhận diện?
- Làm thế nào để ngăn ngừa hoặc giảm thiểu tối đa những rủi ro cho người thực hiện cũng như môi trường làm việc?
- Trách nhiệm thực thi thuộc về ai?
- Trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân nào? Cụ thể và chi tiết yêu cầu kỹ thuật
1.3 Đánh giá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm
1.3.1 Khái niệm chung
An toàn và tai nạn lao động là hai mặt đối lập của quá trình sản xuất, chúngluôn luôn song song tồn tại và tác động qua lại lẫn nhau, khi tai nạn lao động cao thìmức độ an toàn của sản xuất là thấp và ngược lại Chính vì vậy đánh giá rủi ro chính
là để quản lý an toàn cho một đối tượng trong sản xuất (máy móc thiết bị và quátrình công nghệ), có thể hoặc là thông qua đánh giá, kiểm soát tình hình TNLĐ xảy
ra ở đối tượng, hoặc đánh giá, kiểm soát mức độ an toàn của đối tượng
Tuy nhiên việc đánh giá, kiểm soát tình hình TNLĐ xảy ra ở đối tượngthường có hạn chế lớn là những số liệu đánh giá chỉ thuần túy mang tính thống kê,không xét tới quá trình tích lũy tiềm tàng dẫn tới các tai nạn và đặc biệt khó khăntrong việc lượng hóa các nguyên nhân gây ra tai nạn.Từ những phân tích trên, cũngnhư dựa trên quan điểm hiện nay về an toàn, một phương pháp khác để đánh giá antoàn sản xuất phù hợp hơn đã được nghiên cứu đưa ra và đó là phương pháp "Đánhgiá rủi ro trong sản xuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm"
Trước hết cơ sở phương pháp luận của phương pháp "Đánh giá rủi ro trong sảnxuất theo nhóm các yếu tố nguy hiểm" là dựa trên việc giám sát an toàn của đối tượng,
thông qua đánh giá trực tiếp chỉ thị an toàn với nguyên tắc: Nguy cơ sự cố TNLĐ tối thiểu - An toàn sản xuất tối đa và như vậy là hoàn toàn phù hợp với quan điểm về an
toàn hiện nay Hơn nữa đây còn là một xu thế chung và khá phổ biến nhằm phát hiệnsớm các trạng thái nguy hiểm gây TNLĐ và đặc biệt thực sự có ý nghĩa tích cực trongviệc góp phần ngăn ngừa TNLĐ trong sản xuất ở nước ta hiện nay khi mà nền sản xuất
ở nước ta còn ở trình độ thấp, máy móc thiết bị cũ mới đan xen
Trang 20Bảng 1.1 Bậc điểm chỉ số an toàn theo nguy cơ gây tai nạn lao động
Bậc điểm Nguy cơ xuất hiện và tác động của các yếu tố nguy hiểm
chỉ số AT
1 Rất nguy hiểm, nguy cơ xảy ra tai nạn rất cao: Tồn tại vùng nguy hiểm với
sự tác động thường xuyên, liên tục của các yếu tố nguy hiểm
2 Không an toàn, có nguy cơ xảy ra tai nạn lao động: Tồn tại vùng nguy
hiểm và các yếu tố nguy hiểm có thể tác động một cách bất kỳ
An toàn, song cần phải có biện pháp bổ sung, hoàn thiện: Có thể xuất hiện
3 vùng và tác động của các yếu tố nguy hiểm nếu như không có các biện
4 không còn tồn tại vùng nguy hiểm
- Có thể xuất hiện yếu tố nguy hiểm gây chấn thương cơ học như: Kẹp hayđứt ngón tay khi thao tác cấp phôi thủ công trên máy đột dập, nhưng do cólắp đặt cơ cấu bảo vệ (an toàn) như: Tay gạt, tế bào quang điện v.v máy sẽ
tự động dừng khi đưa tay vào và như vậy sẽ không còn vùng nguy hiểm
Rất an toàn: Không xuất hiện những yếu tố nguy hiểm cũng như tồn tại vùng nguy hiểm Ví dụ:
5 - Các thiết bị, máy móc hoặc quá trình công nghệ được khép kín và tự
động hoàn toàn
- Không tồn tại nhóm yếu tố nguy hiểm nào đó
Nguồn: Tác giả
Trang 21Bảng 1.2 Phân loại an toàn sản xuất (G) theo mức (L)
sản xuất (G)
Rất kém Có 1 trong 5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn I
Kém Có 1 trong 5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn II
Tối thiểu 3/5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn III và khôngĐạt có nhóm nào ở mức II hoặc I
Tối thiểu 3/5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn IV và hoặcTốt V và không có nhóm nào ở mức II hoặc I
4/5 nhóm yếu tố nguy hiểm ở mức an toàn V và không có nhómRất tốt nào ở mức III, II hoặc I
Nguồn: Tác giả
1.3.2 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm cơ học
Nơi cóyếu tố nguy hiểm cơ học:
- Các bộ phận, cơ cấu truyền động (đai truyền, bánh răng, trục khuỷu )
- Các bộ phận chuyển động quay với vận tốc lớn (đá mài, cưa đĩa, bánh đà, máy li tâm, trục máy tiện, máy khoan, trục cán ép )
- Các bộ phận chuyển động tịnh tiến (búa máy, máy đột dập, đầu máy bào, máy xọc, máy phay )
- Các mảnh dụng cụ, vật liệu gia công văng bắn (phoi, bụi vật liệu gia công hoặc các mảnh dụng cụ gẫy vỡ như: đá mài, dao cắt gọt, lưỡi cưa v.v )
- Vật rơi từ trên cao, gãy sập đổ các kết cấu công trình
- Trơn, trượt, ngã v.v
- Gây chấn thương do cắt, cuốn kẹp, va đập ở các cơ cấu truyền động;
- Gây chấn thương do văng bắn các mảnh dụng cụ hoặc vật liệu gia công
- Gây chấn thương do trơn trượt ngã, hoặc do sập đổ kết cấu
1.3.3 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm điện
Nơi có yếu tố nguy hiểm điện:
Trang 22- Tiếp xúc với các bộ phận kim loại của máy móc, thiết bị đã bị rò điện chạm vỏ.
- Tiếp xúc va chạm vào các vật mang điện như: dây trần, mối nối dây điện, cầu dao, cầu chì, các bộ phận dẫn điện của thiết bị để hở v.v
- Do điện áp bước, người đi vào vùng có dòng điện loang tản trong đất nhưkhi dây điện đứt một đầu rơi chạm đất, dây cáp điện ngầm bị hở v.v
- Do phóng điện hồ quang khi người và dụng cụ máy móc làm việc ở gần nguồn cao áp
Nguy cơ nguy hiểm
- Điện giật gây tổn thương cơ thể, thậm chí chết người
- Chập điện gây cháy nổ tổn thất lớn về người và tài sản
- Bỏng do phóng điện hồ quang
- Sét đánh trục tiếp, sét đánh lan truyền gây tổn thất cho công trình và thiết bị
1.3.4 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm nổ
Nơi có yếu tố nguy hiểm nổ:
- Các cơ sở sản xuất, cung ứng và sử dụng các thiết bị áp lực như nồi hơi,nồi hấp, nồi chưng cất; bình chai khí nén; máy nén khí Các hệ thống ống dẫn môichất có áp suất cao như ống dẫn hơi, khí đốt
- Các đơn vị sản xuất và sử dụng các loại vật liệu nổ công nghiệp: thuốc nổ,kíp nổ, dây cháy v.v
- Ngành công nghiệp xăng dầu, khí đốt (kho tàng, cửa hàng, phương tiện vận tải vận chuyển )
Nguy cơ nguy hiểm
- Nguy cơ nổ: do xu thế cân bằng áp suất của các thiết bị chịu áp lực kèm
theo sự giải phóng năng lượng lớn, khi điều kiện độ bền của thiết bị không đảm bảo
đã dẫn đến hiện tượng nổ Hiện tượng nổ TBAL có thể đơn thuần là nổ vật lý nhưngcũng có khi là sự kết hợp giữa hai hiện tượng nổ xảy ra liên tiếp đó là nổ hoá học và
nổ vật lý (công sinh ra tăng hàng chục lần)
- Nguy cơ bỏng: do những nguyên nhân khác nhau như xì hở môi chất, nổ vỡ
thiết bị, tiếp xúc với các bộ phận có nhiệt độ cao không được bọc hoặc hư hỏngcách nhiệt, hoặc do vi phạm chế độ vận hành, vi phạm quy trình xử lý sự cố v.v đều có thể dẫn tới hiện tượng bỏng (nóng hoặc lạnh)
Trang 23Cả hai nguy cơ nổ và bỏng không chỉ dẫn tới những sự cố, tai nạn trầm trọngđối với con người, mà còn có thể gây ra những tổn thất to lớn về của cải, vật chất(máy móc, thiết bị; công trình xây dựng và môi trường ).
1.3.5 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm nhiệt
Nơi có yếu tố nguy hiểm nhiệt:
- Làm việc trong môi trường nhiệt độ cao, hoặc thấp như thi công xây dựng cầu, đường; làm việc trong các buồng kho đông lạnh bảo quản và chế biến thực phẩm
- Các khu vực sản xuất gia nhiệt ở các lò công nghiệp như lò nung, lò nhiệt luyện, lò nấu kim loại
- Hệ thống đường ống dẫn hơi khí nóng hoặc lạnh; hoá chất cháy ở điều kiện
tự nhiên, các bộ phận sinh hơi và chứa hơi, các buồng đốt (than, dầu, ga )
- Các công đoạn và nguyên công trong công nghệ hàn điện, hàn hơi, hàn plasma, rèn nóng, đúc kim loại nấu chảy v.v
Nguy cơ nguy hiểm
Xì hở, rò rỉ các môi chất truyền thể hơi, khí, lỏng gây bỏng nóng hoặc lạnh đối với cơ thể
Văng bắn ngọn lửa, tia lửa vật nung nóng hoặc nấu chảy gây cháy đối với môi trường xung quanh và gây bỏng cho con người
Sốc nhiệt đối với cơ thể gây choáng hoặc ngất
1.3.6 Nhận dạng và kiểm soát rủi ro trong sản xuất - nhóm có các yếu tố nguy hiểm hóa chất
Các con đường hóa chất xâm nhập vào con người: hóa chất chỉ có thể gây
nguy hiểm và ảnh hưởng đến sức khỏe con người khi chúng xâm nhập vào cơ thể
Có ba con đường chính hóa chất có thể xâm nhập vào cơ thể con người
- Hóa chất xâm nhập vào cơ thể con người qua con đường hô hấp: là con đường khí,hơi, bụi hóa chất bị phổi hấp thu
- Hóa chất xâm nhập vào cơ thể khi con người tiếp xúc hóa chất qua da vàmắt: Khi hóa chất dạng rắn – lỏng – khí tiếp xúc cơ thể qua da hoặc mắt, hóa chất
có thể làm tổn thương da tại nơi tiếp xúc hoặc hấp thu qua da thấm vào máu gâynguy hiểm cho cơ thể
- Hóa chất xâm nhập vào cơ thể con người qua con đường tiêu hóa: điều này
có thể xảy ra khi hóa chất bị đổ vào thức ăn, đồ uống, hoặc hóa chất bị dính vào râu,
Trang 24tay hay thuốc lá Cũng có thể xảy ra trường hợp hóa chất xâm nhập qua đường tiêuhóa khi hít phải các bụi hóa chất vào họng và nuốt nó Khi hóa chất đi vào cơ thểqua đường tiêu hóa, một số hóa chất sẽ ngấm vào máu rồi đi khắp cơ thể ảnh hưởngđến cơ quan nội tạng như gan, thận … hoặc hệ thần kinh.
Các dạng hóa chất xâm nhập vào cơ thể: trong quá trình lao động, người
lao động thường xuyên phải tiếp xúc với các loại hóa chất dạng chất rắn, lỏng, bụi,hơi, khí, sợi, khói và sương Đối với những hóa chất dạng rắn và lỏng, người laođộng có thể nhận biết được Nhưng đối với các hóa chất dạng bụi và sương ngườilao động chỉ phát hiện được khi chúng có kích thước hạt lớn, nồng độ cao Các hóachất dạng hơi và khí, người lao động thường không nhận biết được, trừ một số loại
có mùi
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ rủi ro khi tiếp xúc hóa chất:
Mức độ độc của hóa chất: hóa chất càng độc, càng có nhiều khả năng gây racác vấn đề về sức khỏe, ngay cả với một lượng nhỏ Tổ chức GHS đã phân loại mức
Phản ứng hoặc tương tác với các hóa chất khác: một số hóa chất có thể kếthợp với nhau tạo thành một chất khác nguy hiểm hơn so với chất gốc ban đầu Hoặcmột số hóa chất xâm nhập vào cơ thể có thể kết hợp với một số thói quen của ngườilao động (ví dụ hút thuốc) mà làm tăng mức độ nguy hiểm
Cá nhân người lao động (sức khỏe hiện tại, tuổi, giới tính, phụ nữ mang thaihoặc cho con bú): do khả năng chịu đựng của người già và trẻ em hoặc phụ nữmang thai thường yếu hơn so với người trưởng thành, nên mức độ nguy hiểm củahóa chất đối với đối tượng này thường cao hơn
Trên đây là những dữ liệu cơ bản cho việc đánh giá rủi ro tiếp xúc hóa chất.Nhưng trên thực tế, các dữ liệu này không phải có sẵn hoặc dễ dàng thu thậpđược.Trong thực tiễn xây dựng các ma trận xác định rủi ro liên quan đến tính mạngcon người, một cách định tính, có thể được xác định dựa trên mức độ độc hại của
Trang 25hóa chất, khối lượng hóa chất người lao động tiếp xúc, đặc tính hóa lý như dạng rắn,lỏng hay khí, khả năng bay hơi… và cường độ tiếp xúc.
Nguy cơ nguy hiểm
Hệ thống hài hoà toàn cầu về phân loại và ghi nhãn hoá chất - GloballyHarmonized System of Classification and Labeling of Chemicals (viết tắt GHS) là
hệ thống toàn cầu được xây đựng và thừa nhận bởi Liên Hợp Quốc.Hệ thống nàyđược xây dựng để thay thế cho các hệ thống phân loại và ghi nhãn hoá chất khácnhau giữa các quốc gia nhằm mục đích thống nhất phù hợp trên phạm vi toàn cầu.Việc phân loại sự nguy hiểm hóa chất theo tính độc, khả năng phản ứng cũng nhưtính chất vật lý của hóa chất theo GHS được phổ biến trên toàn cầu Các dữ liệu vềhóa chất được rất nhiều nước sử dụng trong quá trình đánh giá rủi ro liên quan đếnhóa chất
Bảng 1.3 Bảng xác định độc cấp tính của hóa chất theo GHS
Trang 261.4 Tổng quan các nghiên cứu về quản lý rủi ro trong sản xuất
1.4.1 Đặt vấn đề
Vào giữa thế kỷ XVII, khái niệm “risk/rủi ro” lần đầu tiên xuất hiện ở VươngQuốc Anh với nghĩa được hiểu là sự không chắc chắn có thể xuất hiện trong các kếhoạch hay dự định ban đầu, dẫn đến khả năng xuất hiện một số điều đó có tác động(tích cực hay tiêu cực) tới các khía cạnh của quá trình sản xuất, kinh doanh và dịch
vụ Tổng kết từ nhiều nghiên cứu của các tác giả trên thế giới, khái niệm về quản lýrủi ro có thể được định nghĩa như sau: “Quản lý rủi ro là một quá trình xác định,đánh giá và xếp hạng các rủi ro có thể xảy ra mà qua đó thì các biện pháp hữu hiệu
và nguồn tài nguyên cần thiết được lựa chọn và áp dụng vào thực tế để hạn chế, theodõi và kiểm soát các khả năng xuất hiện và/hoặc các tác động của các sự kiện không
dự báo trước”
Trên thế giới đã có nhiều khoa học như Martin Barnes, D.F Cooper, D.H.MacDonald và C.B.Chapman, H.Ren, He Zhi,… đóng góp thành tựu to lớn trongquá trình nghiên cứu về rủi ro và quản lý rủi ro (QLRR) Đồng thời, theo quan điểmnghiên cứu về rủi ro khi xảy ra, QLRR được xem xét trên khía cạnh dự báo và cókhả năng đề phòng được
1.4.2 Tổng quan các nghiên cứu của nước ngoài
1.4.2.1 Tại Hoa Kỳ
Ovidi Cretu và các tác giả, trong cuốn sách 285 trang, nghiên cứu về QLRRcho thiết kế và xây dựng trình bày khái niệm về sự không chắc chắn và rủi ro của dựán; phân tích rủi ro qua việc tác động của nó đến kết quả của việc thực hiện dự án
và giúp nhà quản lý dự án có thể lên kế hoạch chuẩn bị để đối phó rủi ro dự án
Nigel J.Smith và các tác giả, nghiên cứu về rủi ro, QLRR trong các dự ánxây dựng Theo tác giả, QLRR là quá trình hiểu rõ về dự án và đưa ra một quyếtđịnh tốt nhất cho QLDA trong tương lai và quá trình liên tục phòng tránh, giảmthiểu, chấp nhận hoặc chuyển giao rủi ro và phát hiện ra các cơ hội tiềm năng…
Cục an toàn lao động Mỹ đã đề xuất đánh giá cácyếu tố nguy hại phát sinhtrong quá trình khai thác dầu khí như sau:
- Va chạm giữa các phương tiện di chuyển: người lao động (NLĐ) và thiết bịthường xuyên di chuyển vào và ra từ các giàn khoan Các giàn khoan thường nằm ởnhững nơi xa nên quãng đường mà người và phương tiện phải di chuyển khá dài
Trang 27mới tới được nơi khai thác Các phương tiện cao tốc khi va chạm nhau thường dẫnđến tai nạn hoặc tử vong cho công nhân khai thác Theo thống kê về tai nạn nghềnghiệp chết người thì cứ 10 người chết trong ngành khai thác dầu khí thì có tới 4người chết vì tai nạn do va chạm giữa các phương tiện giao thông.
- Bị va đập, bị kẹt, bị kẹp: cứ 5 người tử vong tại nơi khai thác dầu khí thì cótới 3 người bị chết do bị va đập, bị kẹt hoặc bị kẹp bởi thiết bị NLĐ có thể tiếp xúcvới các mối nguy hại trên từ rất nhiều nguồn khác nhau như thiết bị di chuyển, thiết
bị rơi, đổ hoặc thiết bị cao áp
- Cháy nổ: NLĐ trong ngành khai thác dầu khí phải đương đầu với nguy cơcháy nổ do cháy các hơi khí dễ bốc cháy Các loại hơi khí dễ cháy là khí từ giếng
khoan, hơi và khí H2S từ giếng khoan, từ xe tải, các thiết bị sản xuất, các thiết bị trênmặt đất như bồn chứa, máy sàng đá phiến dầu Các nguồn phát lửa như: tĩnh điện, cáctia lửa điện, ngọn lửa, thuốc lá, cắt, hàn, các bề mặt nóng và nhiệt do ma sát
- Rơi: NLĐ có thể phải làm việc trên cao trên giếng khoan Cục ATLĐ yêucầu phải trang bị cho NLĐ các phương tiện chống ngã cao từ cột tháp, tháp khoanhoặc các các thiết bị ở trên cao
- Không gian kín: NLĐ thường phải làm việc trong không gian kín như: cácbồn chứa dầu, hầm bùn, hầm dự trữ và các khu vực đào tạo hầm, con-ten-nơ chứacát và các không gian kín khác xung quanh miệng giếng Các yếu tố nguy hại gâymất an toàn gắn với không gian kín như: hơi và khí dễ cháy Các yếu tố nguy hại tớisức khỏe như các chất khí gây ngạt và hóa chất độc Các không gian kín chứa hoặc
có nguy cơ chứa các yếu tố nguy hại cần phải làm rõ như: đã có giấy phép vào làmviệc chưa? đã kiểm tra trước khi cho NLĐ vào làm việc chưa? Và phải giám sát suốtquá trình làm việc
- Điện và các nguồn có năng lượng: NLĐ có thể tiếp xúc với các nguồn điệnkhông được kiểm soát, các thiết bị cơ khí, thủy lực và các nguồn nguy hại khác màkhông được thiết kế, lắp đặt và bảo dưỡng đúng cách Các biện pháp kiểm soát hànhchính khác cũng cần phải xây dựng và thực hiện để đảm bảo an toàn; Ví dụ quytrình vận hành thiết bị Trên cơ sở các rủi ro đó, Cục ATLĐ Mỹ đưa ra một số lờikhuyên để lập kế hoạch và phòng ngừa như sau:
* Phải biết được các yếu tố nguy cơ Đánh giá nguy cơ tại chỗ làm việc Một
số công ty khai thác dầu khí sử dụng phương pháp đánh giá Phân tích quy trình an
Trang 28toàn công việc (gọi tắt tiếng Anh là JSA - Job Safety Analysis) để nhận diện các yếu
tố nguy hại và tìm giải pháp;
* Xây dựng biện pháp bảo vệ NLĐ bao gồm xây dựng và thực hiện các biện pháp thực hành an toàn cho:
- Không gian kín; công việc đào đất;
- Công việc có nhiệt độ cao, hàn, cắt bằng ngọn lửa;
- Làm việc nơi nóng bức, ca kíp nhiều giờ;
* Cung cấp phương tiện BVCN Khi các giải pháp kỹ thuật thuần túy khôngthể bảo vệ được NLĐ trong tiếp xúc quá mức với hóa chất, tiếng ồn hoặc các yếu tốnguy hại khác thì NSDLĐ phải cung cấp PTBVCN cho NLĐ
* Phổ biến các thông tin về các yếu tố nguy hại và phải tập huấn cho NLĐ;
* Phải có kế hoạch an toàn cho nhà thầu và tổ chức tập huấn cho họ
1.4.2.2 Tại Anh
Nghiên cứu QLRR của Chapman, C.B và Ward, Stephen, trong cuốn sáchnghiên cứu về quy trình, kỹ thuật và thông tin dự án trong QLRR dự án Tác giảnhận thấy rủi ro là những yếu tố gây sai lệch so với kế hoạch đề ra, đồng thời trìnhbày chín giai đoạn QLRR của phương pháp luận là: định nghĩa, mục tiêu, nhậnđịnh, cấu trúc, sở hữu, ước tính, đánh giá, khai thác và quản lý…
Roger Flanacan và George Nornam, nghiên cứu QLRR trong xây dựng đã chỉ
ra rằng: ngành xây dựng là đối tượng có nhiều rủi ro và bất định hơn các ngànhkhác, rủi ro được nghiên cứu từ nhiều góc độ và rủi ro mang cả yếu tố tiêu cực lẫntích cực và quá trình QLRR gồm 4 bước: xác định, phân loại, phân tích, phản ứngvới rủi ro
Các bước đánh giá rủi ro theo Roger Flanacan và George Nornam là:
1) Xác định : xác định các mối nguy hiểm và rủi ro
Trang 292) Phân loại: xác định ai có thể gặp rủi ro
3) Phân tích: đánh giá rủi ro định tính hoặc định lượng về các mối nguy4) Phản ứng với rủi ro: thực hiện các phương pháp quản lý rủi ro (bằng cách loại bỏ mối nguy hiểm hoặc giảm mức độ rủi ro của nó)
Luis F.Alarcón và cộng sự, nghiên cứu đề xuất quan điểm, trong các công ty
có từ 50 nhân viên trở lên, phải được thông báo và tư vấn về một loạt các vấn đề,một số vấn đề liên quan cụ thể đến sức khỏe và an toàn Chúng bao gồm: điều kiệnlàm việc, cụ thể là thời gian làm việc; sự ra đời của công nghệ mới; và tất cả nhữngthay đổi quan trọng ảnh hưởng đến sức khỏe và an toàn và điều kiện làm việc trong
đó, nhấn mạnh đến nhiệm vụ của người sử dụng lao động là đảm bảo sự an toàn vàbảo vệ sức khỏe, cả về thể chất và tinh thần cho nhân viên của họ Trong số nhữngthứ khác, người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải lập một bản đánh giá rủi ro bằngvăn bản, tài liệu đánh giá rủi ro duy nhất, phải được cập nhật ít nhất hàng năm Sửdụng lao động trong khu vực tư nhân phải chỉ định một nhân viên có thẩm quyền đểđối phó với phòng ngừa và bảo vệ rủi ro, và nếu các kỹ năng phù hợp không có sẵntrong lực lượng lao động, các chuyên gia bên ngoài có thể được sử dụng
Đặc biệt, trong các công ty có từ 50 nhân viên trở lên, người sử dụng laođộng phải: phân tích điều kiện làm việc và các mối nguy hiểm nghề nghiệp mà nhânviên phải đối mặt (đặc biệt là phụ nữ mang thai);
- Giúp cải thiện khả năng tiếp cận của phụ nữ với tất cả các nghề nghiệp, giảiquyết các vấn đề liên quan đến thai sản và giúp làm cho người khuyết tật có thể tiếpcận được công việc;
- Hỗ trợ tất cả các sáng kiến nhằm ngăn chặn bắt nạt và quấy rối tình dục, cũng như hành vi phân biệt giới tính;
- Ở Pháp một điều dễ nhận thấy sự khác nhau rõ rệt giữa các doanh nghiệpnhà nước và tư nhân Một nghiên cứu gần đây của Bộ Lao động cho thấy, 93% cácdoanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân có hơn 250 nhân viên đã xây dựng Tài liệu duynhất Con số này giảm xuống 75% trong các bệnh viện công và 33% trong những cơquan hành chính địa phương
Liên quan đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, một cuộc điều tra do INRS công bố vào năm 2015, chỉ ra rằng 90% doanh nghiệp vừa và nhỏ (hơn 10 nhân
Trang 30viên) đã bắt đầu xây dựng Tài liệu duy nhất, trong khi đó chỉ có 46% doanh nghiệpnhỏ dưới 10 nhân viên thực hiện quy định này.
Cuộc khảo sát thứ hai đối với các doanh nghiệp ở Châu Âu về những rủi romới nổi (2014-2015) cho thấy, 76% các công ty của 28 nước thuộc Liên minh Châu
Âu đã tiến hành đánh giá rủi ro nghề nghiệp
Theo các nhà nghiên cứu, đánh giá rủi ro không phải là công việc cuối cùng
mà là sự khởi đầu cho một cách tiếp cận phòng ngừa đúng đắn Thường thì khi tiếnhành đánh giá, người ta bắt đầu bằng những câu hỏi liệu có thể loại bỏ được nhữngnguy hiểm ở nơi làm việc hay không? Nếu không thì cần những biện pháp kỹ thuật,
tổ chức… nào để ngăn chặn những rủi ro cho NLĐ
Theo thống kê thì khoảng một phần tư các doanh nghiệp đã không đưa ramột kế hoạch hành động nào cho việc ước tính những rủi ro nghề nghiệp, tuy nhiêntất cả các cơ quan nghiên cứu như Bộ Lao động, INRS, cơ quan châu Âu về an toàn
và sức khỏe tại nơi làm việc cho thấy từ nhiều năm nay đã có nhiều cải thiện ngay
cả đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Tỷ lệ các doanh nghiệp duy trì và phát triểnviệc đánh giá những rủi ro nghề nghiệp cũng như đưa ra biện pháp phòng ngừ ngàymột gia tăng Đặc biệt những doanh nghiệp của Pháp có hơn 50 nhân viên đã rấtnghiêm túc trong việc đánh giá rủi ro trong những bước phòng ngừa của họ
Tuy nhiên, trên thực tế, công việc này được thực hiện bởi một nhóm đangành và tiêu tốn thời gian nhưng nó đã khắc họa được một bức tranh rõ ràng vàkhách quan về những rủi ro mà NLĐ phải đối mặt từ đó để xác định và phân tíchmột cách tường tận những rủi ro để có những ưu tiên thích hợp
Tiêu chuẩn của ILO-OSH 2001/OHSAS 18001 đặt ra việc đánh giá rủi ronghề nghiệp là trung tâm của hệ thống quản lý sức khỏe và an toàn tại nơi làm việc
Do đó, những doanh nghiệp có thể áp dụng những kết quả đánh giá rủi ro trong kho
dữ liệu này Từ đó đưa ra những chính sách an toàn và xác định mục tiêu và xâydựng kế hoạch hành động
1.4.2.4 Tại Nhật Bản
Các cộng sự nghiên cứu về Luật xây dựng và thực tiễn ở Nhật Bản so sánhvới Hoa Kỳ Chia sẻ rủi ro giữa chủ đầu tư và nhà thầu được quy định chi tiết trongđiều khoản hợp đồng chứ không phải như ở Hoa Kỳ đòi hỏi phải chuyển tất cả cácrủi ro từ nhà thầu sang chủ đầu tư
Trang 31Luật An toàn và Sức khỏe Công nghiệp (Luật ISH) của Nhật Bản yêu cầunhững bất thường trong việc đánh giá sức khỏe của người lao động và môi trườnglàm việc được báo cáo cho các bác sĩ nghề nghiệp và chủ nhân được khuyên nên sửdụng các biện pháp để đảm bảo thích hợp trong môi trường làm việc và quy trìnhlàm việc.
Vào năm 2005, Các nghiên cứu về đánh giá rủi ro tại nơi làm việc của viện
An toàn công nghiệp Tokyo đã đề xuất quy định đánh giá rủi ro tại nơi làm việcbằng cách qui định trách nhiệm của người sử dụng lao động Sau khi sửa đổi, nhiềutài liệu và hướng dẫn đánh giá rủi ro cho các quy trình làm việc khác nhau đã đượcphát triển Họ yêu cầu Luật ISH phải được thực thi đầy đủ và nơi làm việc để lập kếhoạch và thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu rủi ro, xếp hạng chúng nhằm giảiquyết các mối nguy tiềm ẩn cho NLĐ Một cuộc khảo sát của chính phủ năm 2005cho thấy hiệu suất của đánh giá rủi ro là 20,4% và lý do phổ biến cho việc khôngthực hiện đánh giá rủi ro là thiếu nhân sự hoặc kiến thức đầy đủ Từ đó, theo Luậthợp đồng lao động ban hành năm 2007, người sử dụng lao động có nghĩa vụ phải nỗlực hợp lý để đảm bảo sức khỏe của nhân viên đối với những rủi ro có thể thấytrước và có thể tránh được
1.4.2.5 Tại Tây Ban Nha
M.Pilar de la Cruz và cộng sự, đã nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả quytrình quản lý nguy cơ rủi ro tại nới làm việc do cơ quan công vụ Tây Ban Nha gồmcác bước xác định và phân tích các rủi ro, đồng thời, xác định các phản ứng rủi rotiềm ẩn
Nguyên tắc cơ bản theo M.Pilar de la Cruz là nhân viên có quyền tham giavào các vấn đề sức khỏe và an toàn và, một khi có sáu nhân viên trở lên, điều nàyđược thực hiện thông qua các Hội đồng phòng ngừa (và ủy ban sức khỏe và an toàntrong các công ty lớn hơn)
Nhiệm vụ chính của các Hội đồng phòng ngừa là:
- Làm việc với NSDLĐ để cải thiện hành động về phòng ngừa rủi ro;
- Thúc đẩy và khuyến khích sự hợp tác của nhân viên trong việc áp dụng các quy định về sức khỏe và an toàn;
- Giám sát việc tuân thủ các quy định về sức khỏe và an toàn;
Được NSDLĐ hỏi ý kiến trước về các vấn đề sau:
Trang 32- Tổ chức công việc và lập kế hoạch trong công ty, bao gồm giới thiệu công nghệmới và tác động đến sức khỏe và an toàn của NLĐ;
- Tổ chức các biện pháp phòng ngừa rủi ro và sức khỏe và an toàn trong công
ty, bao gồm việc bổ nhiệm các chuyên gia về sức khỏe và an toàn hoặc lựa chọnmột cơ quan an toàn và sức khỏe bên ngoài để ký hợp đồng;
-Chỉ định nhân viên chịu trách nhiệm phản ứng với các trường hợp khẩn cấp;
- Cung cấp thông tin sức khỏe và an toàn cho nhân viên phụ trách ATVSLĐ;
- Đào tạo về sức khỏe và an toàn cho nhân viên phụ trách ATVSLĐ
1.4.2.6 Tại Đức
Nước Đức là quốc gia khởi xướng ra cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4(2013) Vì thế, đối với nước Đức, Việc làm 4.0 (Work 4.0) yêu cầu phải có công tácPhòng ngừa 4.0 (Prevention 4.0)
Nghiên cứu của Viện Bảo hộ lao động quốc gia Đức (BAuA) gần đây đã chỉ
ra rằng, số hóa, toàn cầu hóa, thay đổi nhân khẩu học và sự linh hoạt ngày càng tăngcủa công việc là những xu hướng đang hình thành nên thế giới việc làm trong thờigian gần đây
Sự phát triển của các công nghệ và kỹ thuật mới có thể thay đổi các hình thứchiện có của công việc hoặc tạo ra những hình thức công việc mới Yếu tố tác độnglớn nhất của những thay đổi này là công nghệ thông tin Số hóa nói chung và ICTtoàn cầu làm nền tảng để kết nối các quy trình sản xuất và dịch vụ phân tán suốt24/24 giờ
Hệ quả đối với người lao động là sự tương tác giữa con người và máy móc
đã đạt đến một mức độ phức tạp mới
- Con người trở thành một phần của hệ thống được tích hợp và có điều khiển.Theo đó, tuy con người nhường quyền tự trị cho hoạt động điều khiển số, nhưngcùng lúc đó con người phải dò tìm lỗi và tương tác lại các lỗi đó Điều này khôngchỉ áp dụng cho các quy trình chế tạo mà còn cho cả các quy trình phục vụ
- Các công nghệ mới có thể giúp kiến tạo nên môi trường công việc lànhmạnh và thân thiện với con người Những khả năng này bao gồm: chuyển các côngviệc có đòi hỏi khắt khe về mặt thể chất tới các hệ thống sản xuất tự tổ chức; cách lycấp độ vật lý người lao đông khỏi môi trường nguy hại nhờ các hệ thống điều khiển
từ xa; hoặc tự quyết định khi nào làm việc, làm việc ở đâu, làm việc như thế nào vàthậm chí là cả nội dung công việc
Trang 33Các khía cạnh chính của vấn đề được BAuA nghiên cứu bao gồm:
- Giảm bớt các nhiệm vụ thường xuyên: những nhiệm vụ thường xuyên cóthể giao phó cho các hệ thống kỹ thuật Tuy nhiên, vẫn cần đến con người ở các hệthống được điều khiển từ xa và các hệ thống sản xuất tự tổ chức, đặc biệt trongtrường hợp sự cố hoặc các sự kiện không có trong kế hoạch Các đầu ra có thể cócủa hệ thống giám sát là các giai đoạn đơn điệu đòi hỏi mức độ tập trung cao có thểđột nhiên chuyển thành hàng loạt các sự kiện khẩn cấp
- Làm việc trong các hệ thống phức hợp đòi hỏi các mức độ cao hơn về lập kếhoạch, tổ chức và phối hợp, điều này làm cho công việc trở nên phức tạp hơn Khôngđơn giản chỉ là phản ứng lại các tín hiệu Cần nắm vững cách thức hệ thống hoạt động
để từ đó đưa ra những quyết định đúng đắn (suy nghĩ có hệ thống) Tuy nhiên, điều nàyđem lại rủi ro quá tải do liên tục phải tập trung và chú ý vào công việc
- Bù đắp những khác biệt và hạn chế của con người thông qua việc sử dụngcác hệ thống kỹ thuật và hệ thống ảo tạo nên cầu nối ngôn ngữ và văn hóa và chophép có thể sử dụng được những lao động có khiếm khuyết về thể trạng Tuy nhiên,ảnh hưởng của những lỗi kỹ thuật đến con người có thể đặc biệt nghiêm trọng, ví dụnếu trường hợp không hiểu các cảnh báo hay khi các hệ thống hỗ trợ gặp trục trặc
- Các quy trình làm việc không còn bị giới hạn bởi thời gian và vị trí làmviệc Sự linh hoạt này giúp đạt kết quả công việc dễ dàng hơn, đồng thời duy trìđược sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống, nhưng cùng lúc cũng có thể dẫn đến
sự xóa mờ ranh giới giữa cuộc sống riêng tư và cuộc sống công việc từ đó cổ súycho thái độ tự gây nguy hiểm Việc tự quản lý đòi hỏi người lao động phải có trình
độ cao về “kỹ năng sức khỏe”
- Các quy trình làm việc ảo tạo điều kiện thuận lợi cho việc phối hợp giữanhững người không làm việc gần kề với những người khác Tuy nhiên, nếu việcgiao tiếp bị giới hạn ở “kênh kỹ thuật số” và thiếu đi nhận thức cảm nhận trực tiếp
về tình huống ở một địa điểm khác, thì có thể sẽ khó khăn khi đưa ra những quyếtđịnh trực giác Con người sẽ có cảm nhận về sự chia cắt bởi chẳng có bất cứ điều gì
“được nghe, được chạm vào hoặc được cảm nhận” Các vòng lặp phản hồi khôngchính thức đang mất dần, trải nghiệm tri thức và sự tự tin bị mất đi trong những tìnhhuống không theo kế hoạch Từ đó người lao động có thể mất đi sự nhận biết về ýnghĩa của chính những hành động của họ
Trang 34- Tiếp cận thông tin “ở bất cứ nơi đâu, bất kỳ lúc nào và ở bất kỳ chi tiếtnào” có thể làm cho công việc trở nên dễ dàng hơn Tính thời sự và lượng thông tinđầu ra được xác định bởi năng lực kỹ thuật Tuy nhiên, khả năng của con ngườitrong việc xử lý thông tin này vẫn rất hạn chế Ngoài ra, việc sử dụng công nghệviễn thông hiện đại thường gắn liền với những kỳ vọng sẽ làm tăng hiệu năng (ví dụnhư thời gian trả lời những yêu cầu của khách hàng nhanh hơn), điều này dẫn đến
sự tăng cao về cường độ công việc
- Giao diện người-máy có thể được tạo nên một cách an toàn hơn và mangtính egônômi hơn thông qua việc sử dụng các công nghệ mới Tuy vậy, điều này chỉ
có được nếu những yêu cầu của con người như sự chú ý và nhận thức cảm nhậnđược xem như nhân tố quan trọng trong sự phát triển sản phẩm và thiết kế các hệthống làm việc Không còn là thời mà chỉ cần xem những khía cạnh kỹ thuật và khảnăng chịu lỗi như một phần của giao diện người - máy
Đồng thời BAuA cũng chỉ ra những hệ quả đối với công tác phòng ngừa:
- Hơn bao giờ hết, công tác phòng ngừa tại nơi làm việc phải chú ý đến hệthống công việc như một tổng thể (con người, tổ chức, công nghệ) Những đánh giárủi ro và các biện pháp về an toàn vệ sinh lao động không thể bị giới hạn ở “nhữngđiểm kiểm soát tới hạn” nào đó Trong giai đoạn lập kế hoạch của một hệ thốngcông việc (các quy trình, thiết bị, giao diện…), việc dự tính tới sự an toàn và sứckhỏe của người lao động cũng như những nhu cầu của con người có tầm quan trọngđặc biệt Một điều đặc biệt quan trọng nữa là cũng cần dự tính tới các khía cạnh vềtuổi tác và giới tính
- Với thực trạng là một hệ thống công việc phức tạp và việc ảo thể hiếm khi
có thể được thay đổi khi đang vận hành, thiết kế công việc thân thiện với người sửdụng bằng những công nghệ mới chỉ có thể thực hiện được khi sự an toàn và sứckhỏe của mọi người được tính đến trong các quy trình lập kế hoạch và phát triển hệthống công việc
Theo đó, những khía cạnh cần thiết của công tác phòng ngừa phải bao gồm:
- Đánh giá các điều kiện làm việc phải thật toàn diện, mang tính tổng quát và
có tính toán lâu dài Điều này có nghĩa là việc đánh giá phải kết hợp được các khíacạnh cả về thể chất và tâm lý cũng như xét tới những phát triển về mặt kỹ thuật
- Công tác phòng ngừa bắt đầu ở giai đoạn phát triển Các chuyên gia vềphòng ngừa làm việc trong suốt quá trình phát triển kỹ thuật Kết quả là việc ứng
Trang 35dụng công nghệ hoặc máy móc phải được đánh giá một cách đầy đủ, không chỉ ở riêng các khía cạnh về kỹ thuật.
- Ở những tình huống cụ thể, các tiêu chí để đánh giá các công nghệ mới cầnphải được xác định lại Việc làm này bao gồm thiết kế một bản phân tích phòngngừa về những ảnh hưởng của lỗi hoặc vận hành sai trên kết quả tổng thể và tai nạn rủi ro
- Trong các hoạt động phụ thuộc nhiều vào việc truyền thông, việc phòngngừa thuộc về quản lý truyền thông là nơi toàn bộ lượng thông tin được cắt giảmđến mức chỉ thông tin quan trọng cho nhiệm vụ mới được đi qua Các giải pháp tạinơi làm việc phải được phát triển nhằm đảm bảo các khoảng thời gian nghỉ ngơi vàhồi phục sức khỏe
- Công tác phòng ngừa hỗ trợ các công ty trong việc lập kế hoạch và tiếnhành đào tạo tập huấn để người lao động có thể làm việc an toàn với hệ thống côngnghệ, và họ tự đánh giá điều kiện làm việc của mình, bên ngoài các hoạt động đánhgiá của công ty Hoạt động này cũng được hỗ trợ bởi các hướng dẫn của công ty vớinhững quy tắc và nội quy rõ ràng
Hầu như không thể biết được các rủi ro và nguy cơ có thể nảy sinh đối vớicon người trong hệ thống sản xuất tự tổ chức khi chúng không tính đến con ngườihoặc thậm chí là coi con người như một yếu tố gây cản trở
Công tác phòng ngừa phải tìm ra câu trả lời cho những câu hỏi sau:
- Những thay đổi về công nghệ và tổ chức công việc có thể được phát triển rasao để trở nên “thân thiện với con người”?
- Công tác an toàn vệ sinh lao động đối với công việc linh động hoặc di chuyển sẽ như thế nào để giữ gìn sức khỏe cho người lao động?
- Làm thế nào để đạt được cùng mức độ về an toàn vệ sinh lao động cho mọi người lao động không kể tới hình thức công việc của họ?
- Ban quản lý công ty phải thiết kế và cấu trúc các quy trình quản lý và kiểmsoát trong tương lai như thế nào để thực hiện được đầy đủ mọi trách nhiệm liênquan đến an toàn và sức khỏe?
- Các kênh thông tin trao đổi để giải quyết vấn đề của người lao động nào được xem là có triển vọng?
Trang 36- Những quy định bảo hiểm tai nạn xã hội có thể tiếp tục phát triển các kháiniệm phòng ngừa ra sao để vẫn phát huy được hiệu quả trong thế giới việc làm kỹthuật số, công nghệ cao và linh hoạt?
1) Thiết kế công việc cần phải được tiến hành sớm Nếu không thể can thiệp
“bằng tay” trực tiếp vào các quy trình sản xuất và con người chủ yếu giữ chức năngđiều khiển, thì việc thiết kế máy móc theo hướng an toàn và sức khỏe sẽ là tráchnhiệm của bộ phận phát triển Công tác an toàn vệ sinh lao động đóng vai trò chínhyếu trong công tác phòng ngừa bằng cách tương tác với các nhà phát triển sảnphẩm, các nhà thiết kế mạng lưới và các nhà lập kế hoạch pháp triển Khi đó côngtác an toàn vệ sinh lao động mới có thể phòng ngừa một cách hiệu quả tai nạn vàcác nguy cơ trong thế giới việc làm đã được số hóa
2)Một đánh giá rủi ro chỉ xét đến các khía cạnh cá nhân sẽ không phát huy hiệuquả trong thế giới việc làm kỹ thuật số Mặt khác, một đánh giá rủi ro tổng quát phảixét đến tất cả các yếu tố rủi ro và tương tác của chúng Do vậy, đây sẽ là công cụ chophép các công ty khởi xướng một quy trình cải tiến không ngừng, cũng như phát triển
và tiến hành thực hiện các giải pháp linh hoạt và có tính đặc thù của công ty
3) Các công ty không được phép bỏ mặc người lao động làm việc linh động
và tự quản Theo Luật An toàn Sức khỏe Đức, các công ty phải chịu trách nhiệm vềvấn đề an toàn và sức khỏe cho người lao động Điều quan trọng trên hết là banquản lý cần chủ động xây dựng các điều kiện khuôn khổ theo hướng tăng cường antoàn và sức khỏe cho người lao động tại nơi làm việc
4) Các công ty cũng chịu trách nhiệm về việc cải thiện kỹ năng/hiểu biết vềsức khỏe cho người lao động Điều này có nghĩa là cho phép họ, nếu cần, tự thiết kếcho mình điều kiện làm việc lành mạnh Việc làm này là cực kỳ phù hợp khi công tykhông có kết nối trực tiếp tới người lao động và môi trường của họ
5) Một nền văn hóa phòng ngừa thiết lập tốt tại doanh nghiệp chính là nềntảng để đạt được những mục tiêu kể trên Một nền văn hóa phòng ngừa bền vững cóthể nhìn thấy khi bản thân người lao động coi trọng giá trị thực chất trong nhữnghành động và thái độ về an toàn và sức khỏe Đây là cách thức duy nhất để côngviệc trong tương lai được thiết kế theo con người và sự nghiếp số hóa công việcđược thực hiện thành công
Trang 376) Dịch vụ “Phòng ngừa 4.0” là di động, linh hoạt và được kết nối mạng, chỉ thực hiện được khi các công ty và người lao động quan tâm một cách thực chất.
7) Mục đích của việc kiểm tra và tham vấn do Bảo hiểm Tai nạn Xã hội Đứcthực hiện là để tăng cường năng lực và sự tự nguyện của các công ty trong việc thiếtlập một nền văn hóa phòng ngừa tốt, cũng như khả năng tự phân tích và thích ứngvới những yêu cầu và đòi hỏi mới
1.4.2.7 Tại Nga
Artem Aleshin, nghiên cứu vấn đề QLRR của các dự án quốc tế và liêndoanh với 8 dự ánhợp tác của nước ngoài tại Nga Tác giả đã xác định, phân loại vàđánh giá những rủi ro vốn có của các dự án chung ở Nga và đưa ra 5 khuyến nghịthực tiễn cho việc QLRR:
- Tăng mức độ an toàn; sử dụng hiệu quả hơn một hành động để giảm rủi ro lớn hơn thì hành động đó càng hiệu quả
- Kết quả của tỷ lệ; càng nhiều rủi ro và sự an toàn của càng nhiều người bị ảnh hưởng bởi hành động thì hành động đó càng hiệu quả
- Đạt mục tiêu; sẽ rất hiệu quả để thực hiện phép đo nếu một người làm nhưvậy có thể sửa chữa những thiếu sót dẫn đến việc các mục tiêu theo luật định và tưnhân hoặc nhóm quan tâm không thể được thực hiện
- Một hoạt động trơn tru hơn; nếu công việc do hậu quả của hành động đượcthực hiện dễ dàng hơn thì đáng để thực hiện ngay cả khi tác động đến sự an toàn tạinơi làm việc không được đánh giá cao
- Hiệu quả chi phí; các phép đo tốt nhất không nhất thiết phải đắt tiền.Thường có kết quả đáng chú ý đạt được bằng cách thực hiện các thay đổi nhỏ vớichi phí ít hơn
Đánh giá rủi ro tốt dựa trên đánh giá tổng thể, dẫn đến mức tăng an toàn liêntục Việc duy trì và cải thiện mức độ an toàn đòi hỏi phải theo dõi và phát triển liêntục của tổ chức
Trang 38hiện tại 08 doanh nghiệp Kết quả thu được cho thấy trong hầu hết các trường hợp,thái độ của người tham gia tại các doanh nghiệp đều hướng tới việc góp phần vào sự
an toàn, về tổng thể đều mang tính tích cực như: phát triển các quy trình và thựchành an toàn, quy trình làm việc và hướng dẫn an toàn bằng văn bản, cung cấp trangthiết bị bảo hộ lao động, v.v… Nghiên cứu cũng xác định những thiếu hụt quantrọng về an toàn như thiếu chính sách an toàn; huấn luyện an toàn chưa đầy đủ vàyêu cầu về gánh nặng công việc hàng ngày thiếu thực tế Các kết quả đo đạc chothấy điều kiện về môi trường làm việc khác nhau giữa các doanh nghiệp cũng nhưgiữa các ngành công nghiệp Các mối nguy hiểm chính được xác định vượt quá giớihạn phơi nhiễm nghề nghiệp như: bụi gỗ trong ngành công nghiệp chế biến gỗ, hóachất và tiếng ồn trong chế biến gỗ và ngành công nghiệp cơ khí, chiếu sáng trongngành cơ khí, công nghiệp nhựa và in ấn Các tác giả đã xây dựng bộ công cụ đánhgiá rủi ro linh hoạt và đã triển khai thành công tại tất cả các doanh nghiệp vừa vànhỏ được kiểm tra, đồng thời nhận được phản hồi tích cực từ các doanh nghiệp coiđây như một công cụ có thể được áp dụng và phù hợp cho các doanh nghiệp vừa vànhỏ vẫn còn hạn chế về kỹ năng và nguồn lực
Mục tiêu của nghiên cứu này là đánh giá các điều kiện làm việc hiện tại củacác doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Estonia và sự tuân thủ luật pháp về An toàn và Vệsinh lao động của EU tại các doanh nghiệp này, nhằm hướng sự chú ý đến tầm quantrọng của việc đánh giá rủi ro giống như một công cụ thiết thực và quen thuộc trongviệc quản lý thành công công tác An toàn và Vệ sinh lao động
Các mục tiêu chính bao gồm: (a) Xác định và đánh giá các nguy cơ rủi ronghề nghiệp phổ biến (vật lý, hóa học và sinh học) trong các doanh nghiệp vừa vànhỏ tại Estonia; (b) Điều tra thái độ và nhận thức của người sử dụng lao động vàngười lao động đối với công tác An toàn Vệ sinh lao động; (c) Xác định cách giảiquyết các vấn đề về An toàn Vệ sinh lao động và; (d) khảo sát khả năng sử dụngcông cụ đánh giá nguy cơ rủi ro linh hoạt (FRA) tại các doanh nghiệp vừa và nhỏnhằm hỗ trợ cho người sử dụng lao động xác định mức độ rủi ro từ các mối nguyhiểm hiện hữu
Phần đầu của bài viết giới thiệu ngắn gọn về tài liệu và phương pháp được sửdụng trong các nghiên cứu và khái niệm về công cụ FRA Phần tiếp theo trình bàycái nhìn phân tích tổng quan về các rủi ro nghề nghiệp, nâng cao nhận thức của
Trang 39người sử dụng lao động và người lao động về vấn đề an toàn Ở phần cuối cùng, cáctác giả trình bày những trở ngại chính, các vấn đề vẫn đang diễn ra cũng như cáckhía cạnh quan trọng của hệ thống An toàn và Vệ sinh lao động hiện nay tại cácdoanh nghiệp nhỏ và vừa ở Estonia.
1.4.2.9 Tại Hàn Quốc
J.W Seo và Hyun Ho Choi, nghiên cứu phương pháp đánh giá tác động antoàn dựa trên rủi ro cho các dự án xây dựng tàu điện ngầm ở Hàn Quốc Tác giả chorằng sự an toàn của các công trình xây dựng có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tốkhác nhau như loại và quy mô dự án, phương pháp thi công, quy trình quản lý antoàn, khí hậu, địa điểm…
Tại Pháp, Luật số 91-1414 ngày 31/12/1991 (Điều L.4121-3 của Bộ luật Laođộng) đã quy định rõ ràng NSDLĐ đều đã tiến hành đánh giá rủi ro nghề nghiệptrong môi trường làm việc của từng nhân viên Nhiệm vụ này được chính thức hóavào năm 2001 theo Nghị định số 2001-1016 ngày 05/11/2001 (Điều R.4121-1 của
Bộ luật Lao động), trong đó NSDLĐ phải tuân thủ các kết quả đánh giá rủi ro ghitrong Tài liệu duy nhất Theo đó mỗi tổ chức, không phân biệt lĩnh vực và quy môhoạt động đều phải đánh giá những rủi ro và soạn thảo Tài liệu này Đặc biệt, tốithiểu hằng năm phải cập nhật những thay đổi quan trọng ảnh hưởng tới điều kiện, antoàn và sức khỏe của NLĐ Tuy nhiên, các công ty có ít hơn 11 nhân viên có thể ápdụng một số quy định mà không cần phải tuân theo những yêu cầu nêu trên
Ngoài ra, luật pháp cũng không bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiệncác phương pháp cố định trong việc đánh giá rủi ro nghề nghiệp Nói chung, cácphương pháp tiếp cận đánh giá chủ yếu theo 3 giai đoạn:
- Thiết lập một nhóm công tác và xác định các đơn vị cần đánh giá
- Xác định những rủi ro và phân tích những nguy hiểm
- Ước tính những nguy hiểm có thể xẩy ra
1.4.2.10 Tại Canada
Quy định của Quebec về An toàn và Sức khoẻ Nghề nghiệp (Regulationrespecting Occupational Health and Safety- ROHS) định nghĩa một không gian hạnchế là bất kỳ khu vực kín tuyệt đối hoặc tương đối nào mà không được thiết kế đểcon người làm việc, hoặc không dự định để làm việc, nhưng có thể thỉnh thoảngđược sử dụng để tiến hành công việc Người lao động do đó có thể phải xâm nhập
Trang 40một không gian ví dụ như: (i) không phải là nơi làm việc, (ii) bị hạn chế thao tác và(iii) xuất hiện rủi ro với sức khoẻ và an toàn.
Vấn đề khi làm việc trong không gian hạn chế xuất hiện trong rất nhiều khu
vực và ngành nghề: đô thị, sản xuất, hoá chất, quân đội, nông nghiệp, xây dựng và
vận chuyển.Những không gian hạn chế phổ biến nhất trong công nghiệp là các loại
bể chứa, hồ chứa, xilô, thùng, hố ga, hố, cống, đường ống và các xe tải hoặc ô tôbồn chứa có những đặc điểm như đã được định nghĩa trong các quy định Người laođộng khi thâm nhập vào các không gian hạn chế để tiến hành bảo dưỡng, sản xuấthoặc các nhiệm vụ khác (ví dụ như công nghiệp xây dựng)
Những nguy cơ an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp chủ yếu là dưỡng khí, sinhhọc, thể chất và economics Những rủi ro đối với người lao động làm việc trongnhững không gian hạn chế này là cao do hạn chế về không gian, thông gió tự nhiênkhông đầy đủ, phải làm việc cách ly và các vấn đề tiếp cận, giải cứu và trao đổithông tin Hơn nữa, những tai nạn lại thường hay xuất hiện trong những không gianhạn chế Tại Quebec, là ví dụ, từ năm 1998 đến 2011, 40 ca tử vong xuất hiện trong
32 tai nạn khi làm việc trong không gian hạn chế, chiếm khoảng 4% trong tổng sốcác trưởng hợp tử vong trong báo cáo điều tra của Ủy ban tiêu chuẩn, công bằng,sức khỏe và làm việc an toàn (CNESST)
Quy định của Quenbec về làm việc trong không gian hạn chế liên quan tớitrình độ người lao động, cách xác định nguy cơ, kiểm soát khí quyển, giám sát thâmnhập và các quy trình giải cứu Canada có một tiêu chuẩn cho không gian làm việchạn chế: CSA Z1006 – Quản lý Làm việc trong Những Không gian Hạn chế Thực
tế, trước khi bắt đầu làm việc trong một không gian hạn chế, một người có đủ trình
độ cần phải tiến hành đánh giá rủi ro để đưa ra các biện pháp ngăn ngừa và giảmthiểu rủi ro
Mục tiêu của nghiên cứu này là để góp phần phòng ngừa tai nạn tại khônggian hạn chế bằng cách giúp các doanh nghiệp áp dụng những quy định hiện hành.Hai mục tiêu cụ thể là (i) nâng cao nhận thức về quản lý rủi ro không gian hạn chế
và xác định các vấn đề dựa trên lý thuyết và quan sát hiện trường và (ii) phát triểnmột công cụ phân tích rủi ro không gian hạn chế và phân loại nghề nghiệp phù hợpvới các nhu cầu được đặt ra trong giai đoạn đầu tiên của dự án